Xu Hướng 2/2024 # 9 Bài Văn Thuyết Minh Về Một Món Ăn Hay Nhất # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 9 Bài Văn Thuyết Minh Về Một Món Ăn Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Việt Nam là đất nước luôn nằm trong top những thiên đường ẩm thực của thế giới với rất nhiều món ăn ngon, dân giã, đơn giản mà lại vô cùng đặc sắc. Đây cũng là một đề tài rất hay và sôi nổi trong văn thuyết minh đối với các bạn học sinh. Vậy việc trình bày một món ăn dưới dạng văn thuyết minh như thế nào? Mời các bạn tham khảo một số bài văn thuyết minh về một món ăn mà chúng mình tổng hợp trong bài viết sau.

Thuyết minh về món: Bánh chưng

Ngày xửa ngày xưa vua Hùng muốn nhường lại ngôi vua của mình cho các con nên đã truyền cho hoàng tử nào dâng lên vua những vật có ý nghĩa và lạ nhất thì có thể thay vua trị vì đất nước. Khi ấy Lang Liêu đã làm ra hai loại bánh trong đó có bánh chưng tượng trưng cho trái đất. Và khi bánh chưng có từ ngày đó, loại bánh này có ý nghĩa gì mà con người Việt Nam chúng ta lại coi nó là một trong ba đồ sử dụng trong ngày tết?

Về truyền thuyết của bánh chưng thì chúng ta biết nó ra đời trong sự kiện vua Hùng Vương nhường ngôi cho các con trai của mình. Ông vua ấy đã truyền lệnh cho tất cả những người con mang đến những lễ vật. Không giống như những anh trai mang vàng bạc châu báu mà người con út của Vua Hùng lại dâng lên vua cha hai loại bánh là bánh chưng và bánh dày. Bánh chưng có từ đó để tượng trưng cho trái đất hình vuông.

Đến ngày nay thì nhân dân ta đã sử dụng bánh chưng vào ngày tết giống như một truyền thống đặc trưng. Vật liệu để làm bánh chưng bao gồm lá dong, gạo nếp đã ngâm nở ra, đỗ ngâm bỏ vỏ, thịt lợn, lạt. tất cả những vật liệu ấy đều không thể thiếu được.

Về cách gói bánh thì nhân dân ta thường gói bánh theo hai hình là hình vuông truyền thống và hình tròn dài. Theo cách gói bánh vuông truyền thống nếu muốn cho bánh đẹp vuông vắn thì lá dong phải to và dài, xếp hai lá lên nhau đổ một lớp gạo xuống sau đó là một ít đỗ bên trên tiếp đến là miếng thịt đã ướp gia vị và cuối cùng là một lớp đỗ và gạo đỗ lên trên cùng.

Công đoạn nguyên liệu bên trong đã đủ thì chúng ta gấp các lá bánh lên sao cho vuông vắn và ôm sát vào những nguyên liệu bên trong. Khi này chúng ta phải lấy tay ấn thật chặt cho gạo đỗ đỗ đầy vào những chỗ hở để tạo thành một hình vuông vắn. khi đã có một khối vuông vắn thì chúng ta phải lấy những chiếc lạt buộc cố định lại để đem đi luộc.

Còn đối với bánh tròn dài thì cũng tương tự nhưng cần đến lá dài hơn buộc bánh theo hình dài chứ không nén chặt theo hình vuông. Thường nhân dân ta hay gói bánh chưng vào những ngày cuối năm như 29 hoặc 30 để đón năm mới hay cùng nhau trông bánh chưng chờ giao thừa qua. Những nồi bánh ấm nồng cùng với sự sum họp quây quần của anh chị em bên nhau như xua tan đi mọi cái giá lạnh đầu mùa xuân. Mọi người không còn những ưu tư phiền muộn mà chỉ còn khoảnh khắc hạnh phúc bên nhau mà thôi.

Bánh chưng trong ngày tết có những ý nghĩa rất lớn. Tuy khoa học đã chứng minh rằng trái đất không phải là hình vuông như người xưa trong truyền thuyết nói nhưng qua bánh chưng ấy người Việt ta bày tỏ những tấm lòng nhớ về người xưa tổ tiên ông bà đã sáng tạo và để lại loại bánh có ý nghĩa ấy. Không những thế nó được sử dụng trong ngày tết vì nó có sự đầy đủ của nhiều thứ nguyên liệu và có vị ngon hấp dẫn. Chính vì thế mà nó không thể nào vắng mặt trong ngày tết truyền thống của nhân dân ta.

Không những thế mà bánh chưng còn để thắp hương thờ cúng ông bà tổ tiên trong những ngày tết. Nhân dân ta sẽ chọn những chiếc bánh đẹp nhất để có thể đem lên bày trên bàn thờ ông bà với những món hoa quả bánh kẹo trên đó.

Bánh chưng còn làm cho mọi người sum họp gần gũi nhau hơn và có một cái tết ấm lòng không. Anh chị em quây quần bên nhau cùng gói bánh cùng nói chuyện cười vui tươi chào mừng năm mới đến. Không kể lúc luộc bánh tất cả cùng ngồi trông bánh bên ngọn lửa hồng.

Đặc biệt bánh ăn nóng rất ngon tuy nhiên khi nó nguội rồi nhân dân ta còn có thể cắt chúng ra từng miếng nhỏ đem rán lên ăn rất là ngon và thơm. Những người không ăn được mở thì cũng có thể ăn được bởi vì khi ninh nhừ như thế rồi thì thịt mỡ không còn ngán như khi luộc bình thường nữa mà nó rất dễ ăn.

Tóm lại bánh chưng có ý nghĩa rất lớn trong đời sống cũng như tình cảm của nhân dân ta trong ngày tết truyền thống. Và từ khi xuất hiện cho đến ngày nay bánh chưng như khẳng định sự thơm ngon hấp dẫn cùng với những ý nghĩa của mình. Vì vậy bánh chưng không thể vắng mặt trong gia đình Việt nam ngày Tết.

Thuyết minh về món: Bún thang

Thuyết minh về món: Bánh chưng

Theo giải thích của người xưa, chữ thang” trong bún thang có nghĩa là canh – một món canh bổ dưỡng (cũng như sâm thang). Trong các món bún Hà Nội, bún thang là món xếp vào hàng đặc sản cao cấp và đắt tiền nhất, một thứ quà Hà Nội thanh nhã và tinh tế.

Nấu bún thang là một việc khá công phu, từ khâu chuẩn bị đến chế biến. Món bún thang tính sơ sơ phải cần đến 20 nguyên liệu. Công phu đầu tiên là chuẩn bị nồi nước dùng. Độ ngọt của nước dùng được tạo ra từ xương ống đun kỹ, xương gà, mực khô, tôm he nấu sôi cho ra hết nước cốt. Vị ngọt đậm đà của nước dùng là từ các loại nguyên liệu này, hoàn toàn không cần đến đường, bột ngọt.

Để nồi nước dùng trong, người nấu phải canh hớt bọt liên tục. Bên cạnh công thức chung trên, nồi nước dùng ngon hay không còn nằm ở bí quyết gia truyền riêng của mỗi hàng bún.

Kế đến phải kể tới công phu chuẩn bị các nguyên liệu ăn kèm như trứng, giò lụa, thịt gà nạc, thịt heo nạc (còn gọi là ruốc sỏi) và trứng vịt muối. Trứng trong bún thang phải tráng thật mỏng, sấy khô, xắt nhuyễn như sợi chỉ vàng, giò lụa ửng hồng thái rối, thịt gà nạc trắng nõn da vàng ươm xé sợi thật tơi, thịt nạc (ruốc sỏi) xắt hạt lựu, xào khô với nước mắm vừa đủ đậm …

Sau khi mọi thứ đã sẵn sàng, người nấu cho bún tươi đã chần kỹ vào bát, dưới đáy có rải chút rau răm. Bún để ăn bún thang phải là loại bún sợi nhỏ, mịn và trắng tươi. Trên mặt tô bún bày mỗi góc một chút trứng, một chút giò lụa, thịt gà, ruốc sỏi. Chính giữa tô là miếng trứng vịt muối, trên rắc thêm tôm tươi giã nhuyễn thành chà bông. Tô bún đầy sắc màu, sinh động và gợi thèm.

Ăn kèm với bún không thể thiếu củ cải ngâm chua, cay, giòn, ít mắm tôm đậm đà. Thứ mắm tôm hăng nồng, mặn gắt không hiểu sao lại rất hợp với món ăn thanh nhã như bún thang. Nhưng đặc biệt nhất là phải có thêm tinh dầu cà cuống, sẽ vô cùng thiếu sót nếu không nhắc đến thứ gia vị tinh tế này trong món bún thang. Chỉ cần một chút trên đầu tăm điểm vào, bát bún thang sẽ dậy mùi thơm đặc biệt. Cà cuống nguyên chất hiện nay rất hiếm, thay vào đó, người bán thường dùng tinh dầu cà cuống làm từ hóa chất nên mùi thơm hắc hơn, song cũng đủ làm món ăn thêm hương.

Những thứ rau thơm, hành lá xanh mướt phủ lên trên sẽ giúp cho bức tranh bún thêm phần màu sắc. Bên cạnh rau mùi, hành hoa xắt thật nhỏ, không thể thiếu rau răm cay the the. Bún thang thiếu vị cay thế này cũng hỏng. Mà xét cho cùng, bún thang là bức tranh tổng hòa của màu sắc, gia vị, nguyên liệu, nên thiếu bất cứ thứ nào trong số đó, món bún cũng mất đi vị ngon. Một điểm đặc biệt khác là bún thang thường không cần ăn kèm với rau, có lẽ vì người nghĩ ra món này sợ vị rau sẽ làm lạt nước, kém ngon.

Làm một bữa bún thang quả là tốn thời gian, cần một bàn tay nội trợ giỏi, tỉ mỉ và chu đáo. Thưởng thức một tô bún thang là tận hưởng tất cả sự khéo léo của người chế biến. Vị ngon thanh cảnh nhẹ nhàng của nó thể hiện rất rõ chất thanh lịch của ẩm thực Tràng An xưa.

Thuyết minh về món: Bún thang

Thuyết minh về món: Bánh cuốn Thanh Trì

Thuyết minh về món: Bún thang

Từ Bắc tới Nam đất nước đâu đâu cũng có lúa gạo, có bánh cuốn, bánh tráng nhưng có lẽ bánh cuốn Thanh Trì của Hà Nội vẫn đặc sắc hơn cả: lá bánh cuốn mỏng tang như một lớp lụa mịn màng. Mỗi lá chỉ cần thoa thêm chút mỡ, rắc chút hành khô phi thơm là nổi vị bát nước chấm thơm vị cà cuống đặc trưng đã làm nên phong vị đặc sắc của bánh cuốn Thanh Trì. Đặc sản của một vùng quê:

“Thanh Trì có bánh cuốn ngon

Cỏ gò Ngũ Nhục có con sông Hồng”

Làng Thanh Trì là một làng vào loại cổ nhất cua Thăng Long – Hà Nội. Hàng năm, cứ vào ngày 1 tháng 3 âm lịch, đầu làng Thanh Trì lại mở hội, trong hội có cuộc thi tráng bánh cuốn giữa các thôn trong làng. Trong cuộc thi, mỗi đội phái tráng cả bánh cuốn lá lẫn bánh cuốn nhân.

Ban giảm khảo là những cụ cao niên trong làng và đại diện chính quyền địa phương sẽ chấm điểm cho mỗi đội dựa theo quy định: các đội phải làm theo đúng phưong pháp cổ truyền, trong một thời gian quy định, đội nào tráng được nhiều bánh, bánh mỏng, dẻo, có sắc trắng mịn cùng nước chấm ngon, trình bày đẹp sẽ đạt giải.

Theo thần tích của địa phương, nhân dân đã tụ họp về đây khai khẩn đất từ thời Hùng Vương, An Quốc, Con trai vua Hùng thứ 18 (là bạn của Sơn Tinh) đã từng dựng dinh thự, dạy dân cày cấy sống giữa vùng ao hồ rộng lớn, hai phần ba dân làng sống bằng nghề làm bánh cuốn. Bánh được làm từ những loại gạo ngon, xay mịn như nước, lá bánh mỏng tang như tờ giấy, được thoa thêm một chút mỡ phi hành cho thơm. Bánh cuốn Thanh Trì bao đời nay đã là niềm tự hào của người dân nơi dây.

“Múc lưng muôi bột giàn đều trên khuôn vai, đậy nắp vung lại. Đợi khi mỡ nấp vung ra, mặt bánh phồng lên tức là bánh đã chín. Sau lấy que tre xọc ngang, nguyên một tờ gạo mong manh được nhác ra. Xoa một tý mỡ hành cho bóng bẩy rồi gấp lại…” . Chẳng thế mà những nhà văn nhu Thạch Lam hay Vũ Bằng đều dành cho bánh cuốn Thanh Trì một sự ưu ái riêng….

Thưởng thức vài lần món bánh cuốn Thanh Trì rồi. anh sẽ thấy nhớ mãi món quà đó và nhớ từ cái dáng người bán hàng đội bánh nhớ đi. nhớ thứ nước chấm, nhớ cái cảm giác bánh trơn trôi nhẹ vào trong cổ…nhớ quá, nhớ khôn nguôi!” (Miếng ngon Hà Nội – Vũ Bằng)

Cho dù ngày hôm nay, các công đoạn làm bánh cuốn đã dược cơ hóa thế nhưng trong hội làng, người dân Thanh Trì vẫn phải chế biến theo lối cổ – nghĩa là bội vần được xay từ những chiếc cối đá làm từ đá xanh Thanh Hóa. Và để bánh mỏng tang, trắng mịn thì chậu bột được pha theo một tỷ lệ riêng cua mỗi người.

Cũng thật lạ, bánh cuốn Thanh Trì nguyên liệu chẳng có gì cao sang hay pha chế biến cầu kỳ bởi chỉ cỏ bột xay. nhân làm bằng hành hoa tươi chưng với mỡ hay nhân bánh bằng mỡ thăn cùng hành khô chưng lên để có mùi thơm nhưng làm ẩm khách nhớ khôn nguôi khi thưởng thức.

Bánh cuốn Thanh Trì đặc biệt nhất ở chỗ tráng mỏng, hành mỡ thoa vào mướt mặt mà nếm thì thanh nhẹ, sắc trắng của bánh nổi bật lên một cách hiền lành cùng những đốm nhân màu nâu đỏ cua hành phi. Nhìn những thếp bánh mới làm óng ả có thể làm bất cứ ai trông thấy thôi cùng thấy thèm.

Một trong những bí quyết để có được những mẻ bánh ngon là chọn gạo ngon, gạo có ngon thì mặt bánh mới láng mượt, óng ả. Nếu gạo quá dẻo thì bánh nát, còn gạo kém thì bánh sẽ không thơm ngon. Và không thể quên khâu quan trọng là bột. Bột được xay nhuyễn nên mặt bánh cuốn mới được láng bóng, óng ả như cậy. Nếu bột loãng quá bánh sẽ nát, mà đặc quá bánh sẽ dày mình, ăn thô thì đâu được gọi là bánh Thanh Trì.

Thường thì xế chiều, dân Thanh Trì lại nổi lửa tráng bánh. Sở dĩ bánh cuốn tráng từ chiều cho tới đêm bởi bánh tráng xong phải để qua đêm thì mới bay đi mùi nồng của bột. Đến sáng bánh vừa mềm. vừa thơm mát mùi gạo… Người làng Thanh Trì xưa chỉ đội thúng bánh cuốn trên đầu rồi đi rong phố phường. Bây giờ nhiều người làng Thanh Trì vẫn đạp xe đi bán hàng rong Không gì thú vị bằng được thưởng thức đĩa bánh cuốn nóng còn vương sợi trong cái giá lạnh của mùa đông.

Ngắm nhìn bàn tay khéo léo của chị chủ quán đang thoăn thoắt tráng từng chiếc bánh, cuộn nhân lại trong không gian mờ hơi nước từ nồi tráng bánh bay lên giúp những ai đang lạnh giá cũng cảm thấy ấm áp lạ thường. Ở Hà Nội có một cửa hàng nhỏ bán bánh cuốn Thanh Trì mang cả hương vị của riêng của Hà Nội. Dù chỗ ngồi chẳng đủ, người nọ phải đợi người kia nhưng khách hàng đều chấp nhận để được thường thức một xuất bánh cuốn đúng như vị Thanh Trì.

Bánh Thanh Trì thơm dịu được chấm với nước chấm được pha rất hài hòa. không quá chua cũng không quá mặn và thêm vài lát chả. Chắc chắn, ai đã thưởng thức một lần thì sẽ không thể quên được mùi vị ngon lành đó. Bánh cuốn nóng nhân thịt được “kế thừa” từ bánh cuốn Thanh Trì mà ra.

Những chiếc bánh cuốn nóng óng mượt vỏ bóng mỏng tang, ỏng như lụa để khoe lớp nhân thịt cùng nấm hương ẩn hiện bên trong. Rồi rau thơm Láng, giò chả Ước Lễ trong một bát nước chấm ngon cũng là để tăng thêm mùi vị cho đĩa bánh cuốn nóng. Ngần đó thức dùng trong món bánh cuốn nóng đã cho ta thấy sự trau chuốt của người bán hàng trong món ăn của mình… Sau đó, bánh được tô điểm thêm bằng hành phi vàng thơm nức và chút ruốc tôm hồng như phấn làm đẹp thêm những chiếc bánh cuốn trắng.

Một đĩa bánh cuốn nóng sẽ có mùi hương của gạo mới, độ dẻo vừa phải cả miếng bánh ăn kèm với lát chả quế ngầy ngậy điểm thêm vài nhánh rau ngò, rau húng thơm. Bánh cuốn ngon không thể thiếu nước chấm, phải pha sao để mà dậy được cái mùi cà cuống lên thì thật là tuyệt vời.

Dù là bánh cuốn nguội Thanh Trì hay bánh cuốn nóng thì cần phải có nước chấm vừa miệng. Pha nước chấm thế nào là bí quyết riêng của mỗi cửa hàng mà họ luôn giữ kín công thức. Chỉ biết rằng, khách tới những cửa hàng bánh cuốn ngon đều mê mẩn thứ nước màu hổ phách thơm dịu đó.

Theo những người bán hàng thì nước chấm bánh cuốn không thiên về vị chua mà cần cân bằng giữa vị mặn của nước mắm và vị ngọt của đường. Chén nước mắm nhỏ xíu xinh xắn, không mặn quá, không chua quá, mà cũng không cay quá. Có lẽ vì bánh cuốn vốn mềm mại, thanh mát nên nước chấm đi cùng cũng dìu dịu như vậy để hài hòa.

Trước đây, người Hà Nội thường ăn bánh cuốn với đậu làng Mơ rán giòn, nhưng giờ đây bánh cuốn thường được ăn với giò chả của vùng Uớc Lễ – Hà Tây. Chả quế Ước Lễ vừa ngon, ngọt, thơm mùi quế đặc trưng rất hấp dẫn. Chả quế thơm hương vị quế rừng, hương vị thịt nướng thuở hoang sơ, giò lụa thoáng hương chuối quê đồng nội. Ăn miếng chả quế dậy mùi thơm thịt nướng, hương vị cay hấp dẫn của quế chi, ngọt của mật ong, phảng phất mùi thơm quý phái.

Những chiếc bánh cuốn ngon đặc biệt ở độ nóng, giòn và dai của bánh, ở vị thơm của hành phi, vị mặn – ngọt của nước chấm, và với một chút rau thơm, rau mùi, vài ba miếng chả cùng 1-2 giọt tinh dầu cà cuống vừa thơm vừa cay. Không cao sang, cầu kỳ, bánh cuốn là một món ăn bình dị, thân quen đối với mọi đối tượng thực khách, từ sang trọng cho đến tầng lớp bình dân.

Có thể vì thế mà những người Hà Nội đi xa hay những người từ xa tới với Hà Nội đều có chung một nhận xét rằng : Hà Nội có rất nhiều món ăn ngon và một trong những, món ăn để lại niềm thương, nỗi nhớ đó là bánh cuốn.

Thuyết minh về món: Bánh xèo

Thuyết minh về món: Bánh cuốn Thanh Trì

Trong các món bánh mặn của Nam bộ, bánh xèo là món phổ biến, được người ăn ưa thích nhất.

Ăn bánh xèo có đông người mới vui vì khi làm bánh phải qua nhiều công đoạn nên cần nhiều người. Người ta phân công nhau bằng những câu vè vui vẻ như: “Người nào xấu xấu xay bột, lật hành. Người nào lanh lanh băm nhân, dò bánh…”

Muốn cho bánh ngon phải chịu khó, chịu cực một chút. Bột bánh là phần quan trọng nhất, bánh có ngon hay không là ở khâu này. Dân nông thôn không chịu loại bột gạo bịch sẵn, bày bán ở chợ vì đó là gạo dơ ngâm nước cho bã ra nhiều nước rồi gạn lấy bột nên chất bột bị chua và lạt, không còn bổ dưỡng, thơm ngon.

Muốn cho bột bánh xèo ngon phải là loại gạo thơm, gạo mới, ngâm trong một buổi hoặc một đêm rồi đem xay nhuyễn. Ngày nay có bột bánh xèo pha chế sẵn cũng tiện dụng nhưng phải trộn thêm theo công thức, một bịch bột bánh xèo pha thêm một bịch bột chiên giòn hoặc bột bắp và nước cốt dừa thì bánh mới béo giòn.

Dùng bột gạo tươi thì sau khi lược bột xong, pha thêm một bịch bột chiên giòn, nước cốt dừa, đường, muối sao cho độ béo ngọt theo khẩu vị người ăn, bỏ thêm hành lá xắt nhỏ, bột nghệ, trứng gà đánh nhuyễn. Người Nam bộ rất thích nước cốt dừa nên pha đậm đặc càng ngon (mà vị béo của nước cốt dừa không có vị béo nào sánh kịp), bánh khi chín có nước cốt dừa rất dễ lấy ra.

Nhân bánh muốn ngon phải có nấm rơm, nấm hương, nấm kim chi hay nấm đông cô, tôm hoặc tép, thịt gà hay thịt vịt băm nhuyễn, giá sống và củ sắn, có người còn bỏ cá cơm dừa xắt sợi, hoặc đậu xanh nấu chín, nhưng hai loại này làm cho dễ ngán không ăn được nhiều. Nấm làm nhân bánh có thể thay đổi theo từng mùa. Mùa nấm rơm thì làm nấm rơm, không có nấm rơm thì hải nấm mèo trên các cây so đũa hoặc mùa mưa thì có bông điên điển…

Rau sống và nước mắm là những thành phần quan trọng làm cho bánh thêm ngon. Rau sống phải có đủ họ tộc như: diếp cá, xà lách, tần ô, húng cây, húng lủi, quế không được thiếu lá cách và cải bẹ xanh (loại cải thân nhỏ). Chén nước mắm nêm nếm cho đủ độ mặn, ngọt, chua, cỏ màu đỏ cua ớt, màu vàng của nước mắm, màu xanh của xoài sống bằm nhuyễn và màu đỏ trắng của dưa của cải.

Khi tất cả vật liệu đã sẵn sàng thì người đổ bánh mới bắt đầu nổi lửa. Nếu lượng người ăn đông phải đổ hai chảo mới kịp đãi khách, ở miền quê, các bà nội trợ đổ bánh bằng chảo gang hay chảo bằng vỏ trái bom cắt ra, ở thành phố có loại chảo không dính tương đối tiện lợi. Khi chảo thật nóng thì đổ thử một vài cái xem mùi vị và độ đặc lỏng của bột vừa hay chưa, sau đó mới đổ thật sự.

Lấy miếng mỡ heo cắt hình vuông khoảng 3 cm đảo qua chảo một lượt, bỏ tép hoặc tôm và thịt ba rọi xắt sợi nhỏ vào cháo, đảo cho đỏ lên hồng lên, tiếp đó đổ một vá hột lên chảo nghe xèo xèo rồi tráng đều cho tròn cái bánh mới khéo, lần lượt bỏ nấm, thịt gà, giá, củ sắn và đậy nắp lại. Hai phút sau, giở nắp ra, tiếp tục “dần trên lửa “ Bánh chín có màu vàng như mặt trăng rằm. Trên đó, màu đỏ của tôm, màu xanh của hành, màu nâu hoặc trắng của nấm. mùi thơm dậy của nước dừa và hột gà khiến cho chiếc bánh hấp dẫn đặc biệt. Bánh được xếp lại theo hình rẻ quạt, nóng hôi hổi trên chiếc mâm lót lá chuối hay trên chiếc đĩa sứ trắng ngà.

Ăn bánh xèo nên dùng tay, không cần đũa nĩa gì cả. Dùng tay để cuốn bánh cho gọn và cảm nhận được độ nóng ấm của bánh mới thấy ngon miệng. Ăn bánh nên uống với nước trà nóng hoặc với bia, rượu mới tiêu được mỡ dầu. Vừa ăn vừa đàm đạo chuyện trò, lúc đói bụng có người dám ăn cả chục bánh, có người ăn trừ cơm cả ngày.

Ở Huế cũng có loại bánh tương tự nhưng bánh nhỏ hơn, độ giòn và vị béo kém hơn, có lẽ họ không thích nước cốt dừa như người Nam bộ. Thành phố Hồ Chí Minh có những con đường bày bán bánh xèo sát ngay đại lộ. Một vài địa điểm có tiếng như bánh xèo A Phủ, Đinh Công Tráng với giá từ hai chục ngàn đồng đến ba, bốn chục ngàn đồng một bánh nhưng bánh của các nơi này dùng quá nhiều thịt, mỡ nên ăn không được nhiều.

Màu sắc đẹp, mùi vị hấp dẫn, chất dinh dưỡng cao, bánh xèo là món bánh độc đáo, đậm đà hương vị Nam bộ.

Thuyết minh về món: Canh chua

Thuyết minh về món: Bánh xèo

Trên mâm cơm hàng ngày thường có ba món: món canh, món mặn, món xào. Món canh thì rất phong phú, đa dạng như canh rau tập tàng, canh bí đỏ, canh cải nấu cá thác lác… Nhưng món canh ăn hoài không biết chán, có mặt thường xuyên trên mâm cơm của người Nam bộ là món canh chua.

Tương tự gỏi chua, canh chua là món có nước nhưng vẫn mang đủ hương vị chua chua, ngòn ngọt, thơm thơm, rất dễ ăn.

Đi làm việc về, trời trưa nắng chang chang, được người thân nấu cho tô canh chua vừa miệng, còn gì thích hơn. Mùa đông trời lạnh, ăn canh chua ấm lòng.

Mùa Thu trời ui ui, ăn canh chua đỡ buồn. Có khách sang trọng đãi món canh chua cá bông lau, khách cũng thích. Gặp đứa bạn thân, nấu lẩu chua cá điêu hồng nó “ô kê” liền. Nuôi người thân già yếu, miệng mồm lạt lẽo khó ăn, nấu tô canh chua lươn cho ngọt, ăn được chén cơm, mau hết bệnh.

Tuy là món ăn hàng ngày nhưng muốn nấu ngon phải biết nêm nếm vừa miệng và rau đệm biết dùng đúng cách. Chẳng hạn, lâu lươn nấu với bắp chuối mới đúng điệu. Cá lóc, cá thác lác… nên có rau chút, cà bắp, thơm. Cá linh nấu với bông điên điển hay bông so đũa… Chất chua có thể là me vắt, me trái, lá giang, lá me, khế chua hoặc cơm mẻ… Chất chua muốn dịu thì phải có khóm, cà chua, lá giang có vị chua dịu hơn me. Cơm mẻ là cơm nguội để lên men, tạo nhiều vi sinh, chất lên men chua rất dịu, dùng nấu canh chua lươn, luộc thịt trâu, thịt chó,…

Rau bổi bỏ vào cũng phải theo thứ tự, lớp lang, rau nào lâu chín cho vào trước, có loại nấu lâu sẽ dai, mất ngon như rau nhút, kèo nèo… Có quá nhiều rau bổi để nấu canh chua, mỗi món có hương vị riêng, có cách nấu riêng, tùy theo ý thích mà pha chế. Nông thôn thì có bắp chuối, chuối cây, bông điên điển, so đũa, kèo nèo, đọt choại, rau ngổ, rau muống, rau nhút… Ở chợ có giá sống, bạc hà, cà chua, khóm, rau muống,… Rau thơm như ngò gai, rau om, rau quế góp phần làm cho nồi canh chua có mùi thơm rất riêng, rất hấp dẫn.

Món lẩu chua để đãi khách nấu khá công phu. Phải lấy nước ngọt từ xương heo, xương gà để làm nước súp, sau đó luộc cá điêu hồng hay cá bông lau cho chín rồi vớt ra, nếu dùng hải sản thì tôm, mực tươi, cá thác lác vo viên xếp sẵn trên đĩa, ăn tới đâu nhúng tới đó. Rau bổi cũng vậy, không để sôi lâu vừa mất chất, vừa mất ngon, thỉnh thoảng bỏ vào lẩu hành phi, ớt và rau thơm để giữ vị thơm của món ăn. Nước lẩu pha cho đúng vị chua, ngọt (không chua quá mà cũng không ngọt quá, ngược lại, pha lơ lớ ăn rất chán, không ra mùi vị gì cả).

Ở miền Tây, khi trời vừa sa mưa là mùa của cá linh, lẩu chua cá linh bông điên điển là món ăn khoái khẩu nhất. Cả nhà xúm xít quanh cái lẩu bốc hơi nóng, nước lẩu được các bà nội trợ pha chế độ chua ngọt rất vừa miệng, rồi thì rổ rau đồng gồm bông điên điển, kèo nèo, rau muống… được nhúng vào cùng với những con cá linh trắng phau, mềm ụm, béo ngậy. Chẳng mấy chốc mà rổ rau vơi dần và nồi cơm gạo mới cùng cạn đáy.

Lẩu chua ăn với bún, canh chua ăn với cơm, canh chua thường kèm với món cá rô kho tộ, nếu không có cá kho tộ thì ăn với tép rang thịt ba rọi cũng được. Vừa qua, có cuộc thi đầu bếp giỏi do các nhà hàng lớn trong thành phố tổ chức, món canh chua bông điên điển đã đứng đầu bảng. Thế mới biết, món ăn đứng hàng “top ten” không phải “nem công, chả phụng” mà có khi chỉ là những món ăn quen.

Thuyết minh về món: Canh chua

Thuyết minh về món: Nem chua Thanh Hóa

Thuyết minh về món: Canh chua

Nem chua Thanh Hóa là món ăn nổi tiếng, là niềm tự hào của người dân nơi đây. Món này được chế biến hết sức kỳ công, qua nhiều công đoạn kỹ lưỡng, từ khâu chọn nguyên liệu cho tới khi đóng gói sản phẩm…

Thịt để làm nem phải là loại thịt nóng, nghĩa là khi heo vừa mới xẻ thịt thì người thợ làm nem phải thái, xay, chế biến ngay, không để lâu. Bởi nếu thịt nguội, nem sẽ không có độ bóng cũng như sự kết dính trong quá trình lên men.Ngày trước khi chưa có máy xay thịt, người thợ phải giã thịt bằng tay trên những cối đá lớn. Theo kinh nghiệm của những gia đình làm nem truyền thống, thì thịt giã cối đá sẽ có độ giòn, quánh, dính hơn là thịt xay máy.

Bì lợn cũng phải chọn rất kỹ, heo lấy bì phải là heo cạo chín, nghĩa là làm bằng nước sôi. Có như thế lông mới sạch và khi chế biến sẽ đỡ tốn thời gian. Để có những sợi bì trong, ngon, người thợ phải cạo thật sạch tất cả những phần mỡ còn sót lại trên bì, cho tới khi lớp bì mỏng, trắng tinh, trong suốt thì được. Bì càng làm kỹ bao nhiêu thì khi thái chỉ, bì càng giòn và dai bấy nhiêu.

Khi nguyên liệu chính là thịt và bì đã xong, người thợ sẽ trộn hai hỗn hợp này lại với nhau cùng các loại gia vị muối, bột ngọt, đường, nêm thêm chút nước mắm cho thơm. Sau đó mang hỗn hợp thịt trên ra đóng gói. Mỗi một chiếc nem được người gói cho kèm thêm chút tỏi, lá đinh lăng, ớt, những phụ gia này có tác dụng làm cho hương vị nem trở nên ngon hơn, hấp dẫn hơn và cũng là để cân bằng giữa lạnh (nem chua) với nóng (lá đinh lăng, ớt). Lá chuối gói nem phải là lá chuối ngự vừa xanh vừa dầy, bởi trong quá trình vận chuyển và lưu giữ nem vẫn tiếp tục lên men.

Để bảo quản được dài ngày, người thợ thường bọc giấy bóng thêm bên trong nem. Thông thường nem gói sau 3 ngày là chín, có thể dùng được. Bóc lớp lá chuối màu xanh ở ngoài, đã thấy lộ ra màu hồng của thịt, màu trắng của sợi bì, màu đỏ của ớt.

Khi thưởng thức sẽ gặp vị chua thanh của thịt, dai giòn của sợi bì, cay của ớt, thơm của tỏi, chát ngọt của đinh lăng … một hương vị rất riêng mà không phải nem chua nơi nào cũng có như nem chua xứ Thanh. Nem Thanh có vị lạ rất khác với nem chua Hà Nội hay nem lụi ở Huế, lại càng khác xa với nem rán hay nem tai. Nó vừa chua, vừa cay lại có cả vị mặn mà của gia vị, có vị ngọt của thịt làm ta không thể không ăn tiếp vài cái nữa.

Nem chua Thanh Hóa vừa ngon, vừa rẻ nhưng có điều rất lạ và hay là có thể làm đồ nhắm, cũng có khi ăn với cơm. Tiện hơn cả là ở đâu ta cũng có thể nhấm nháp hương vị hấp dẫn của nó. Nghĩ đến nem chua quê mình đầu lưỡi tôi lại cay cay, ngọt ngọt. Khó mà tả được cảm giác sung sướng khi được ăn một vài miếng nem chua ở quê hương mình trong lúc đang ở nơi xa xôi.

Ai đi qua xứ Thanh cũng phải nếm thử hương vị lạ của những chiếc nem xinh xắn. Người dân xứ Thanh vào Nam ra Bắc, dù bận trăm công nghìn việc, dù mang vác nặng nề cũng cố đem vài chục chiếc để cho người nhà hoặc biếu người thân. Ngày lễ Tết hoặc cưới xin, nem chua trở thành món ngon không thể thiếu. Kèm với những cặp bánh chưng xanh, những chiếc giò ngày Tết là những xâu nem chua làm từ chất liệu quê hương mời khách đến chơi nhà.

Nếu có dịp dừng chân nơi miền đất này, mời bạn hãy thưởng thức nem chua xứ Thanh.Vị chua chua, ngọt ngọt đậm đà gia vị tạo nên hương thơm khó quên của món nem chua Thanh Hóa.Nem chua Thanh Hóa nổi tiếng xưa nay khắp một dải đất dài từ Nam ra Bắc. Người Thanh Hóa tự hào với bạn bè nơi nơi vì có một thứ quà không phải nơi nào cũng cứ học là làm được, mà nó được truyền kinh nghiệm từ đời này sang đời khác qua nhiều năm nay.

Thuyết minh về món: Bánh ít lá gai

Thuyết minh về món: Nem chua Thanh Hóa

Ở Bình Định, mỗi khi về hồi dâu sau ba ngày cưới, cô gái nào cũng chuẩn bị một quả bánh ít do tự tay mình làm, mang về cúng gia tiên và biếu bố mẹ ruột làm quà để tỏ lòng hiếu thảo.Từ một câu ca đến những huyền thoại:

“Muốn ăn bánh ít lá gai

Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi” (Ca dao)

Chiếc bánh ít lá gai là một đặc trưng của xứ dừa Bình Định. Không chỉ đặc trưng từ hương vị ngọt bùi thơm dẻo kết tinh từ lao động và sáng tạo của người nông dân; không chỉ đặc trưng từ hình dáng tựa những ngôi tháp Chàm cổ kính rêu phong, từ sắc màu đen lục của lá gai và nếp dẻo mà còn đặc trưng bởi cái tên gọi mang đầy chất huyền thoại…

Theo sự tích xưa, thì sau khi chàng Lang Liêu – con trai của vua Hùng thứ sáu đã thắng cuộc trong hội thi làm các món ăn để cúng trời đất, tổ tiên trong ngày tết đầu năm mới với hai thứ bánh ngon lành và đầy ý nghĩa là bánh chưng và bánh dày, một nàng con gái út của vua thường được mọi người gọi trìu mến là nàng Út ít, vốn rất giỏi giang, khéo léo trong công việc bếp núc, đã nhân dịp đó trổ tài, sáng tạo thêm ra những món bánh mới.

Nàng Út muốn có một thứ bánh mới vừa mang hương vị bánh dày, vừa mang hương vị bánh chưng của anh mình. Nàng liền lấy chiếc bánh dày bọc lấy nhân của chiếc bánh chưng. Thứ bánh mới này quả đã đạt được yêu cầu tuy hai mà một của nàng Út.

Có thứ bánh mới, nàng Út lại suy nghĩ rồi quyết định phỏng theo hình dáng của bánh dày và bánh chưng để làm thành hai dáng bánh khác nhau, một thứ dáng tròn không gói lá, giống hệt như bánh dày, mộ thứ dùng lá gói kín thành dáng vuông giống hệt như bánh chưng để đạt được ý nghĩa “tuy hai mà một”. Nhưng cả hai thứ bánh đó đều làm nho nhỏ xinh xinh để tỏ ý khiêm nhường với thứ bậc út ít của mình trước các anh chị.

Sau hội thi, ngoài bánh dày, bánh chưng được coi như những thứ bánh thiêng liêng ra, những cặp bánh mang ý nghĩa “tuy một mà hai, tuy hai mà một” của nàng Út cũng được mọi người khen ngợi không ngớt. Sau này, những thứ bánh ấy được lưu truyền trong dân gian, mọi người làm theo và cứ gọi bánh này là bánh Út Ít. Trải qua nhiều thời đại, bánh nàng Út Ít đã được cải tiến trở thành nhiều hình vẻ hơn và tên bánh được gọi vắn tắt là bánh út ít, rồi thành bánh ít như ngày nay.

Cũng có người giải thích rằng loại bánh này nhiều hình nhiều vẻ: Thứ gói lá, thứ để trần, nặn cao, nặn dẹt, thứ trắng, xanh, đen, thứ nhân dừa, nhân đậu… nên khi làm bánh, dù là để ăn hay để bán, người ta cũng thường làm mỗi thứ một ít cho có thứ nọ, thứ kia, đủ vẻ, đủ hình, do đó mà thành bánh ít. Có câu ca dao:

Bánh thật nhiều, sao kêu bánh ít

Trầu có đầy sao gọi trầu không?

Đó là cách lý giải của người Việt xưa, còn người Bình Định thì lại lý giải bằng cách liên hệ giữa hình dáng bánh ít với tháp Chàm ở Bình Định. Hầu hết các tháp Chàm ở Bình Định đều đứng trên đồi cao, tạo môt đỉnh nhọn ở giữa như chiếc bánh ít. Và thực tế, tại Bình Định cũng có hẳn một ngôi tháp mang tên Bánh Ít đi vào ca dao:

Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di

Vật vô tri cũng thế huống chi tui với bà.

Cách lý giải thứ hai là dựa vào tục lễ hồi dâu của các cặp vợ chồng mới cưới. Ở Bình Định, mỗi khi về hồi dâu sau ba ngày cưới, cô gái nào cũng chuẩn bị một quả bánh ít do tự tay mình làm, mang về cúng gia tiên và biếu bố mẹ ruột làm quà để tỏ lòng hiếu thảo. Món quà tuy “ít”, nhưng là “của ít lòng nhiều”, ở đó nó còn có cả những giọt mồ hôi, sự nhẫn nại kiên trì, đôi bàn tay khéo léo, và đặc biệt là tấm lòng hiếu để của cô gái xa cha mẹ về làm dâu xứ người.

Dù chỉ trong ba ngày cưới, bận rộn với bao nhiêu niềm hạnh phúc, lo toan, song người con gái vẫn không quên cha mẹ mình, vẫn dành thì giờ để làm những chiếc bánh “ít” thơm thảo chờ ngày hồi dâu mang về làm quà cho bố mẹ. Nghĩa cử ấy thật không có gì bằng!

Để làm được chiếc bánh ít, người ta phải trải qua nhiều công đoạn, dụng khá nhiều công sức, sự dẻo dai, bền bỉ và khéo léo. Đầu tiên là phải chọn nếp để xay (nếp dùng làm bánh ít phải là nếp mới, thơm, độ dẻo vừa) rồi vo kỹ, ngâm với nước vài giờ, sau đó mới xay nhuyễn. Nếu xay bằng cối xay thủ công, phải đăng cho ráo nước để được một khối bột dẻo.

Để có màu xanh đen và hương vị thơm chát cho bánh, người ta hái lá gai non (Cây lá gai thường mọc sẵng ở các hàng rào quanh nhà), rửa sạch rồi luộc chín, vắt khô, sau đó trộn với bột dẻo đem đi giã. Đây là công đoạn dụng khá nhiều sức. Vì nếu giã chưa nhuyễn, bánh ăn lợn cợn, tạo cảm giác không ngon.

Tiếp đến là công đoạn làm nhân “nhưng” bánh. Nhưng bánh ít lá gai bao gồm đậu xanh, đường, dừa, có chút quế và bột va-ni cho thơm. Đậu xanh đem xay vỡ đôi rồi ngâm và đãi cho sạch vỏ trước khi luộc chín. Cùi dừa được bào ra thành sợi, bỏ vào chảo gang xào chung với đường một lúc cho đến độ chín tới mới trộn tiếp đậu xanh. Xào nhưng trên bếp lửa liu riu cho đến khi nào đường chín tới, nhưng có màu vàng sẫm, dẻo quánh, mùi thơm bốc lên ngào ngạt là vừa.

Làm bánh ít không khó, nhưng đòi hỏi phải tỉ mỉ. Sau khi đã xào nhưng xong, ngắt một miếng bột nếp tẻ thành bánh mỏng hình tròn trên lòng bàn tay, rồi vốc một nhúm nhưng bỏ vào giữa, túm bốn bên lại cho khít mối, sau đó vo tròn trong lòng bàn tay. Lúc này bột nếp đã bọc toàn bộ nhưng bánh thành một khối tròn.

Để cho bánh khỏi dính, người ta chấm một chút dầu phộng, xoa đều trên tấm lá chuối xanh, sau đó bọc bánh lại theo hình tháp rồi mang đi hấp. Có nơi, người ta hấp bánh trần, bánh chín mới gói để giữ màu xanh của lá chuối. Khi ăn chỉ cần bóc nhẹ lớp lá chuối xanh là hiện ra lớp da bánh ít màu đen bóng, đầy vẻ quyến rũ, huyền bí.

Ngoài bánh ít lá gai, có một số nơi làm bánh ít thường bằng bột nếp, màu trắng, có nhưng đậu xanh, nhân dừa đường hoặc nhân tôm, thịt; có loại gói lá chuối, có loại để trần; Cũng có loại làm bằng bột khoai mì, bột củ dong… và đều làm chín bằng phương pháp hấp như trên, song người An Nhơn, Bình Định thì chỉ làm bánh ít lá gai nhân dừa hoặc nhân đậu xanh gói lá chuối rồi mới đem đi hấp.

Ở hầu hết các làng quê Bình Định, đám giỗ nào cũng có bánh ít lá gai. Bánh cúng xong được dọn lên mâm cỗ làm món quà tráng miệng và làm quà bánh cho người ở nhà. Đây cũng là nét khác biệt trong văn hoá ẩm thực và văn hoá ứng xử của người Bình Định.

Ngày nay, dù có nhiều loại bánh hiện đại, ngon, rẻ và hấp dẫn hơn nhiều, song người Bình Định vẫn không bỏ nghề làm bánh ít lá gai. Nếu không làm để bán được thì cũng làm để cúng giỗ và làm quà cho lễ hồi dâu. Họ truyền nghề này cho thế hệ con cái, nhất là con gái, như một thứ bảo bối gia truyền, một nét đẹp văn hóa.

Thuyết minh về món: Bánh ít lá gai

Thuyết minh về món: Phở Hà Nội

Thuyết minh về món: Bánh ít lá gai

Đặc sản Hà Nội có nhiều, Hà Nội là địa điểm nổi tiếng với ẩm thực hấp dẫn, không chỉ đối với du khách nước ngoài mà còn lôi cuốn người Việt Nam. Nhưng nhắc đến món ăn Hà Nội là người ta nhắc đầu tiên đến phở. Phở như một thứ đại diện mang tính bản sắc, đặc thù của món ăn Hà Nội. Lý do thật đơn giản phở Hà Nội khác hẳn các nơi khác, nó không thể trộn lẫn với bất cứ một thứ phở nơi nào, cho dù ở đó người ta đã cố tình trương lên cái biển Phở Hà Nội.

Không biết, phở Hà Nội có tự bao giờ, chỉ biết rằng, phở đã đi vào trang viết của rất nhiều nhà văn như: Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Băng Sơn hay Vũ Bằng,… Phở, dưới những ngòi bút ấy, gần như chẳng còn ai có thể tả hay hơn nữa, và cũng chẳng cần ai phải tốn công mà viết thêm về Phở nữa vì nó đã quá đủ đầy, đã quá nổi tiếng rồi.

Và cũng không biết từ bao giờ phở đã trở thành món ngon nổi tiếng và khi thưởng thức phở ở Hà Nội người ta mới thấy được hương vị truyền thống. Phở Hà Nội là một món ăn đặc biệt của người Hà Nội đã có từ rất lâu.

Thạch Lam trong “Hà Nội ba 36 phố phường” viết: Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon”. Phở ngon phải là phở “cổ điển”, nấu bằng thịt bò, “nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt với hành tây đủ cả”, “rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một ít cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ”. Vào thời những năm 1940, phở đã rất phổ biến ở Hà Nội: “Đó là thứ quà ăn suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa và ăn phở tối….

Nguyễn Tuân, nhà văn của “Vang bóng một thời” đã có một tùy bút xuất sắc về phở. Ông cho phở có một “tâm hồn”, phở là “một miếng ăn kỳ diệu của tất cả người Việt Nam chân chính”. Cố đạo diễn điện ảnh Phạm Văn Khoa lúc sinh thời kể rằng, có lần ông cùng Nguyễn Tuân đang ăn phở, một người yêu thích nhận ra nhà văn bước lại chào nhưng Nguyễn Tuân vẫn vục đầu vào ăn. Người kia chắc chắn mình không nhầm đã kiên trì chờ đợi. Hết tô phở Nguyễn Tuân mới ngẩng mặt lên bảo “Tôi đang thưởng thức nên không trả lời, anh thứ lỗi”. Nhà văn không dùng chữ ăn mà dùng chữ thưởng thức.

Phở được dùng riêng như là một món quà sáng hoặc trưa và tối, không ăn cùng các món ăn khác. Nước dùng của phở được làm từ nước ninh của xương bò: xương cục, xương ống và xương vè. Thịt dùng cho món phở có thể là bò, hoặc gà. Bánh phở phải mỏng và dai mềm, gia vị của phở là hành lá, hạt tiêu, giấm ớt, lát chanh thái. Phở luôn phải ăn nóng mới ngon, người Hà Nội còn ăn kèm với những miếng quẩy nhỏ. Tuy nhiên, để có được những bát phở ngon còn tùy thuộc vào kinh nghiệm và bí quyết truyền thống của nghề nấu phở.

Trong món phở Hà Nội công đoạn chế biến nước dùng, còn gọi nước lèo, là công đoạn quan trọng nhất. Nước dùng của phở truyền thống là phải được ninh từ xương ống của bò cùng với một số gia vị. Xương phải được rửa sạch, cạo sạch hết thịt bám vào xương cho vào nồi đun với nước lạnh. Nước luộc xương lần đầu phải đổ đi để nước dùng khỏi bị nhiễm mùi hôi của xương bò, nước luộc lần sau mới dùng làm nước lèo. Gừng và củ hành đã nướng đồng thời cũng được cho vào.

Lửa đun được bật lớn để nước sôi lên, khi nước đã sôi thì phải giảm bớt lửa và bắt đầu vớt bọt. Khi đã vớt hết bọt, cho thêm một ít nước lạnh và lại đợi nước tiếp tục sôi tiếp để vớt bọt…Cứ làm như vậy liên tục cho đến khi nước trong và không còn cặn trong bọt nữa. Sau đó, cho một ít gia vị vào và điều chỉnh độ lửa sao cho nồi nước chỉ sôi lăn tăn để giữ cho nước khỏi bị đục và chất ngọt từ xương có đủ thời gian để tan vào nước lèo.

Có thể nói, phở Hà Nội có cái ngọt chân chất của xương bò, cái thơm của thịt vừa chín đến độ để vẫn dẻo mà lại không dai. Màu nước phở trong, bánh phở mỏng và mềm. Chỉ nhìn bát phở thôi cũng đủ thấy cái chất sành điệu, kỹ càng trong ăn uống của người Hà Nội. Một nhúm bánh phở đã trần qua nước nóng mềm mại dàn đều trong bát, bên trên là những lát thịt thái mỏng như lụa điểm mấy ngọn hành hoa xanh nõn, mấy cọng rau thơm xinh xắn, mấy nhát gừng màu vàng chanh thái mướt như tơ, lại thêm mấy lát ớt thái mỏng vừa đỏ sậm vừa màu hoa hiên.

Tất cả màu sắc đó như một bức họa lập thể hơi bạo màu nhưng đẹp mắt cứ dậy lên hương vị, quyện với hơi nước phở bỏng rẫy, bốc lên nghi ngút, đánh thức tất thảy khả năng vị giác, khứu giác của người ăn, khiến ta có cảm giác đang được hưởng cái tinh tế của đất trời và con người hợp lại. Chỉ húp một tý nước thôi đã thấy tỉnh người. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cái cay dịu của gừng, cái cay nồng của ớt, cái thơm nhè nhẹ của rau thơm, cái thơm của thịt bò tươi mềm. Tất cả cứ ngọt lừ đi, ngọt một cách hiền lành, êm nhẹ mà chân thật, tuyệt kỹ hài hòa.

Ta có thể thưởng thức nhiều hương vị phở tại Hà Nội. Có ba món phở chính: Phở nước, Phở xào, Phở áp chảo. Trong ba loại phở trên thì phở nước là phổ biến hơn cả. Phở nước gồm có: Phở Bò, phở Gà, phở Tim gan. Tuy nhiên, người sành điệu chỉ ăn phở chuộng nhất phở Bò, thứ đến là phở gà và không chấp nhận những loại phở khác.

Đối với du khách nước ngoài thì phở được coi là món ngon hấp dẫn và lạ miệng bởi sự tinh túy. Để thưởng thức phở ngon thì cần phải để phở trong bát sứ chứ không phải là bát thủy tinh hay bát nhựa. Bát đựng phở không được quá to hay quá nhỏ. Nếu bát quá nhỏ, nước dùng sẽ chóng nguội và không có đủ chỗ để thịt, rau thơm và gia vị. Nếu bát to quá thì chưa ăn hết một bát bạn đã thấy chán vì phở chỉ là một món ăn nhẹ hoặc món ăn thêm.

Khi ăn phở, một tay cầm đũa còn tay kia cầm thìa. Dùng đũa tre là thích hợp nhất vì nó giản dị và không bị trơn khi gắp bánh phở. Bàn ăn phở cần hơi thấp so với bình thường để nước dùng không vương vào quần áo bạn khi cúi xuống gắp sợi bánh phở lên ăn.

Trông bạn sẽ rất kỳ cục nếu bạn uống bia hoặc trà đá khi ăn phở. Tuy nhiên, bạn nhấm nháp một chén cuốc lủi để bát phở thêm ngon thì có thể chấp nhận được. Nhưng thường thì không dùng đồ uống hoặc các đồ ăn khác khi ăn phở, ăn như vậy mới càng thấy phở ngon.

Thuyết minh về món: Nem rán

Thuyết minh về món: Phở Hà Nội

Việt Nam được biết đến là đất nước có nền văn hóa ẩm thực khá phong phú. Chúng ta có thể kể tên các món ăn đặc sản của dân tộc như bánh chưng, bánh cốm, phở, bún bò,… và đặc biệt là món nem rán. Đây là món ăn vừa cao quý lại vừa dân dã, bình dị để lại một mùi vị khó phai mờ trong mỗi chúng ta.

Nem rán có nguồn gốc từ Trung Quốc, thuộc nhóm các món Dimsum. Món ăn này đã theo chân những người Hoa khi di cư sang nước ta và được biến đổi thành món ăn phù hợp với khẩu vị người Việt. Nem rán không chỉ phổ biến ở Việt Nam, Trung Quốc mà nó còn góp mặt trong ẩm thực của đất nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Đức, Ba Lan và nhiều nước Trung, Nam Mĩ,… với các tên gọi khác nhau như Harumaki, Chungwon, Rouleau de printemps, Sajgonki,…Ở Việt Nam, tùy theo vùng miền mà món ăn này có những tên gọi riêng. Nem rán là cách gọi của người dân miền Bắc, người miền Trung gọi là chả cuốn và chả giò là cách gọi của người dân miền Nam.

Nguyên liệu chế biến món nem rán khá đa dạng nhưng cũng hết sức dễ tìm. Để món ăn đầy đủ các thành phần dinh dưỡng chúng ta cần chuẩn bị thịt băm, trứng gà hoặc trứng vịt, hành tây, hành lá, cà rốt, su hào, giá đỗ, rau mùi, rau thơm, mộc nhĩ, mì hoặc miến,…và một số loại gia vị như mì chính, bột canh, hạt tiêu, nước mắm,…Những gia vị này sẽ giúp món ăn thêm phần đậm đà, hấp dẫn. Một thứ không thể thiếu đó chính là bánh đa nem. Bánh đa nem được làm từ gạo và khi chọn ta cần lựa những lá bánh mềm, dẻo để khi gói không bị vỡ.

Để có được món nem rán thơm phức hoàn hảo, trước hết chúng ta cần sơ chế các nguyên liệu đã chuẩn bị. Chúng ta ngâm nấm và mộc nhĩ cho đến khi chúng nở ra rồi rửa sạch, thái nhỏ. Đồng thời các loại rau củ cũng gọt vỏ, rửa sạch và thái. Mì hoặc miến ngâm nước ấm trong khoảng năm phút rồi cũng cắt thành từng đoạn ngắn. Sau đó, cho tất cả các nguyên liệu vào âu hoặc bát to, đập thêm trứng, nêm thêm gia vị rồi trộn đều.

Số trứng dùng để làm nem không nên quá nhiều vì như thế sẽ khiến nhân nem ướt rất khó cuộn và cũng không nên quá ít vì nem sẽ bị khô. Vì vậy, khi đập trứng ta nên đập lần lượt từng quả để ước lượng lượng trứng phù hợp. Màu cam của những sợi cà rốt, màu trắng của mì, màu xanh của rau, màu vàng của trứng,… tất cả hòa quyện với nhau trông thật hài hòa. Chúng ta sẽ ướp phần nhân nem từ 5 đến 10 phút để các gia vị ngấm đều.

Tiếp theo, chúng ta trải bánh đa nem trên một mặt phẳng rồi cho nhân nem vào cuộn tròn. Bánh đa nem có loại hình tròn, hình vuông, cũng có loại hình chữ nhật, tùy theo sở thích mà mỗi người lại lựa chọn những loại bánh đa nem khác nhau. Nếu muốn bánh đa nem mềm và giòn thì trước khi cuốn nem nên phết lên bánh đa nem một chút nước giấm pha loãng với đường và nước lọc.

Chúng ta nên gấp hai mép bánh đa nem lại để phần nhân nem không bị chảy ra ngoài. Sau đó, đun sôi dầu ăn rồi cho nem vào rán. Khi rán nên để nhỏ lửa và lật qua lật lại để nem được chín vàng đều rồi vớt ra giấy thấm để nó hút bớt dầu mỡ, tránh cảm giác bị ngấy khi thưởng thức.

Nước chấm là thứ không thể thiếu để món nem trở nên đậm đà. Muốn có nước chấm ngon, chúng ta cần chuẩn bị một chút đường, tỏi, giấm, ớt, chanh và nước mắm. Đầu tiên, ta hòa tan đường bằng nước ấm rồi cho thêm tỏi, ớt đã băm nhỏ. Sau đó đổ từ từ giấm và nước mắm vào rồi khuấy đều cho các gia vị ngấm đều. Ta có thể thay giấm bằng chanh hoặc quất. Tùy khẩu vị của mỗi người mà nước chấm có độ mặn ngọt khác nhau.

Cuối cùng, bày nem ra đĩa, trang trí thêm rau sống, cà chua hay dưa chuột thái lát để đĩa nem trông thật đẹp mắt. Những bông hồng được làm từ cà chua, những bông hoa được tỉa từ dưa chuột sẽ khiến món ăn vô cùng hấp dẫn. Nem rán chấm với nước chấm tỏi ớt sẽ mang lại cảm giác rất thú vị. Bánh đa nem vàng giòn cùng nhân nem thơm phức quyện hòa với nhau cùng vị cay cay của ớt, chua chua của giấm, ngòn ngọt của đường sẽ khiến những ai thưởng thức nó không bao giờ có thể quên được mùi vị đặc biệt này.

Nem rán đã trở thành một món ăn phổ biến trên khắp đất nước Việt Nam. Nó không chỉ có mặt trong những bữa cơm bình dị thường nhật mà còn xuất hiện trong mâm cơm thờ cúng tổ tiên. Đây là món ăn mang ý nghĩa trang trọng, cao quý. Ngoài ra nem rán còn dùng để ăn kèm với bún đậu và các món ăn khác. Giữa tiết trời se lạnh như thế này còn gì tuyệt vời hơn khi thưởng thức món em rán nóng hổi. Sự kết hợp các nguyên liệu làm nên nhân nem như mang một ý nghĩa biểu tượng về sự đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của người dân đất Việt.

Nem rán không chỉ là món ăn giàu chất dinh dưỡng mà còn là món ăn góp phần tạo nên nền ẩm thực Việt với những đặc trưng và sự độc đáo riêng biệt. Món ăn này tuy dễ thực hiện nhưng lại đòi hỏi sự kì công và khéo léo nên người chế biến cần có sự tập trung nhất định. Đây còn là một trong những món ăn thu hút khách quốc tế khi đến thăm Việt Nam. Có thể nói, món nem rán nói riêng và ẩm thực Việt nói chung đang ngày càng khẳng định được giá trị trên thế giới.

Đăng bởi: Hiếu Nguyễn

Từ khoá: 9 bài văn thuyết minh về một món ăn hay nhất

Văn Mẫu Lớp 9: Đoạn Văn Thuyết Minh Về Con Trâu (4 Mẫu) Những Bài Văn Mẫu Lớp 9 Hay Nhất

Đoạn văn thuyết minh về con trâu – Mẫu 1

Trâu vốn là loài vật quen thuộc gắn bó với đời sống Việt Nam. Hình ảnh con trâu hiền lành chăm chỉ gắn bó với công việc. Loài trâu Việt Nam được thuần hóa và được bắt đầu từ trâu đầm lầy có đặc tính hiền lành, dễ bảo không hung dữ và nổi loạn như trâu rừng và trâu không thuần. Trâu được nuôi rộng rãi ở Việt Nam và đặc biệt là những vùng nông thôn. Giống đực thì có thân hình to, béo hơn trâu cái, nó có hai cái sừng to và dài trên đầu, cong vút, trán rộng phẳng còn trâu cái thì có thân hình gầy hơn trâu đực nhưng lại linh hoạt trong việc di chuyển. Chân trâu rất to và chắc có thể chống đỡ cơ thể. Đuôi trâu ta và dài thường phe phẩy để đuổi những con vật như muỗi, ruồi. Chính những đặc điểm này lên trâu mới thích hợp với việc ruộng lúa, dễ nuôi, dễ bảo nên có thể chung sống hòa thuận với người nông dân.

Đoạn văn thuyết minh về con trâu – Mẫu 2

Sinh ra từ làng, từ nhỏ em đã được dạy :”Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Chính vì vậy, em luôn coi con trâu như người bạn và thành viên trong gia đình mình. Chú trâu nhà em được mua về từ lúc còn là con nghé con bé bỏng và hiếu động. Lúc mới về, cậu ta nhỏ, nhút nhát và còn hơi lạ. Nhưng dần dần, cũng quen và khá nghịch ngợm. Lớn hơn thì có vẻ “nghiêm túc, người lớn” hơn. Chú trâu nhà em có bộ lông màu xám. Chú ta nặng ký lắm, tận gần 500kg, thuộc dạng bự nhất trong đám trâu trong làng. Hàng xóm thường hỏi bố mẹ em chăm sao mà khéo thế? Bốn cái chân của nó to và chắc khỏe, vì cần phải làm nhiều việc nặng như kéo xe, cày bừa phụ con người. Hai cái tai to bằng bản tay hay ve vẩy để đuổi mấy con côn trùng. Cặp sừng thì to ơi là to, cong vút và nhọn. Ai mà lạ thì nhìn cặp sừng ấy của nó thì hãi lắm, chứ em thì quen rồi với cả chú ta hiền lắm sẽ không húc ai. Cặp sừng như để trang trí thể hiện đẹp mã thôi ý mà. Mũi của nó được bố em xỏ dây để có thể buộc và điều khiển khi di chuyển, chắc nó cũng khó chịu nhưng phải làm thế để nhắc nhở chứ nó làm sao hiểu khi nào cần sang trái, sang phải đâu. Con trâu này có cái bụng căng tròn, vì lúc nào cũng được cho ăn no nê. Nó có thói quen nhai lại nữa, thường ra đồng cứ ăn nhộm nhoạm cho đầy bụng, rồi khi về nhà nằm bẹp lại nhai lại cho kĩ. Trâu vừa là công cụ sản xuất vừa của gia đình vừa là bạn của em. Khi đi thả diều em rất hay ngồi trên lưng trâu. Kể cả khi mang sách ra đồng, em cũng hay tựa vào lưng trâu để đọc sách. Chưa bao giờ em coi nó chỉ như là một con vật bình thường. Với em nó là một điều đặc biệt gắn liền với những năm tháng tuổi thơ tươi đẹp.

Đoạn văn thuyết minh về con trâu – Mẫu 3

Hình ảnh con trâu còn in đậm trong kí ức của những đứa trẻ vùng quê. Chắc không ai quên Đinh Bộ Lĩnh, người làm nên kì tích thống lĩnh 12 sứ quân, đã có một tuổi thơ gắn bó với chú trâu trong trò đánh trận giả hay trò đua trâu đầy kịch tính. Chắc mỗi chúng ta đều có lần bắt gặp những hình ảnh rất đặc trưng, rất nên thơ của làng quê Việt Nam, đó là hình ảnh chú bé mục đồng ngồi vắt vẻo trên lưng trâu đọc sách hay hình ảnh chú cũng đang ngồi trên lưng trâu nghiêng nghiêng cái đầu trái đào với cây sáo trúc… Những hình ảnh tuyệt vời đó đã trở thành nguồn cảm hứng cho những nghệ nhân làng tranh Đông Hồ và cũng là nguồn cảm hứng cho các tác giả dân gian:

Ngày nay, nhiều loại máy móc hiện đại đã xuất hiện trên cánh đồng làng Việt Nam nhưng con trâu vẫn là con vật không thể thiếu đối với người nông dân. Hình ảnh con trâu cần cù, chung thủy mãi mãi in sâu trong trái tim mỗi người dân Việt Nam.

Đoạn văn Thuyết minh con trâu chi tiết

Đối với người nông dân, con trâu là một tài sản vô cùng quý giá và quan trọng, đặc biệt là người nông dân xưa. Trong xã hội cũ, trâu đối với người nông dân là vật quý, nó quyết định đến vị thế xã hội, sự giàu, nghèo của mỗi người. Và trâu còn được người nông dân Việt yêu quý bởi những lợi ích nhiều mặt về vật chất và tinh thần. Những chú trâu lông xám, hoặc xám đen, thân hình vạm vỡ, thấp, ngắn, bụng to, mông dốc, sừng hình lưỡi liềm và hai đai trắng ở cổ và hai xương ức, chính là trâu Việt Nam, chúng được thuần hoá từ trâu rừng với sức bền dai, thân hình vạm vỡ. Những chú trâu này đã đem lại nhiều lợi ích vật chất cho người nông dân Việt. Đó là làm công cụ lao động đắc lực. Trâu thường kéo một ngày 3-4 sào ruộng. Không những thế, chúng còn là phương tiện vận chuyển hàng hoá và thóc lúa. Những chú trâu Việt vừa thân thiện vừa có lợi ích nhiều. Chính vì thế, ông bà ta xưa có câu “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Trong đời sống vật chất của người nông dân không thể thiếu những món ăn từ sữa và thịt trâu. Trâu có thể cung cấp một lượng thực phẩm dồi dào và lớn. Trâu cái cho tỉ lệ thịt xẻ 42%, trâu thiến là 45% và trâu đực hai tuổi là 48%. Ngoài ra trong một chu kì vắt sữa, trâu có thể cho 400 – 500kg sữa. Khả năng cho phân của trâu cũng rất lớn, nhờ có phân trâu mà đồng ruộng, cây cối ớ các làng quê thường xanh tốt. Có thể nói, những lợi ích từ trâu là rất nhiều, thế nên chúng luôn được người nông dân yêu quý và coi trọng. Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, nhiều người dân rất ưa dùng hàng Mĩ nghệ. Và bạn có biết những đồ vật như lược, trống, quai cập, giày dép là làm từ đâu không? Một số được gia công bằng nguyên liệu từ trâu đấy các bạn ạ. Sừng trâu được người thợ dùng làm lược, những chiếc lược giản dị và xinh xắn. Da trâu được dùng để làm trống, và còn nhiều hàng tiêu dùng khác nữa. Trâu như người bạn thân gắn bó đối với đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam.

Advertisement

Thuyết Minh Về Bài Thơ Bếp Lửa ❤️️ 10 Bài Văn Hay Nhất

Thuyết Minh Về Bài Thơ Bếp Lửa ❤️️ 10 Bài Văn Hay Nhất ✅ Đón Đọc Mẫu Văn Đặc Sắc Giúp Học Sinh Luyện Tập Và Nâng Cao Cách Viết Văn.

Mẫu Dàn Ý Thuyết Minh Về Bài Thơ Bếp Lửa giúp các em có thể triển khai bài văn ấn tượng và đầy đủ ý nhất.

Mở bài: Giới thiệu bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt và hình ảnh sáng tạo tiêu biểu đặc sắc nhất của bài thơ: hình ảnh bếp lửa.

Thân bài:

Bài thơ Bếp lửa ra đời vào năm 1963. Thời kì này cả nước đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp. Miền Bắc đang tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục chiến đấu chống lại sự xâm lược của đế quốc Mĩ.

Hình ảnh bếp lửa trong bài thơ gắn liền với thời kì kháng chiến chống Pháp gian khổ của nhân dân ta. Đối với cá nhân tác giả, bài thơ Bếp lửa gợi nhớ lại những kỉ niệm về bà và những năm tháng xa bố mẹ được bà yêu thương, chăm sóc ân cần.

Hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà tần tảo, gợi lên lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của cháu đối với bà.

Bài thơ không chỉ bó hẹp trong tình cảm gia đình mà còn thể hiện tình yêu quê hương, đất nước. Tình cảm kính yêu, biết ơn đối với người bà gắn liền với tình cảm yêu mến, tự hào về quê hương, đất nước. Do đó, tinh thần chiến đấu của người cháu xuất phát từ tình yêu bà và tình yêu xóm làng.

Kết bài: Hình ảnh bếp lửa là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ. Qua đó, nhà thơ thể hiện tình cảm kính yêu, biết ơn đối với người bà đã hi sinh cả đòi vì con cháu.

Xem Thêm Bài 🌼 Thuyết Minh Về Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó ❤️️ 15 Bài Văn Hay

Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Ông viết bài thơ Bếp lửa năm 1963 khi còn là sinh viên đang học đại học tại nước ngoài. Bếp lửa và Bằng Việt để lại ấn tượng sâu sắc về những tình cảm thuần hậu chân chất rất Việt nam.

Bằng Việt tên là Nguyễn Việt Bằng, sinh 1941, quê ở Thạch Thất – Hà Tây (nay là Hà Nội). Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX, trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Thơ Bằng Việt tài hoa, thường nghiêng về một lời tâm sự, một sự trao đổi nghĩ suy, nhưng vẫn trẻ trung, hồn nhiên và gây được cảm giác gần gũi, thân thiết đối với người đọc. Một đặc điểm nữa của thơ Bằng việt là sâu lắng trầm tư thích hợp với người đọc thơ trong sự trầm tĩnh, vắng lặng.

Đó là dấu ấn riêng của thơ Bằng Việt lưu lại trong ký ức người đọc. Ông là một trong số không nhiều nhà thơ trẻ được bạn đọc tin yêu ngay từ ban đầu. Sau tập thơ Hương cây bếp lửa in chung với Lưu Quang Vũ, ông có các tập thơ: Những khoảng trời, Đất sau mưa, Khoảng cách giữa lời… Tác giả đã được nhận Giải nhất văn học – nghệ thuật Hà Nội năm 1967 với bài thơ Trở lại trái tim mình. Giải thưởng chính thức về dịch thuật văn học quốc tế và phát triển giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa Bình (Liên Xô) trao tặng năm 1982.

Bài thơ Bếp lửa được Bằng Việt sáng tác vào năm 1963 khi đang học Đại học ở nước Nga, sau được in trong tập thơ Hương cây – bếp lửa. Bài thơ nói về tình bà cháu vừa sâu sắc, vừa thấm thía trong những năm đất nước gian khổ khó khăn. Gợi lại ký ức tuổi thơ, kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu qua hình tượng bếp lửa, ngọn lửa, bàn tay bà nhóm lửa để ca ngợi đức hy sinh, sự tần tảo và tình thương bao la của bà.

Qua đó thể hiện sự kính yêu thiết tha, lòng trân trọng và biết ơn của cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước. Bài thơ còn biểu hiện một triết luận thầm kín: những gì là thân thiết nhất của mỗi tuổi thơ mỗi con người, đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ họ trong suốt cuộc đời.

Đến với Bếp lửa, ta bắt gặp giọng thơ nhẹ nhàng, mộc mạc mà thấm thía, sâu xa, phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm. Hình tượng thơ mang nhiều ý nghĩa biểu tượng và chiều sâu triết lí.

Trong cuộc sống hiện đại sẽ không còn nhiều người biết đến bếp lửa như bếp lửa của bà ở nơi quê nghèo ấy. Nhưng Bếp lửa và nhà thơ Bằng Việt mãi khơi gợi cho người đọc những kỉ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam.

Đón Đọc Bài 💦 Thuyết Minh Về Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính ❤️️ 15 Mẫu

Bằng Việt sinh năm 1941, quê tỉnh Hà Tây. Bằng Việt thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông thường đi vào khai thác những kỉ niệm, những kí ức thời thơ ấu và gợi những ước mơ tuổi trẻ. Thơ Bằng Việt sâu trầm, tinh tế, bình dị dễ làm lay động lòng người.

Bài thơ Bếp lửa được sáng tác năm 1963 khi tác giả rời xa quê hương học ngành luật ở Nga. Từ xa tổ quốc, nhà thơ bồi hồi nhớ về những kỉ niệm thời ấu thơ, nhớ về quê hương vẫn còn đang trong cuộc chiến đau thương mất mát. Đặc biệt hình ảnh bếp lửa nồng đượm và người bà hiền hậu đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc.

Mở đầu bài thơ hiện lên hình ảnh bếp lửa ấm áp trong làn sương lạnh chốn đồng quê:

Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, khẳng định hình ảnh “bếp lửa” như một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ. Đoạn thơ làm hiện hình lên trong tâm trí người đọc hình ảnh bếp lửa quen thuộc, gần gũi của chốn đồng quê Việt Nam bình dị hiền hòa. Một bếp lửa nhỏ lẩn khuất trong sương trong gió nhưng luôn nồng đượm và ấm áp. Trong mái lá nhà tranh, e ấp trong lũy tre làng từng đêm từng ngày bếp lửa tắt rồi lại được nhóm lên.

Mấy ai là người Việt Nam mà không nhớ đến hình ảnh ấy. Bằng Việt đã lọc bỏ hết mọi yếu tố xung quanh để cho bếp lửa trở thành hình ảnh trung tâm, gây chú ý sâu sắc đối với người đọc. Ánh sáng và hơi ấm dường như tỏa khắp không gian, ấm vào cả lòng người.

Bếp lửa ấy không yên lặng mà nó luôn vận động. Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến dáng hình bập bùng, chập chờn của ngọn lửa trong kí ức. Ngọn lửa hắt hiu, chờn vờn theo gió, ấp iu biết bao nồng đượm, biết bao tình cảm mến yêu của con người. Hai từ láy “ấp iu” gợi nhớ đến bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chăm chút của người nhóm lửa, lại rất chính xác với công việc nhóm bếp hằng ngày.

Từ đôi bàn tay cằn cỗi bà, ngọn lửa đã cháy lên. Rất tự nhiên, hình ảnh bếp lửa đã làm trỗi dậy tình yêu thương vốn đã rất nồng ấm trong tim người cháu: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.

Tình thương tràn đầy của cháu đã được bộc lộ một cách trực tiếp và giản dị. Đằng sau sự giản dị ấy là cả một tấm lòng, một sự thấu hiểu đến tận cùng những vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà. Ngọn lửa ấy đã trải qua bao nắng mưa gió rét để bùng cháy lên mỗi sớm, mỗi chiều. Ngọn lửa ấy cháy lên cùng với niềm vui, ánh sáng và niềm tin vững chắc vào cuộc sống dù đang còn biết bao gian khổ, nguy nan.

Ba câu thơ mở đầu đã diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với những kí ức, hồi tưởng của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái quát tình cảm của người cháu với cuộc đời lam lũ của người bà.

Từ hình ảnh bếp lửa trong tâm tưởng, nhà thơ tìm về với kí ức tuổi thơ những ngày sống cùng bà. Nhà thơ nhớ rất rõ từng giai đoạn thời gian bởi nó gắn với những kỉ niệm không thể nào quên. Hồi tưởng bắt đầu từ hình ảnh bếp lửa gắn với người bà.

Bà và bếp lửa là chỗ dựa tinh thần, là sự chăm chút, đùm bọc dành cho cháu. Bếp lửa của quê hương, bếp lửa của tình bà lại gợi thêm một kỉ niệm tuổi thơ – kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về. Tiếng chim tu hú được nhắc lại đến bốn lần tạo nên một sự ám ảnh lớn.

Trong tâm lí con người, con chim tu hú luôn mang đến cho con người những điều không may mắn. Nó là đại diện của những gì xấu xa, ma quái, đầy chết chóc. Tiếng kêu u uất, đứt quãng, sầu bi của loài chim giấu mặt này luôn khiến cho người ta bất an, lo lắng. Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm, nhớ mong.

Phải chăng đó chính là tiếng đồng vọng của đất trời để an ủi, sẻ chia với cuộc đời lam lũ của bà. Có lẽ, lúc ấy tác giả không hề biết điều đó, lắng nghe âm thanh tiếng chim như dấu hiệu duy nhất với niềm tin vào sự đồng cảm trong sự sống đầy khó khăn của mình. Bởi thiên nhiên luôn là bạn, luôn đồng tình và không bao giờ phản bội con người.

Người bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Tình cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Tổ quốc.

Bếp lửa còn là biểu hiện cụ thể và đầy gợi cảm về sự tảo tần, chăm sóc và yêu thương của người bà dành cho cháu con. Bếp lửa là tình bà ấm nồng, là tay bà chăm chút. Bếp lửa gắn với bao vất vả, cực nhọc đời bà. Ngày ngày bà nhóm bếp lửa là nhóm lên sự sống niềm vui, tình yêu thương, niềm tin, và hi vọng cho cháu con, cho mọi người.

Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt biểu hiện một triết lí sâu sắc, đọng lại trong ta biết bao cảm phục. Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời. Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất.

Chia sẻ cơ hội 💧 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 💧 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Thuyết Minh Về Tác Giả Và Bài Thơ Bếp Lửa giúp các em có thêm nhiều kiến thức hay về tác phẩm nổi tiếng này.

Bằng Việt bắt đầu làm thơ từ những năm 60 của thế kỉ XX. Ông là nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.Thơ ông toát lên vẻ đẹp trong sáng mượt mà “như những bức tranh lụa”; rất đằm thắm và sâu sắc khi viết về những kỉ niệm tuổi ấu thơ, tuổi học trò, tình cảm gia đình…

Bài thơ “Bếp lửa” là một trong các bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất cho đặc điểm thơ, phong cách nghệ thuật và sự nghiệp cầm bút của ông. Tác phẩm được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên ngành luật bên Liên Xô, là tập thơ đầu tay của Bằng Việt, sau được đưa vào tuyển tập “Hương cây – Bếp lửa” cùng với Lưu Quang vũ. Qua bài thơ người đọc cảm nhận được tình cảm bà cháu bình dị, sâu sắc, cảm động và rất đỗi thiêng liêng, rất đáng trân trọng.

Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm. Điều đó được gợi ra qua hình ảnh bếp lửa quê hương và hình ảnh người bà. Từ đó mà người cháu (chính là Bằng Việt) bộc lộ nỗi nhớ về những kỉ niệm thời ấu thơ và được sống trong sự yêu thương, chăm sóc của bà. Đồng thời thể hiện niềm biết ơn, sự kính trọng của người cháu đối với người bà, đối với gia đình, đối với quê hương, đất nước.

Trước hết là hình ảnh “bếp lửa” – nơi khơi nguồn cảm xúc nỗi nhớ, hồi tưởng về người bà kính yêu. Ở phương xa, người cháu luôn hướng về quê nhà, nơi có gia đình, có người thân yêu, có bà và có cả những kỉ niệm ầu ơ khi còn nhỏ. Và dòng cảm xúc hồi tưởng ấy được bắt đầu từ hình ảnh “bếp lửa” yêu thương:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm / Một bếp lửa ấp iu nồng đượm / Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

Hình ảnh bếp lửa “chờn vờn sương sớm” giàu tính chất tả thực, gợi lên hình ảnh một bếp lửa ẩn hiện bập bùng cháy trong làn sương khói của buổi sớm mai. Những đốm than hồng đỏ rực nồng đượm sự ấp ủ, được nhóm lên bởi bàn tay dịu dàng, cần mẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người bà. Đồng thời, cái bếp lửa ấy cũng chờn vờn trong tâm trí , trong nỗi nhớ ám ảnh của nhà thơ, ấp ui, trân trọng và giữ gìn.

Từ đó đánh thức dòng hồi tưởng nhớ thương của người cháu về người bà – người nhóm lửa trong mỗi buổi sớm mai: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Cụm từ “biết mấy nắng mưa” gợi tả sự cần cù, chịu khó, vất vả, giàu đức hi sinh của người bà. “Thương” là tình cảm chân thành, xuất phát từ trái tim giàu tình yêu thương, sự sẻ chia vả bao hảm cả sự kính trọng, niềm biết ơn sâu sắc, cùng nỗi nhớ khôn nguôi của người cháu dành cho bà của mình.

Như vậy, với ba câu thơ mở đầu tác phẩm, Bằng Việt đã thể hiện tình cảm nỗi nhớ da diết của mình về bếp lửa quê hương và người bà thân yêu. Có thể coi đây là khúc dạo đầu viết về nỗi nhớ. Từ đó định hướng cảm xúc cho toàn bài. Bài thơ sẽ là lời tâm tư, nỗi nhớ của người cháu về bếp lửa, về người bà và cả những kỉ niệm buồn vui khi còn bên cạnh bà.

Nhắc đến tuổi thơ, có lẽ trong mỗi chúng ta luôn thường trực nghĩ tới những năm tháng hồn nhiên, tinh khôi, trong trẻo khi được sống trong sự đủ đầy cả về vật chất và tình cảm yêu thương của cha mẹ, người thân. Nhưng với những thế hệ như lớp nhà thơ Bằng Việt thì điều đó làm sao có được khi họ phải sống trong những năm tháng bom rơi đạn lạc chiến tranh, sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc.

Trong những năm đất nước có chiến tranh, những khó khăn, ác liệt, biết bao nhiêu đau thương mất mát vẫn luôn in sâu trong tâm trí của người cháu. Và có một kỉ niệm trong hồi ức mà người cháu chẳng bao giờ quên được dù đã lớn khôn.

Nỗi khổ sở, đau đớn khi giặc giã kéo về làng tàn phá, thiêu hủy nhà cửa, xóm làng, bà vẫn âm thầm chịu đựng, tự gắng gượng đứng lên chống đỡ nhờ sự đùm bọc, giúp đỡ của dân làng. Bà không muốn người con ở chiến khu biết được việc ở nhà mà ảnh hưởng đến công việc trong quân ngũ. Đó phải chính là phẩm chất cao quý của những người mẹ Việt Nam anh hùng trong chiến tranh.

Từ “bếp lửa” bài thơ đã gợi đến “ngọn lửa” với ý nghĩa trừu tượng và khái quát. Bếp lửa bà nhen lên trong mỗi buổi sớm mai và buổi chiều tà không đơn giản chỉ bằng nguyên liệu của tự nhiên, mà cao hơn đã được tác giả nâng lên thành biểu tượng cho tình yêu thương và niềm tin trong sáng, mãnh liệt. Điệp ngữ “một ngọn lửa” vừa có ý nghĩa nhấn mạnh đến sự sống dai dẳng bất diệt của ngọn lửa; lại vừa có ý nghĩa thể hiện tình yêu thương mà người bà dành cho cháu.

Từ đó bếp lửa trở nên kì lạ, thiêng liêng “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”. Từ cảm thán “Ôi” kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng như phát hiện ra chân lí, điều kì diệu giữ cuộc đời bình dị. Bếp lửa và bà như hóa thân vào làm một, luôn rực cháy, bất tử thiêng liêng.

Chính vì thế nhớ về bà là nhớ về bếp lửa, nhớ về cội nguồn dân tộc. Bài thơ khép lại bằng câu thỏi tu từ thể hiện nỗi nhớ khôn nguôi và niềm hoài vọng xa xăm của người cháu luôn đau đau, thiết tha nhớ tới tuổi thơ, nhớ tới gia đình, nhớ tới quê hương, đất nước.

Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt là một bài thơ dạt dào cảm xúc. Hình tượng bếp lửa được thể hiện độc đáo qua giọng điệu tâm tình, thiết tha; nhịp điệu thơ linh hoạt; kết hợp với lối trùng điệp được sử dụng biến hóa, khiến cho lời thơ với hình ảnh bếp lửa cứ tràn ra, dâng lên, mỗi lúc thêm nồng nàn, ấm nóng. Từ đó, khiến cho người đọc cảm thấy thật thấm thía, xúc động trước nỗi nhớ nhung da diết về những kỉ niệm ấu thơ của người cháu và cả tấm chân tình của nhà thơ đối với người bà kính yêu.

Chia Sẻ Bài 🌹 Thuyết Minh Về Bài Thơ Đồng Chí ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Thuyết Minh Về Bài Thơ Bếp Lửa Ngắn Gọn và súc tích thể hiện qua từng câu văn, cách dùng từ ngữ sinh động và sáng tạo.

Bằng Việt – nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ “Bếp lửa” được ông sáng tác năm 1963 lúc 19 tuổi và đang đi du học ở Liên Xô. Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê hương, đất nước.

Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. Ở nơi đất khách quê người, bắt gặp hình ảnh bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà:

Hình ảnh “chờn vờn” gợi lên những mảnh kí ức hiện về trong tác giả một cách chập chờn như khói bếp. Bếp lửa được thắp lên, nó hắt ánh sáng lên mọi vật và tỏa sáng tâm hồn đứa cháu thơ ngây. Bếp lửa được thắp lên đó cũng là bếp lửa của cuộc đời bà đã trải qua “biết mấy nắng mưa”. Từ đó, hình ảnh người bà hiện lên. Dù đã cách xa nửa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận được sự vỗ về, yêu thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà.

Trong cái khoảnh khắc ấy, trong lòng nhà thơ lại trào dâng một tình yêu thương bà vô hạn. Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ quên được và cũng chính từ đó, sức ấm và ánh sáng của tình bà cháu cũng như của bếp lửa lan tỏa toàn bài thơ. Chính “mùi khói” đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các ngõ ngách. Cũng chính cái mùi khói ấy đã quyện lại và bám lấy tâm hồn đứa trẻ.

Dù cho tháng năm có trôi qua, những kí ức ấy cũng sẽ để lại ít nhiều ấn tượng trong lòng đứa cháu để rồi khi nghĩ lại lại thấy “sống mũi còn cay”. Là mùi khói làm cay mắt người người cháu hay chính là tấm lòng của người bà làm đứa cháu không cầm được nước mắt?

Cháu cùng bà nhóm lửa, nhóm lên ngọn lửa của sự sống và của tình yêu bà cháy bỏng của một cậu bé hồn nhiên, trong trắng như một trang giấy. Chính hình ảnh bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu đó đã gợi nên một liên tưởng khác, một hồi ức khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ.

Hình ảnh ngọn lửa tỏa sáng trong câu thơ, nó có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngọn lửa của tình yêu thương, ngọn lửa của niềm tin, ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu, ngọn lửa đỏ hồng soi sáng cho con đường đứa cháu. Bà luôn nhắc cháu rằng: Nơi nào có ngọn lửa, nơi đó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu. Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương những người ruột thịt và nhắc cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩa tình, những năm tháng khó khăn.

Đứa cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ của đứa cháu đã được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó.

Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt đã đem đến cho người đọc cảm giác thật ấm áp. Bếp lửa của nhà thơ là bếp lửa của tình yêu thương, của niềm tin, của sức mạnh, là cội nguồn nâng đỡ con người trên hành trình dài rộng của cuộc đời. Bài thơ làm xúc động lòng người trong từng con chữ, làm ấm lên tình bà cháu trong ánh lửa ấp iu nồng đượm.

Và thật tự nhiên, bếp lửa của Bằng Việt đã gợi nhắc trong ta bao nỗi nhớ về những bếp lửa, những vùng trời kỉ niệm của riêng mình. Để rồi, ta càng thấy yêu thương hơn biết bao những con người thân yêu, những sự vật quen thuộc, gần gũi hằng ngày quanh ta. Bếp lửa của Bằng Việt vì thế càng trở nên kì diệu!

Những nỗi nhớ đó thể hiện sâu sắc với hình ảnh trong người bà và tác giả mong ước sẽ được quay trở lại những ngày đó sự mong ước của tác giả lớn lao và nó khắc họa sâu sắc trong trái tim của tác giả, những sự thấu hiểu và niềm vui khi được sống bên bà những hình ảnh đó mang những giá trị to lớn và vô cùng sâu sắc.

Niềm vui và những sự thấu hiểu đó đã gắn bó và khắc sâu trong tâm trí của tác giả, những nỗi niềm đó, những sự thấu hiểu và khắc khoải trong trái tim của ông, những nỗi niềm mong ước mong được sống những ngày ấm áp bên bà và ấm đượm trong những hình ảnh bếp lửa đó, hình ảnh mang những đặc trưng sâu sắc.

Hình ảnh bếp lửa đã thể hiện được sự gắn bó của người cháu với bà của mình, tình yêu thương đó ngày càng được ấm đượm và nó thể hiện những nỗi nhớ thương sâu sắc đối với những người bà của mình, những hình ảnh gợi tả những nỗi nhớ mong và sâu sắc vô tận.

Đón Đọc Bài 🍀 Thuyết Minh Về Truyện Ngắn ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Bài Thơ Bếp Lửa Văn Ngắn là tài liệu tham khảo hữu ích để các em có thể ôn tập hiệu quả nhất.

Những kỉ niệm tuổi ấu thơ ai mà chẳng có. Tế Hanh có “con sông xanh biếc” với những người bạn bè bơi lội, vui đùa. Giang Nam có “thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường”. Nguyễn Duy có một sân “chơi đáo, chơi vòng” của bạn bè cùng lứa, có tuổi thơ thả hồn với đồng ruộng. Bằng Việt cũng có một tuổi thơ da diết vọng về với hình ảnh người bà thân yêu. Chính tình cảm bà cháu thân thương, ấm áp đã đan dệt thành một bài thơ đầy xúc động và khơi gợi nhiều ý nghĩa. Đó là bài thơ “Bếp lửa”.

Khi nhớ về quê hương, người ta thường nhớ về những kỉ niệm gắn bó với làng quê có con sông xanh biếc, cây đa, bến nước, sân đình… Những dòng hồi tưởng của Bằng Việt lại bắt đầu từ hình ảnh thân thương về bếp lửa:

Từ láy tượng hình “chờn vờn” giúp ta hình dung ánh lửa hồng khi mờ khi tỏ trong sớm mai, gợi về cái mờ nhòa của kí ức theo thời gian. Người cháu xa nhà không thể nào quên được bếp lửa bình dị, thân quen. Không chỉ thấy cái “chờn vờn” của ngọn lửa mà cháu còn cảm nhận được cái hơi ấm của màu than đỏ đang “ấp iu nồng đượm”. Từ láy “ấp iu” vừa diễn tả chính xác công việc nhóm lửa vừa gợi bàn tay khéo léo, kiên nhẫn và tấm lòng chăm chút của người nhóm bếp. Tình cảm trào dậy một cách tự nhiên:

“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

“Nắng mưa” là hình ảnh ẩn dụ quen thuộc gợi ra bao vất vả, nhọc nhằn, thăng trầm trong cuộc đời bà để nuôi cháu khôn lớn. Chữ “thương” được dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán đã gói trọn bao cảm xúc của cháu dành cho bà. Từ đây bà và bếp lửa là hai hình ảnh sóng đôi, đi suốt dọc bài thơ và theo cả nỗi nhớ của người cháu. Từ bếp lửa nhớ về người nhóm lửa, ký ức đưa người cháu trở về những năm lên bốn tuổi:

Tuổi thơ của cháu không phải là vòm trời cổ tích cao rộng với những phép màu diệu kì của ông Bụt, bà Tiên. Tuổi thơ của cháu thật nhọc nhằn, quen mùi khói bếp nhà nghèo và có bóng đêm ghê rợ của nạn đói năm 45. Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” diễn tả cái đói triền miên, dai dẳng, cái đói vắt kiệt sinh lực của biết bao nhiêu con người.

Người bố đi đánh xe với con ngựa gầy, tất cả trong mùi khói hun đến nghẹt thở, nao lòng cả tuổi thơ. Nghĩ mà thương tuổi thơ gian khó, nghĩ mà cồn cào một nỗi nhớ thương bà. Cái cay nồng mà người cháu cảm nhận được không phải là mùi khói bếp mà đó chính là dư vị tuổi thơ ám ảnh trong tâm thức bỗng trỗi dậy mạnh mẽ. Năm tháng qua đi nhưng nó đã trở thành vết thương lòng đâu dễ nguôi ngoai.

Tiếng chim râm ran trong vòm lá, trên cánh đồng, cứ khắc khoải kêu hoài, kêu mãi, giục giã cả một khoảng trời, khiến cho lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong. Nhà thơ đang kể chuyện mà như tách hẳn ra để trò chuyện cùng bà:

Những câu chuyện đó là sự từng trải của cuộc đời bà và bà muốn nhắc nhở cháu hãy sống thật tốt, thật có ích cho cuộc đời. Tự nhiên cháu thấy thương bà quá. Cháu thương bà vất vả, lo toan, không biết ngỏ cùng ai chỉ biết tâm tình với chim tu hú mà thôi:

“Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà, / Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

Câu hỏi tu từ đã thể hiện được những cung bậc cảm xúc trong tâm trạng của người cháu. Như vậy hình ảnh “bếp lửa” đã đánh thức kỉ niệm tuổi thơ, ở đó lung linh hình ảnh người và có cả hình ảnh đất nước. Hình ảnh người bà bỗng trở nên cao lớn vĩ đại khi người cháu nhớ về những năm tháng đau thương, vất vả khi giặc tàn phá xóm làng.

Từ bếp lửa bình dị thân quen ấy đã nâng lên thành ngọn lửa. Ngọn lửa không chỉ được nhen lên bằng những nguyên liệu đời thường mà còn được nhen lên từ tấm lòng bao la của bà, được bà ấp ủ, chở che nên không bao giờ vụt tắt. Điệp từ “rồi” kết hợp với hai danh từ chỉ thời gian “sớm”, “chiều” khiến câu thơ vang lên như bước gõ nhịp của thời gian. “Bếp lửa” là hình ảnh tả thực còn “ngọn lửa” được chuyển hóa thành hình ảnh biểu tượng.

Ngọn lửa là những kỉ niệm lòng nâng bước cháu trên chặng đường dài. Ngọn lửa là niềm tin dai dẳng, bền bỉ, bất diệt bà nhen lên trong lòng cháu. Nhờ ngọn lửa ấy mà cháu tin vào chiến thắng của dân tộc. Điệp ngữ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành vừa tạo nhạc tính cho câu thơ khiến lời thơ dồn dập, tha thiết mà mạnh mẽ, xúc động, vừa khẳng định sức sống mãnh liệt, bất tận của ngọn lửa bà nhen.

Mỗi sớm mai bà nhóm lên bếp lửa là nhóm lên niềm yêu thương; nhóm sự chở che, cưu mang đùm bọc giữa ngọt bùi, khoai sắn; nhóm sự sẻ chia, đoàn kết của tình làng, nghĩa xóm; nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ của cháu.

Bà không chỉ là người nhóm lửa mà còn là người truyền lửa và giữ lửa. Bà không chỉ làm công việc khởi đầu của một ngày mà còn làm công việc khởi đầu của một đời người. Từ đây cảm xúc về bà và bếp lửa dâng trào lên mãnh liệt:

“Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!” Người cháu giờ đây đã khôn lớn trưởng thành, nhưng trong sâu thẳm lòng cháu vẫn da diết một nỗi nhớ thương về bà và bếp lửa:

– Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…”

Nơi cháu đang sống với đầy đủ tiện nghi vật chất, khác hẳn với không gian của bà cháu nơi quê nhà, nhưng cháu luôn nhớ về bà, nhớ về ngọn lửa bà nhen. Câu hỏi tu từ ở cuối bài thơ nhắc nhở cháu không nguôi nhớ về những kỉ niệm về bà và bếp lửa.

“Tác phẩm là kết tinh tâm hồn người sáng tác”. Bài thơ “Bếp lửa” đã thể hiện được tất cả tình yêu thương của Bằng Việt đối với người bà kính yêu của mình. Chính tình cảm bà cháu thiêng liêng ấm áp đã đan dệt thành một bài thơ xúc động và mang nhiều ý nghĩa.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Quê hương – hai chữ thiêng liêng mà trong tim mỗi người ai cũng dành một tình cảm riêng. Những tình cảm ấy thật cao đẹp và đáng trân trọng. Ai đi xa nơi đất khách quê người vẫn luôn hướng về quê hương – nơi chôn rau cắt rốn.

Trong tâm khảm mỗi người, ai cũng lưu giữ những âm thanh, cảnh sắc quê nhà, những kỉ niệm cảm động và nhất là tiếng ru ầu ơ, dịu ngọt của mẹ, mái tóc bạc phơ của bà – người đã tần tảo chăm chút, nuôi ta khôn lớn.

Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt đã thổi một nguồn sống mới thức tỉnh những năm tháng tuổi thơ vào lòng triệu con người. Những tình cảm đẹp ấy được diễn tả rất thơ….

Bếp lửa là tiếng thơ của một tấm lòng có cội nguồn của một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế, phong phú và mới mẻ. Trong nỗi nhớ của nhà thơ, hình ảnh người bà bao giờ cũng hiện lên cùng bếp lửa. Vì hoàn cảnh gia đình, bố mẹ đi kháng chiến, tuổi thơ Bằng Việt sống cùng bà. Mỗi ngày của tuổi thơ lận đận đều bắt đầu từ ngọn lửa bà nhen. Sự sống của cháu đã được nhen lên và giữ gìn cùng ngọn lửa ấy. Ở đất nào, ngọn lửa cũng là cội nguồn của sự sống, bếp lửa nào cũng nhọc nhằn, tần tảo, bếp lửa nào cũng nồng đượm, ấp iu.

Trong tâm thức của tác giả, “một bếp lửa ấp iu nồng đượm” luôn túc trực, lắng đọng; hình ảnh bà sóng đôi với hình ảnh bếp lửa, gắn với sự chăm chút cho đứa cháu luôn xa cha mẹ.

“Một bếp lửa” là động đến cõi cao sâu trong kí ức của mỗi người về hơi ấm gia đình nhất là khi xa nhà sống ở nơi xa lạ và điệp ngữ ngày dùng để diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với kí ức, hồi tưởng. Bếp lửa hiện lên nồng nàn trong tình cảm, dạt dào trong cảm xúc.

Toàn bài giọng cảm thương, nhớ nhung da diết như muốn trào dâng lấn át tất cả. Mỗi kỉ niệm thức dậy là biết bao tâm tình sống dậy. Mỗi kỉ niệm được bao bọc trong nỗi nhớ thương vừa trào dâng vừa sâu lắng. Cả bài thơ là một dòng tâm trạng, một dòng hồi ức. Ngần ấy sự việc suốt mấy chục năm trời chỉ xoay quanh hình ảnh bếp lửa của bà.

Lửa là ánh sáng, lửa là hơi ấm. Bếp lửa lặng thầm nuôi dưỡng mọi gia đình, nuôi dưỡng cả sự sống này. Nép mình trong bếp có gì mộc mạc, khiêm nhường hơn bếp lửa? nhưng cũng có gì cao quý thiêng liêng hơn? Cho nên nhớ về bếp lửa là nhớ về bà.

Bằng Việt đã thổi bừng lên hết thảy những bếp lửa “ấp iu nồng đượm” trong ký ức của mỗi chúng ta. Và cả mối tình bà cháu đẹp như trong truyện cổ tích của nhà thơ cũng như riêng của tuổi thơ chúng mình. Trong thơ ca còn có mối tình bà cháu nào cảm động hơn? Mối tình bà cháu đẹp như một dòng sông, dòng sông êm đềm và trong vắt, mặt dòng sông chở đầy kỉ niệm.

Một bếp lửa và một làn sương sớm. Những kỉ niệm trôi qua theo một nhạc điệu tâm tình âm ỉ thầm thì triền miên như nỗi nhớ chất thơ lan tỏa trong từng con chữ có cả sắc màu, hương vị, ký ức và hồn người, tình người lan tỏa vào cảnh, ấp ủ thành tình yêu quê hương.

Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

Đó là lời thốt lên từ niềm trân trọng, biết ơn cũng là lời thốt lên khi chợt nhận ra trong một vật đơn sơ, lại ẩn náu bao điều kì diệu. Hình ảnh bếp lửa cứ cháy, trong những kỉ niệm của tình bà cháu. Cháu bắt đầu biết đến mùi khói từ khi lên bốn, thì đó cũng là những năm đói khổ, chiến tranh ác liệt. Bởi thế mùi khói từ những năm đầu đời đến tận bây giờ vẫn cứ còn nguyên trong kí ức, chẳng thể tiêu tan. “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói”…

Đoạn thơ thật cảm động, dù cho ngọn lửa hung tàn của giặc đang thiêu huỷ làng xóm thì chính bếp lửa ấm cúng, ân cần của bà đang nhen lên sự sống. Bà đã chịu đựng tất cả vất vả, khó khăn, hy sinh, mất mát. Vì vậy những gì bị thiêu cháy trong ngọn lửa dã man, kỳ lạ thay đang hồi sinh trong ngọn lửa của lòng bà.

Ngọn lửa ấy, bếp lửa ấy đã sưởi ấm tâm hồn đứa cháu ngây thơ từ những tháng năm lên bốn. Kì lạ và thiêng liêng nhất là tình yêu quê hương, xứ sở bắt đầu từ sự gắn bó với những gì đơn sơ, bình dị và gần gũi nhất. Tình bà cháu gắn bó với lòng yêu nước thật thiêng liêng, cao cả. Cháu lớn khôn trưởng thành trong đôi bàn tay nâng niu trong tấm lòng yêu thương vô hạn của bà. Ngọn lửa mà bà đã nhóm lên từ “bếp lửa” ấy đã sưởi ấm và soi sáng cuộc đời đi lên phía trước của cháu.

Và đứa cháu hiếu thảo ấy đã lớn, đã đi rất xa nơi bếp lửa của bà, đã biết đến ngọn khói trăm miền, đã vui với ngọn lửa trăm nhà. Nhưng trong lòng cháu chỉ nhớ về ngọn khói đã làm nhèm mắt cháu, chì nhớ về ngọn lửa tảo tần nắng mưa nơi góc bếp của bà. Cháu chẳng bao giờ quên “bếp lửa”, bởi đó là cội nguồn, bởi cuộc đời cháu đã được nhen lên từ ngọn lửa ấy. Ngọn lửa của bà đã cháy trong lòng cháu, một bếp lửa mới của cuộc đời đã nhen lên ngọn lửa của sự sống truyền đời, bất diệt!

“Bếp lửa” là bài thơ cảm động, tình cảm dạt dào trong lòng đã tìm đến một giọng điệu, một nhịp điệu thật phù hợp. Ấy là giọng nồng đượm của lửa, ấy là nhịp bập bùng của lửa, giọng kể lể cứ tràn ra, dâng lên một ngày một nồng nàn, ấm nóng…

Bằng Việt đã khéo lựa chọn và sắp xếp để hình ảnh người và bà bếp lửa luôn đi đôi với nhau. Đọc “Bếp lửa” chẳng những thấy được một dòng tâm sự sâu nặng, dạt dào mà nhà thơ còn muốn đề cao một điều rất đỗi giản dị: “Tình yêu quê hương đất nước bắt nguồn từ những cái cụ thể gần gũi, thân thương với mỗi con người”.

Xem Thêm Bài 🌿 Thuyết Minh Về Truyện Ngắn Làng ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay

Thuyết Minh Về Bài Thơ Bếp Lửa Hay Nhất được chúng tôi chọn lọc và chia sẻ rộng rãi đến bạn đọc sau đây.

Bài thơ “Bếp lửa” được viết năm 1963, khi tác giả đang học tập tại Liên Xô. Đây là thời kì đất nước ta đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ là dòng hồi tưởng, suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành về những kỉ niệm tuổi thơ bên bà, bên bếp lửa. Qua đó thể hiện lòng kính yêu, biết ơn bà- đó cũng là tình yêu quê hương đất nước.

Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa ấm áp thân quen, từ đó gợi về những kỉ niệm tuổi thơ bên bà bên bếp lửa. Từ những kỉ niệm tuổi thơ ấy mà người cháu suy ngẫm về bà, về công việc nhóm bếp lửa của bà. Kết thúc bài thơ, trở lại với hiện tại, người cháu trưởng thành hôm nay vẫn nhớ về bà, về bếp lửa.

Cả bài thơ là lời của người của người cháu ở xa vẫn nhớ về bà, về quê hương đất nước được gửi qua hình ảnh bếp lửa. Bếp lửa chính là hình tượng trung tâm, xuyên suốt tác phẩm, cùng với hình tượng người bà để làm nên ý nghĩa tác phẩm. Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa ấm áp, thân quen- bếp lửa khơi nguồn nỗi nhớ:

Điệp ngữ “một bếp lửa” đã nhấn mạnh hình ảnh bếp lửa- hình ảnh khơi nguồn nỗi nhớ. Từ láy “chờn vờn” gợi hình ảnh bếp lửa với ngọn lửa bập bùng khi tỏ khi mờ trong làn sương sớm mai hay làn sương của kí ức thời gian? Đặc biệt từ “ấp iu” là biến của từ “ấp ủ” và “nâng niu” đã gợi lên sức nóng của bếp lửa, vừa gợi công việc nhóm lửa với bàn tay người nhóm khéo léo, kiên nhẫn và cả tấm lòng chi chút của người nhóm lửa. Để rồi từ đó, nó khơi nguồn cho nỗi nhớ: “cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.

Hình ảnh bếp lửa còn gắn với bà, với những kỉ niệm tuổi thơ. Hình ảnh bếp lửa được gợi bằng nhiều giác quan: có thị giác (“chờn vờn sương sớm”), có cảm giác (“ấp iu nồng đượm”) và giờ là khứu giác (“sống mũi còn cay”) đến xúc giác (“hun nhèm mắt cháu”). Không còn khoảng cách thời gian, mọi hình ảnh gắn với bếp lửa đã được tái hiện chân thực, rõ ràng, không còn là kí ức xa xôi nữa!

Không nói mà tình cảm vẫn dạt dào, không hô hào mà người ta vẫn không thể làm ngơ trước sự chân thành của con người. Đó có lẽ là những gì Bằng Việt đã làm khi xây dựng hình ảnh bếp lửa và bà sóng đôi, song hành với nhau, tuy hai mà là một, và rồi chỉ còn trong trí nhớ cháu một cái gì “ấp iu, nồng đượm”. Bếp lửa của những ngày tháng cháu cùng bà vượt qua nạn đói, cùng bà học, cùng bà làm,… Rồi từ hình ảnh bếp lửa mà cháu suy ngẫm về bà, về ngọn lửa bà nhen:

Bếp lửa bà nhen lên mỗi sớm mỗi chiều nay đã thành ngọn lửa. Qua thời gian, năm tháng, qua chiến tranh đói khổ, bếp lửa ấy chưa bao giờ tắt. Bởi nó không chỉ được nhen lên bằng nhiên liệu củi rơm mà từ lòng bà “luôn ủ sẵn”- bà đã nhen lên ngọn lửa của chính lòng mình. Bởi vậy, từ bếp lửa đến ngọn lửa với ý nghĩa trừu tượng khái quát.

Điệp ngữ “một ngọn lửa” cùng các động từ “nhen, chứa” đã khẳng định sự bất diệt của ngọn lửa- ngọn lửa niềm tin tình thương trong lòng bà. Hình ảnh bà lung linh trong ngọn lửa hồng, lồng lộng trong tâm tưởng người cháu. Trong cảm nhận của nhà thơ không chỉ là người nhóm lửa, người giữ lửa mà còn là người truyền lửa- ngọn lửa của sự sống, của niềm tin cho thế hệ mai sau. Rồi bếp lửa bà nhóm lên mỗi sớm mai là bếp lửa của yêu thương, của niềm vui san sẻ.

Đến cuối tác phẩm, hình ảnh vẫn theo cháu về đến thực tại, là lời nhắc nhở của cháu luôn nhớ về bà. Bà và bếp lửa luôn thường trực trong lòng cháu. Ngọn lửa của bà đã trở thành kỉ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng, kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường đời. Lòng biết ơn bà, nhớ về bà hay chính là tình yêu quê hương đất nước của người con xa quê.

Cứ nhẹ nhàng, mộc mạc mà thấm thía, sâu xa, bếp lửa của bà, ngọn lửa của bà, tình yêu thương của bà đã soi tỏ con đường cháu đi. Có thể sau này, trong cuộc sống hiện đại, không còn nhiều biết đến bếp lửa như mảnh quê nghèo ấy nữa nhưng nó đã thành biểu tượng, là hình ảnh của vẻ đẹp con người, nghĩa tình của dân tộc Việt Nam.

Tìm hiểu hướng dẫn 🌵 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🌵 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

Bài Văn Thuyết Minh Về Bài Thơ Bếp Lửa Ấn Tượng, một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Bằng Việt.

“Bếp lửa” là bài thơ tuyệt hay của Bằng Việt. Bài thơ đã đi qua một hành trình nửa thế kỉ, nhưng đọc lúc nào, ta cũng cảm thấy hay, thấy xúc động kì lạ. Giọng thơ ngọt ngào, tha thiết. Hình ảnh người bà đôn hậu, con chim tu hú, kỉ niệm vui, buồn thời thơ ấu,… và hình ảnh bếp lửa, tất cả cứ sống dậy trong tâm hồn ta. Hình ảnh bếp lửa thật đẹp và đầy ấn tượng vì bếp lửa là sự sống, là nguồn hạnh phúc gia đình, là tình thương con cháu của bà. Có bà mới có bếp lửa.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa. Các từ láy: “ấp iu, chờn vờn” được sử dụng thất đắt, thật tài tình, vừa gợi tả ngọn lửa, vừa làm hiện lên người bà đang nhóm lửa:

Cháu đã sống trong lòng bà, đã được bà chăm chút yêu thương, ‘‘Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”. Nhà nghèo, bố mẹ đi công tác xa, nên đã “Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa”. Bếp lửa đã sưởi ấm tình thương, tình bà cháu. Cháu thương bà, cháu muốn được san sẻ cùng chim tu hú khi nghĩ về bếp lửa:

Bà tần tảo, bà vất vả thức khuya dậy sớm để nhóm lửa, làm ngọn lửa, bếp lửa sáng lên, sưởi ấm hạnh phúc gia đình, thấm sâu tình thương vào tâm hồn con cháu. Nhờ thế mà sức sống, nguồn sống, nguồn vui hạnh phúc gia đình dai dẳng, bền bỉ, bất diệt. Các động từ: nhen, ủ, chứa và hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa được tác giả dùng thật đắt, nói lên thật đẹp “niềm tin” nếp sống đó:

Hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa luôn luôn gắn bó với người bà thương yêu. Dù đang sống và học tập ở phương xa, đứa cháu vẫn nhớ khôn nguôi người bà đôn hậu và bếp lửa ở quê nhà. Câu hỏi tu từ khép lại bài thơ làm cho nỗi nhớ bà, nhớ bếp lửa, nhớ gia đình, nhớ quê hương càng trở nên sâu lắng, thiết tha, bồi hồi:

Nhưng chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

– Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

Thơ ca dân tộc chưa có nhiều bài thơ viết về người bà kính yêu trong gia đình: Nguyễn Duy nói về bà ngoại qua bài thơ “Đò Lèn” với kí ức tuổi thơ thật cảm động. “Bếp lửa” của Bằng Việt là một bài thơ cứ cuốn hút lấy tâm hồn tuổi thơ chúng ta. Hình ảnh người bà thân thương và hình ảnh bếp lửa được tác giả nói đến vừa gần gũi thân quen, vừa thiêng liêng kì lạ. Tình cảm là nguồn sáng của tâm hồn, là sức sống của thi ca. “Bếp lửa” quả có bao nguồn sáng và sức sống dào dạt như vậy.

Tham Khảo Bài ❤️️Thuyết Minh Về Một Tác Giả Văn Học ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay

Cùng đón đọc bài văn hay Thuyết Minh Về Bài Thơ Bếp Lửa Chi Tiết giúp các em có thể trau dồi thêm cho mình nhiều phương pháp viết bài hay nhất.

Có rất nhiều tình cảm như tình yêu đôi lứa, tình phụ tử, tình mẫu tử,… đã được đưa vào những bài văn những áng thơ tình tứ chất chứa đầy tình cảm. Nhưng với Bằng Việt thì ông lại viết về tình bà cháu nồng đượm, đằm thắm trong bài “Bếp lửa” thật là xúc động biết bao nhiêu.

“Bếp lửa” từ lâu đã được đánh giá chính là một bài thơ của nỗi nhớ về một bếp lửa tuổi thơ, mà như cũng đã nhớ rành rọt, nhớ ngọn ngành. Nhà thơ đã thật khéo léo và như cũng đã thổi bùng lên một bếp lửa ấp iu nồng đượm đếb rạo rực nhất là trong kí ức để hiện lên tình bà cháu đẹp như trong truyện cổ tích xa xưa vậy.

Dễ dàng có thể nhận thấy được chính trong thơ văn, còn có tình bà cháu nào cảm động hơn thế cơ chứ? Ta như thấy được chính tình bà cháu như một dòng sông, dòng sông êm đềm và trong vắt, đó cũng chính còn có được một dòng sông chở đầy kỉ niệm có thể kể ra như đó là một bếp lửa và một làn sương sớm, tiếng tu hú và giọng kể chuyện của bà.

Rồi lại có những ngày đói khổ làm nhòa mắt đứa cháu còn bé… Và ta dường như cũng đã thấy được lại có những kỉ niệm này xin để nguyên khôi, không dám lược bớt đó chính là những câu thơ chan chứa:

Qủa thực chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu, nhà thơ Bằng Việt đã nói thế, chúng ta cũng thấy cay sống mũi. Tất cả những kỉ niệm chất chứa kia dường như cũng đã lơ đãng trôi theo một nhạc điệu tâm tình âm ỉ, và cũng lại thật thầm thì, triền miên như nỗi nhớ. Ta như cũng đã thấy được cả dòng sông êm đềm và trong vắt vẫn âm thầm chảy.

Con người mỗi chúng ta được dạo trên chiếc thuyền thơ với một tay lái khoan thai biết bao nhiêu, và cũng thật đang say mê với những kỉ niệm thì thấy biển cả hiện ra trước mắt của người cháu khi nghĩ và nhớ về người bà thân yêu của mình.

Người đọc chúng ta dường như cũng đã thấu hiểu hơn được cũng chính ánh sáng của những thứ của quý đó đã từng rọi vào tâm hồn thơ bé của đứa cháu Ngọ lửa dường như cũng đã thật khéo léo như cũng đã nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ. Ta dường như cũng đã thấy được chính nhịp thơ trở nên xôn xao như sự sống sinh sôi, như cây nón xòe lá, như chim non vỗ cánh.

Rồi đứa cháu lớn vụt lên, bay bổng:

Cho đến bây gườ thì người cháu đã đi xa. Nơi cháu đi lại có được ngọn khói trăm tàu Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả”. Nhưng dường như người cháy vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

– Sớm mai này bà nhôm bếp lên chưa?

Sau biết bao nhiêu năm tháng sống ở nước ngoài, giữa ngọn khói trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, thế rồi ngay cả ở giữa những hoa mĩ dễ hấp dẫn lòng người, nhưng nhà thơ tỏ ra không bị choáng ngợp. Có thể nói, dường như chính tình cảm chủ đạo chi phối tâm hồn tác giả được xem chính là những hình ảnh thân yêu quen thuộc của quê hương đất nước, thực sự đã từ lâu gắn bó với tuổi thơ.

Có lẽ chính vì thế nhà thơ đã nhớ về bà – người bà rất đỗi kính yêu của mình. Và tình cảm của người cháu với bà như thực sự đó chính tấm lòng chân thật, thiết tha như nhắn nhớ “sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

Thông qua tác phẩm “Bếp lửa” thì cũng chính từ tình bà cháu đẹp như trong truyện cổ tích, bài thơ gợi lên những yêu thương đầu tiên. Ta dường như cũng đã thấy được ở đó có những suy nghĩ đầu tiên về cuộc đời, về đất nước… Với chính những cảm xúc tinh tế, chân thật và dường như nó cũng thật là đượm buồn của nhà thơ làm trỗi dậy trong kí ức người đọc. Đó có thể thấy được đó cũng chính là những kỉ niệm về cuộc sống gia đình về truyền thống tình nghĩa của dân tộc Việt Nam ta.

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Văn Mẫu Thuyết Minh Về Bài Thơ Bếp Lửa giúp các em có thể học hỏi cho mình nhiều kĩ năng viết hấp dẫn, cách dùng từ ngữ sáng tạo.

Trong những năm tháng chiến tranh, bên cạnh những bài văn, bài thơ cổ vũ tinh thần chiến đấu của dân tộc còn có những lời thơ da diết viết về tình thân, về quê hương mình. Một trong số đó phải kể đến bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt, tác phẩm đã gợi lại cho người thưởng thức những cảm xúc dạt dào về gia đình, về những kí ức thân thương bên bà.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa chờn vờn trong sương mai, nó như vừa mới đây cũng vừa như trong kí ức xa xôi mà tác giả chợt nghĩ đến hay khắc khoải trong phút giây chợt nhớ về. Bếp lửa ấy được nhen nhóm từ đôi bàn tay gầy, được nâng niu trọn vẹn nhất, vị nồng đượm của khói bay trên bếp vẫn còn đó, trong miền kí ức của cháu thơ. Và sâu trong hình ảnh ấy chính là bóng dáng của người bà kính yêu, nghĩ về bếp lửa cháu nhớ đến bà, cháu thương những năm tháng bà tần tảo, hy sinh.

“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”

Bao kỉ niệm tuổi thơ bỗng sống dậy trong trái tim đong đầy nỗi nhớ trong cháu.

Cuộc sống khốn khó những năm tháng ấy có lẽ là điều mà cháu không thể nào quên dù lúc ấy vừa lên bốn. Cái đói, cái nhọc nhằn vất vả được thể hiện qua hình ảnh “khô rạc ngựa gầy”, mùi khói trở thành thứ hương vị quen thuộc lúc ấy. Khói hun nhèm lên mắt, vị khói khiến sống mũi cháu cay cay hay chính những khó khăn, đói khổ của năm tháng xưa khiến khi nghĩ về mà lòng nôn nao vừa xúc động, vừa xót xa.

Cháu cùng bà trải qua bao năm tháng, cùng bà sống bên cánh đồng quê hương, cùng bà nhen nhóm yêu thương mỗi ngày bên bếp lửa thân thuộc. “Tám năm”- khoảng thời gian đủ dài để cháu khắc cốt ghi tâm những lời bà dạy, những câu chuyện kể của bà về ngày ở Huế, về những kỉ niệm xưa. Tiếng tu hú vang vọng trong bài thơ như gọi quá khứ trở về, khơi dậy những câu chuyện xưa. Những vần thơ lúc này đây chứa chan những yêu thương, thấm đẫm nỗi niềm xúc động:

Có lẽ phải xa cha mẹ từ bé, sống bên bà bao năm mà tình cảm của cháu dành cho bà luôn lớn lao như thế. Cháu luôn trân trọng công dạy dỗ của bà, những ngày bà dạy cháu làm, bà ân cần chỉ cháu học. Cả những lần bà dặn cháu viết thư đừng kể ra những khó nhọc nơi quê nhà khiến ba mẹ phải để tâm lo lắng. Bà vẫn vậy, luôn lắng lo cho con cho cháu, dẫu có vất vả, có nhọc nhằn vẫn chẳng lời kêu than, trách oan.

Chiến tranh không những khiến bao gia đình phải chia xa mà nó còn tàn phá sự yên bình của bao làng quê, thôn xóm. Hai bà cháu người trẻ nhỏ, người già yếu được hàng xóm giúp đỡ dựng lại túp lều nhỏ, có chỗ che mưa, che nắng. Bao khốn khổ là thế mà bà có bao giờ chịu phó mặc, luôn vững lòng, đinh ninh.

Qua từng dòng thơ, ta càng cảm nhận được hình ảnh người bà kiên cường, chẳng quản ngại hy sinh, vẫn luôn tin yêu vào ngày gia đình sum vầy, ngày đất nước hoà bình, thống nhất.

Những dòng thơ cuối nghe sao xúc động đến lạ thường. Cháu nay đã lớn, trên hành trình cuộc đời cháu phải xa bếp lửa, xa bà, xa quê hương mình. Cháu đến một nơi mới, nơi ấy có tiện nghi, những niềm vui mới, nhưng trong tim cháu vẫn luôn hướng về bà, về quê hương mình. Nơi ấy có làm lũ, có nhọc nhằn, gian nan và có tất thảy sự yêu thương suốt năm tháng tuổi thơ. Chính quê hương, chính tình thân đã nâng đỡ tâm hồn cháu, nâng đỡ cuộc đời cháu trong mỗi bước đường đời.

Bằng lời thơ nhẹ nhàng, tâm tình, hình ảnh giàu giá trị biểu tượng cùng lối viết kết hợp giữa tự sự, trữ tình và biểu cảm, tác giả đã sáng tạo nên một bài thơ đầy xúc cảm. Đọc bài thơ, em mới thêm hiểu cảm giác của những người con xa quê mồng ngóng ngày sum họp, thêm trân trọng những khoảnh khắc lao động , sum vầy bên gia đình mình, thêm yêu quê hương, đất nước, nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn mình qua bao khoảnh khắc thời gian.

Đọc Thêm Bài 🌿Thuyết Minh Về Truyện Ngắn Lão Hạc ❤️️ 15 Bài Văn Hay

Thuyết Minh Về Cây Ổi ❤️️ 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Thuyết Minh Về Cây Ổi ❤️️ 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất ✅ Tham Khảo Tuyển Tập Văn Mẫu Giới Thiệu Về Giá Trị Và Ý Nghĩa Của Cây Ổi Quê Hương.

Việc lập dàn ý thuyết minh về cây ổi là điều rất quan trọng và cần thiết trong quá trình làm bài giúp các em học sinh định hướng và triển khai bài viết.

I. Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu về đối tượng cần thuyết minh – cây ổi

II. Thân bài:

-Nguồn gốc cây ổi: Xuất hiện ở khu vực Brasil, rừng nhiệt đới châu Mỹ.

-Đặc điểm hình dáng cây ổi:

Cây ổi cao trung bình từ 3m – 4m.

Gốc cây to bằng cái cổ chân của của em bé.

Từ gốc cây tẽ ra ba nhánh đều nhau.

Thân ổi màu nâu. Cành có màu nâu nhạt.

Lá ổi dày, mặt dưới hơi trắng, mặt trên màu xanh.

Hoa Ổi trắng muốt. Khi những cánh hoa ổi rụng là kết trái

Khi còn xanh, quả có màu xanh đậm. Khi chín, ổi có màu xanh nhạt.

Khi ăn, mình thấy ổi rất giòn và ngọt.

-Lợi ích, công dụng của cây:

Là loại cây ăn quả giàu chất dinh dưỡng và tốt cho sức khoẻ

Mang lại giá trị kinh tế cao.

Cải thiện nâng cao đời sống con người.

III. Kết bài: Khẳng định lại một lần nữa vai trò của cây ổi đối với con người.

Chia sẻ cùng bạn 🌹 Thuyết Minh Về Một Loài Cây Cối Em Yêu 🌹 15 Mẫu Hay Nhất

Bài văn mẫu thuyết minh về cây ổi đã thể hiện được những ý nghĩa không thể thiếu của loài cây này trong đời sống của con người.

Trên khắp mọi miền của đất nước Việt Nam thân yêu, nơi đâu cũng ngập tràn hoa thơm trái ngọt. Mỗi vùng miền lại có những loại quả đặc trưng khác nhau, mang hương vị khác nhau. Ổi cũng là một trong những loại quả được nhiều người yêu thích nhất. Cây ổi là loại cây ăn quả phổ biến ở nước ta.

Cây ổi từ lâu đã trở nên quen thuộc trong đời sống của người dân Việt Nam, đặc biệt là ở các vùng nông thôn giản dị, thanh bình. Là một thành viên thuộc dòng họ Sim, cây ổi là loài cây ăn quả thường xanh lâu năm. Nó có nguồn gốc từ Brasil và những miền nhiệt đới châu Mỹ, rồi lan tới những vùng nhiệt đới châu Á. Không ai rõ thời điểm cây ổi xuất hiện ở Việt Nam chính xác là bao giờ, chỉ biết rằng từ rất lâu trước kia, cây ổi đã mọc hoang dại ở nhiều vùng rừng núi hoặc được đem trồng trong vườn, xung quanh nhà ở để lấy quả ăn.

Nhà ổi có rất nhiều anh em, không chỉ có những giống ổi phổ biến như ổi găng, ổi thóc mà còn có cả ổi trâu, ổi bo, ổi đào, ổi mỡ, ổi nghệ…những cái tên rất thú vị và có vẻ kỳ lạ. Đặc biệt là ổi đào, ổi nghệ tuy quả không to như ổi trâu, ổi bo…nhưng rất ngọt và thơm.

Xét về hình thể cùng anh em nhà vải và nhãn, xoài, cây ổi nhỏ bé hơn. Chiều cao trung bình chỉ khoảng 6 – 7 m, có cây cao nhất sẽ lên tới 10 m, đường kính thân tối đa chỉ khoảng 30cm. Những giống ổi mới còn nhỏ và lùn hơn thế nữa. Cây ổi ra cành và nhánh sớm nên thân nó chắc khỏe và ngắn, bù lại thân cây ấy nhẵn nhụi, chẳng mấy khi bị sâu đục rỗng như nhãn, vải… Khi vỏ già rồi tróc ra bên dưới còn có một lớp vỏ mới cũng nhẵn, màu xám xám xanh xanh rất đẹp.

Rễ cây mọc thành chùm, bám vào nhau đâm sâu xuống lòng đất để hút chất dinh dưỡng nuôi cây. Cây ổi có rất nhiều cành, trên cành đầy những lá xanh hình bầu dục, nhỏ bằng khoảng nửa bàn tay. Trên mỗi chiếc lá lại có những đường gân xếp đều tăm tắp, nhẹ tay sờ vào cũng thấy ram ráp. Lá ổi có mùi thơm dịu nhẹ rất dễ chịu.

Ổi cũng ra hoa rồi mới kết trái như những cây ăn quả thông thường khác. Hoa ổi màu trắng, moc thành từng chùm khoảng 2 – 3 bông, thường mọc ở nách lá mà không phải đầu cành. Hoa có 5 cánh trắng bao bọc lấy nhụy vàng bên trong với nhiều hạt phấn nhỏ. Mùa ổi ra hoa là vào tháng 3 – tháng 4 cuối xuân đầu hạ. Nhưng đến thời điểm giao mùa thu độ tháng 8 – tháng 9 thì mới đến mùa quả. Qủa ổi là loại quả trông mọng, hình dáng không cố định mà thay đổi theo từng giống, hình cầu, hình trứng hoặc hình quả lê đều có, rất đa dạng, bắt mắt.

Quả ổi lớn hay nhỏ cũng phụ thuộc vào giống, như giống ổi thóc nhỏ bé chỉ bằng một nửa ổi găng, ổi đào lại to hơn, có giống ổi còn to như quả lê. Trên đầu mỗi quả luôn có một vết sẹo do cuống ổi, vỏ quả ổi mỏng, mịn, thịt quả bên trong dày màu trắng, hồng, vàng… Ổi là giống quả có khá nhiều hạt, sau này người ta nghiên cứu thêm mới cho ra đời những giống quả không hạt. Vị quả ngọt thanh thanh, thêm thịt cùi giòn, kết hợp với nhau tạo ra hương vị đặc biệt chỉ có ở quả ổi.

Không phải tự nhiên mà cây ổi trở nên thân thuộc trong đời sống của con người Việt Nam. Nó không chỉ đem đến những giá trị từ quả ổi với vai trò của một cây ăn trái mà còn có nhiều giá trị khác. Qủa ổi có hương vị ngọt thơm, là loại trái cây mà nhiều người yêu thích. Thậm chí được đưa đến các thị trường thế giới và nhận được sư phản hồi tích cực.

Ổi hái từ trên cây xuống có thể thưởng thức ngay hay chế biến thành những miếng mứt ngọt ngọt thơm thơm, ép ra thành nước ổi đóng hộp, làm kẹo… Các bộ phận trên cây như búp non, lá non, quả, vỏ thân hoặc rễ đều có công dụng chữa bệnh, dùng làm các vị thuốc lành tính, an toàn. Trong y dược cổ truyền của dân tộc, lá ổi có thể giải độc, quả ổi vừa ngon, vừa đẹp da lại có tác dụng tiêu thực. Dân gian xưa còn dùng lá non và búp ổi để chữa đau bụng, dùng lá tươi cho những vết thương bầm dập, chảy máu… Và rất nhiều công dụng khác.

Ngày nay, khoa học kĩ thuật phát triển, có rất nhiều loại cây ăn quả ra đời nhưng người ta vẫn dành tình cảm đặc biệt cho cây ổi. Mỗi dịp Tết Nguyên Đán, tết Trung Thu trên mâm hoa quả chẳng bao giờ thiếu bóng dáng loại quả xanh và ngọt này. Cây ổi vì lẽ đó chính là một phần trong cuộc sống của nhân dân ta, cần được trân trọng, giữ gìn.

SCR.VN tặng bạn 💧 Tả Cây Ổi Hay Nhất 💧 15 Bài Văn Tả Về Cây Ổi Điểm 10

Tham khảo cách hành văn súc tích và giàu ý nghĩa biểu đạt với bài thuyết minh về cây ổi ngắn gọn sau đây:

Hạ vừa là mùa của nắng của gió lại vừa là mùa nở rộ của biết bao nhiêu loại trái cây thơm ngon. Là xoài vàng ươm chín ngọt, là sấu xanh chua chua, là mít thơm lừng ngọt sắc, và còn là ổi dịu nhẹ mà thơm giòn. Ổi là loài cây, là thức trái quen thuộc và gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ.

Ổi là cây thân gỗ, cao từ năm đến bảy mét. Từ thân, cây mọc ra nhiều cành cây như những cánh tay với những tầng lá rậm rạp. Trên nền xanh của lá còn điểm xuyết sắc trắng tinh tiết của hoa ổi. Hoa ổi nhỏ thường mọc thành chùm ở đầu cành. Có hoa thì sẽ có quả, khi hoa ổi già rồi rụng xuống thì quả ổi bắt đầu đâm trổ thành những quả bé xíu. Vỏ ổi màu xanh thẫm, nhẵn bóng. Hạt ổi nhỏ, cứng và nằm lẫn trong thịt quả. Lớp cùi ổi có màu trắng ngà, hơi trong, vị ngọt và giòn.

Ổi cũng có nhiều loại, các loại ổi thường có sự khác biệt ở quả, đặc biệt là phần cùi ổi, có những loại ổi ruột trắng và cũng có những loại ruột đỏ. Là cây cho quả nên quả ổi là loại thực phẩm, được ăn trực tiếp mà không phải qua chế biến. Bên cạnh đó thì ổi cũng được làm thành ổi sấy khô để sử dụng quanh , là nguyên liệu làm bánh kẹo… Ổi là loại quả chứa nhiều vitamin C giúp chống các bệnh cao huyết áp, bệnh tim hoặc các bệnh về xương khớp. Vì tác dụng và chất dinh dưỡng nó bao chứa nên ổi được nhiều người yêu thích.

Cây ổi là một hình ảnh quen thuộc của làng quê với những vườn ổi xanh mướt quanh năm, với những chùm quả lúc lắc trên cành vào mùa ổi chín. Mùa hè nóng nực mà được thưởng thức những trái ổi thanh ngọt với hương thơm dễ chịu, cảm nhận những cùi ổi dày mát giòn thì còn gì bằng.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Đón đọc bài thuyết minh về cây ổi hay giúp các em học sinh có thêm những ý tưởng và thông tin cần thiết cho bài viết của mình.

Mùa hè là thiên đường của các loại hoa quả. Quả nào cũng thơm ngon và có hương vị riêng. Trong đó, quả ổi là một trong những loại quả ngon hấp dẫn nhất của mùa hè. Để có được những quả ổi ngọt thơm là nhờ có công vun trồng và chăm sóc cây ổi của những người nông dân. Đối với nhiều người dân Việt Nam, cây ổi cũng không còn quá xa lạ nữa.

Tại vùng Đông Nam Á cây ổi được trồng ở hầu khắp mọi nơi. Ở Việt Nam, cây ổi là loại cây ăn quả được nhiều người yêu thích vì hương vị quả ổi dễ ăn, phù hợp với khẩu vị của người Việt. Mỗi cây ổi thường có chiều cao từ 3 – 5m. Có những giống ổi cây có thể cao hơn. Có những giống ổi chỉ cần đứng dưới gốc là có thể dễ dàng hái được những chùm ổi chín mọng. Ngoài ra, tùy thuộc vào cách chăm sóc mà những cây ổi ở các vùng khác nhau có chiều cao khác nhau. Chất lượng của chúng vì vậy mà cũng có sự khác nhau.

Cây ổi có thân màu nâu, lá của chúng giống như những cái lông chim mọc so le với nhau. Trước khi ra quả, cây ổi ra hoa với những bông hoa trắng nhỏ. Hương thơm của hoa ổi có mùi thoảng thoảng rất dễ chịu. Khi hoa rụng là lúc những quả ổi bắt đầu sinh sôi. Vỏ quả ổi khi chín có màu xanh bóng, nhưng bên trong có lớp cùi trắng giòn ngọt.

Để cây ổi phát triển thì điều kiện khí hậu là vô cùng quan trọng. Ổi thích hợp với khí hậu nhiệt đới, nóng và độ ẩm cao. Đất trồng cây ổi cũng nên là loại đất thoát nước tốt và giàu mùn. Tùy vào từng giống ổi mà thời gian thu hoạch khác nhau. Ổi thường chín rộ vào mùa hè nhưng cũng có giống chín muộn hơn. Quả ổi thường được mọi người ăn trực tiếp như một thứ quả tráng miệng. Ngoài ra, từ quả ổi người ta cũng chế biến tạo hương vị cho các loại bánh, kẹo, làm ổi khô hay làm trà ổi uống giải khát ngày hè. Tuy nhiên, cách thưởng thức mà nhiều người yêu thích nhất có lẽ vẫn là ăn trực tiếp.

Giới thiệu đến bạn 🌟 Tả Cây Ăn Quả Em Yêu Thích 🌟 15 Bài Văn Tả Hay Nhất

Bài văn mẫu giới thiệu về cây ổi quê em không chỉ giúp các em học sinh luyện tập cách diễn đạt mà còn nuôi dưỡng tình yêu thiên nhiên, yêu mảnh đất quê hương phong phú cây trái.

Trên khắp mọi miền của Tổ quốc thân yêu, nơi đâu cũng có những loài cây đặc trưng cho xứ sở của mình. Hà Nội thoang thoảng hương hoa sữa, miền Tây nức tiếng cây trái miệt vườn. Nông thôn bình dị quê tôi lại không thể vắng bóng hình ảnh cây ổi.

Nhắc đến nông thôn Việt Nam không thể không nhắc đến cây ổi. Trên khắp mọi miền quê, nơi đâu ta cũng thấy màu xanh những tàu lá ổi căng tràn sức sống. Cây ổi là một loại cây ăn trái đã được thuần hóa từ bao đời nay, phổ biến ở các khu rừng nhiệt đới. Ổi ở Việt Nam lại có nguồn gốc từ các giống ổi dại và có số lượng lớn. Mỗi giống lại có đặc điểm hình dáng, hương vị khác nhau.

Cây ổi gắn bó thân thiết với cuộc sống người dân quê tôi và con người Việt Nam. Vốn gần gũi trong đời sống của người nông dân. Chỉ một loài cây bình dị nhưng ẩn chứa rất nhiều công dụng. Quả ổi có giá trị dinh dưỡng cao. Ổi chín có rất nhiều vitamin tốt cho sức khỏe, người già và người trẻ đều yêu thích.

Người ta còn làm thành mứt ổi, ổi sấy rất ngon. Lá ổi dùng gói nem, gói giò tạo mùi thơm dịu nhẹ. Lá ổi khô để đốt. Người ta dùng lá ổi trong một số phương thuốc Đông y chữa bệnh. Những ngày rằm, ngày lễ trên mâm bàn thờ tổ tiên luôn có những quả ổi thơm ngon nhằm cầu mong phúc lành trong cuộc sống.

Từ bao đời nay, ổi đã gắn bó và dâng hiến cho cuộc sống con người Việt Nam, cả về vật chất và tinh thần. Cây ổi cũng chính là loài cây biểu tượng cho quê hương thân yêu mà mỗi lần đi xa tôi luôn ghi nhớ.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Thuyết Minh Về Cây Xoài 🌼 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về cây ổi đạt điểm cao sẽ cung cấp cho người đọc những thông tin đa dạng, phong phú về giá trị và ý nghĩa của loại cây này.

Nhắc đến mùa thu, con người ta không khỏi nhớ tới hình ảnh những khóm cúc vàng tươi hay cái se lạnh của làn sương sớm ban mai chùng chình. Và đặc biệt hơn cả, chúng ta không thể không nhắc đến hương thơm dìu nhẹ của từng chùm ổi chín thoang thoảng theo làn gió thu. Họ nhà ổi chúng tôi tự hào khi trở thành loại quả đặc trưng cho mùa thu, một loại cây vô cùng quen thuộc với con người đất Việt.

Họ nhà ổi chúng tôi thuộc dòng cây gỗ nhỏ, cao từ 3-6 m, đường kính thân tối đa 30cm. Thân cây non có màu xanh, tiết diện vuông, có 4 cánh uốn lượn màu xanh do cuống lá kéo dài; thân già màu nâu xám, tiết diện tròn, có lớp vỏ mỏng trơn nhẵn bong ra thành từng mảng. Cây có nhiều lông mịn ở thân non, lá và các bộ phận của hoa.

Lá đơn, mọc đối có cuống ngắn, không có lá kèm. Phiến lá hình bầu dục, nhẵn hoặc hơi có lông ở mặt trên, mặt dưới có lông mịn, đầu có lông gai hoặc lõm, lá dài 11-16 cm, rộng 5-7 m, mặt trên màu xanh đậm hơn mặt dưới. Bìa phiến nguyên, ở lá non có đường viền màu hồng tía kéo dài đến tận cuống lá. Gân lá hình lông chim, cuống lá màu xanh, hình trụ.

Hoa của họ nhà ổi chúng tôi nở rất đẹp, trắng trong, tinh khiết khác hẳn với nhiều loài hoa khác. Những bông hoa to màu trắng, mọc từng chùm tựa như những bông tuyết nhỏ, li ti trên đầu cành. Hoa có lá bắc con dạng vẩy, màu xanh hơi nâu. Quả ổi là một loại quả mọng hình dáng thay đổi tùy theo loài như hình cầu, hình trứng hay hình quả lê. Qủa của chúng tôi có đường kính khoảng 3-8cm, ở đầu có sẹo của đài tồn tại, vỏ quả mỏng, thịt giữa dày màu trắng, hồng, đỏ, vàng tùy loài.

Bên trong thịt quả có rất nhiều hạt, hình đa giác không đều, màu vàng nâu. Ổi ra hoa quả nhiều năm, nhưng thơm và ngon nhất vẫn là vào những ngày mùa thu se lạnh. Những ngày trời thu, còn gì tuyệt vời hơn khi có thể ngửi được hương ổi từ những chìm ổi chín trong vườn quê thanh bình yên ả hay đơn giản chỉ là có thể thưởng thức được hương vị giòn ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của những trái ổi chín thôn quê!

Không chỉ là loại cây cho hương thơm, quả ngọt, chúng tôi còn có rất nhiều công dụng khác nữa như làm mứt đông hay thành các loại nước uống tốt cho sức khỏe, chăm sóc cho da. Điều thú vị mà ít người biết đến đó chính là búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vỏ thân chúng tôi đều có thể làm thuốc. Theo y dược học cổ truyền, lá ổi có công dụng giải độc, quả ổi vị ngọt hơi chua có công dụng tiêu thực… Lá non và búp ổi non là một vị thuốc chữa đau bụng đi ngoài kinh nghiệm lâu đời trong nhân dân. Lá tươi còn được dùng khi bị chấn thương bầm dập, vết thương chảy máu và vết loét… Hương ổi thơm nồng nàn còn khêu gợi lên biết bao tâm hồn người thi sĩ:

Với nền kĩ thuật công nghệ áp dụng vào nuôi giống cây trồng như ngày này, họ nhà ổi chúng tôi được nhân giống và nuôi trồng trên khắp mọi miền trên tổ quốc, và được lai tạo với rất nhiều giống loài khác nhau, thậm chí để tăng nhu cầu tiêu dùng và khả năng xuất khẩu, nâng cao thu nhập đời sống người dân con người đã lai tạo được giống ổi không hạt, ổi ruột hồng,… Chúng tôi giờ đây có thể tự hào mang những tinh hoa của đất trời nước Việt giới thiệu với bạn bè quốc tế.

Họ nhà ổi chúng tôi luôn luôn cố gắng hết mình, hiến dâng những điều tốt đẹp nhất đến cho con người. Ổi giản dị, mộc mạc mang đạm dấu ấn thôn quê nhưng ẩn sâu trong đó là tâm hồn, nét đẹp của con người Đât Việt nơi đây- cần cù, chất phác.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Bài văn thuyết minh về cây ổi đặc sắc sẽ giúp các em học sinh có được góc nhìn độc đáo và sự quan sát tinh tế đối với sự vật được thuyết minh.

Trên quê hương tôi có biết bao nhiêu là cây ăn quả, thế nhưng nhiều nhất phổ biến nhất có lẽ phải nói đến cây ổi. Mỗi nhà trong thôn phải có đến ít nhất một cây ổi không thì là ba bốn cây, có những nhà trồng lấy quả đi bán thì có hẳn một vườn ổi. Trong cuộc sống của chúng ta không thể nào thiếu loại cây ăn quả thơm ngon và bổ dưỡng này.

Trước hết là về đặc điểm của cây ổi. Loài cây này thường được trông bằng cây con khi người ta đã ươm hạt lớn chừng hai đến ba mươi đến năm mươi xăng ti mét sau đó sẽ đem ra để trồng. Khi cây ổi còn nhỏ thì cây có thân rất bé và yếu. Chỉ cần sức một đứa trẻ con cũng có thể bẻ gãy cây ra làm đôi. Lúc này nó giống như một người đứa trẻ con yếu ớt vậy. Lá của cây ổi khi này vẫn còn vẻ mỏng manh của những lá non, màu của nó là màu xanh vàng nhẹ nhàng. Rễ cũng ít và cành nhỏ.

Lúc này cây vẫn phải chăm sóc một cách kĩ lưỡng, tưới nước hàng ngày. Khi lớn hơn một chút những chiếc lá non trước đó sẽ già đi mang một màu xanh lá cây đậm, còn thân cũng trở nên cứng cáp hơn. Những chiếc lá to hơn, cứng hơn. Và cứ thế nó sống ở đó cao dần, lớn dần đến khi thành một bóng mát tỏa một góc vườn.

Cây ổi ra có hoa rất đẹp, nó mọc thành những chùm màu trắng ở đầu cành. Sau một thời gian thì những bông hoa ấy rụng dần và để lại quả non bé nhỏ nhú ra và lớn lên dần theo năm tháng. Những quả ổi khi chưa chín thì có màu xanh nhạt còn khi ăn được thì nó có màu xanh vàng bóng bẩy. Ổi chiếm vai trò quan trọng trong đời sống hiện nay của chúng ta mà vai trò thứ nhất và thiết yếu nhất đó chính là một cay ăn quả ngon hấp dẫn. Ổi khi chín có mùi rất thơm và ngọt. Tùy theo từng loại ổi mà có vị ngọt khác nhau. Không chỉ ăn trực tiếp, người ta còn ăn cả ổi chấm muối ớt cũng rất ngon.

Như vậy qua đây ta thấy được đặc điểm và công dụng của cây ổi. Chính vì thế mà nó có ý nghĩa rất lớn đền đời sống của nhân dân ta. Nó không chỉ là một loài cây ăn quả mà người đời con dùng nó với nhiều công dụng. Mỗi quê hương nên gìn giữ những cây ổi hữu ích này.

Gợi ý cho bạn 🍀 Thuyết Minh Về Cây Mít 🍀 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về cây ổi chọn lọc sẽ mang đến cho các em học sinh những ý văn hay để trau dồi văn phong và cách diễn đạt.

Cây Ổi là một cây trồng quá đỗi quen thuộc, không chỉ trong đời sống hàng ngày mà còn trong cả ngành y học cổ truyền. Hiện nay, ổi ta không còn được trồng để lấy quả, vì quả nhỏ, số lượng hạt nhiều, thịt quả mỏng. Trên thị trường có đa dạng các loại ổi khác nhau, cho chất lượng quả tốt, vì thế ổi ta hiện được trồng chủ yếu để làm cây cảnh.

Ổi ta có tên khoa học là Psidium guajava, thuộc họ Đào kim nương, có nguồn gốc xuất xứ từ vùng đất Brasil. Ổi thuộc dạng thân gỗ, có chiều cao đạt từ 3-6m. cành cây khi còn non có màu xanh,có 4 cạnh đặc trưng, khi già thân có màu nâu, nhẵn nhụi. Hoa thuộc dạng hoa lưỡng tính, mọc thành chùm, có màu trắng, 5 cánh. Quả nhỏ, có nhiều hạt, thịt quả mỏng, khi còn xanh có màu xanh đậm, khi chín chuyển dần sang vàng.

Lá ổi có chứa rất nhiều tinh dầu, đặc biệt là trong lá ổi và búp non, thành phần tanin pyrogalic 7-10%, có tác dụng điều trị các bệnh như viêm ruột thừa cấp, tình trạng khó tiêu ở trẻ em. Đôi khi lá ổi tươi còn được dùng để chữa trị các vết thương, vết loét, bệnh zona.. Hiện nay, việc trồng ổi ta làm cây cảnh bon sai rất phổ biến, đặc biệt là ở các nhà vườn, nó tạo nên một không gian vô cùng thú vị, độc đáo.

Ổi là loại cây ăn quả dễ trồng, không cần quá nhiều công chăm sóc, có thể trồng ổi từ tháng 3-5 và từ tháng 8-10 đối với miền Bắc và từ tháng 5-6 đối với miền Nam. Đất trồng ổi không yêu cầu quá khắt khe, nhưng yêu cầu có khả năng thông thoáng, giữ nước tốt, có tầng canh tác đất trên 50 cm. Cần cung cấp đầy đủ độ ẩm cho cây, vào những ngày trời mưa lớn, cần tháo hết nước, để rễ cây không bị ngập úng. Có thể thường xuyên cắt tỉa cành cho cây, để tạo độ thông thoáng cho cây, để có hình dáng như mong muốn.

Ổi là một loại trái cây rất thơm ngon, phù hợp với tất cả mọi người. ngoài ra đây còn là một loại cây có công dụng chữa các loại bệnh như đau bụng, khó tiêu rất tốt. Cây ổi ta được trồng phổ biến hầu hết trên khắp các tỉnh thánh ở nước ta. Với đặc tính dễ thích nghi và dễ trồng, nó đã trở thành một loại cây quen thuộc với người dân ta.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Thuyết Minh Về Cây Dừa 🌟 15 Bài Thuyết Minh Hay

Để làm bài văn thuyết minh về cây ổi sinh động, các em học sinh có thể kết hợp sử dụng nhiều phương thức biểu đạt để làm bài viết của mình thêm ấn tượng.

Thiên nhiên muôn hình muôn vẻ, ban cho con người một sức sống xanh tươi với hàng ngàn loài cây phong phú và đa dạng. Trong đó em thích nhất là cây ổi- một loại cây ăn quả quen thuộc với mọi người. Nhà em có một khu vườn nhỏ sau nhà. Ở đây, ba em trồng rất nhiều những loại cây khác nhau nhưng đối với em, cây ổi vẫn là loài cây thú vị nhất. Cây ổi được bà ngoại em trồng ở khu vườn đã được 5 năm. Nó mang trong mình một sức sống căng tràn.

Nhìn xa xa cây ổi như một chiếc xanh ngát giữa khu vườn tràn ngập các sắc xanh khác nhau. Thân ổi khá to vừa nửa vòng ôm, mọc thẳng và nhẵn. Em nhìn gốc của cây phình ra, sần sùi tỏa ra các rễ đủ hình thù kì quái như những con giun cắm sâu xuống đất để hút các chất dinh dưỡng từ đất, vận chuyển ngược lên nuôi thân và những cành lá xum xuê. Lá cây ổi to, xanh mượt căng bóng nổi trên mặt lá là những đường gân rõ nét.

Lá ổi mùa xuân mang một sức sống tươi mới, dường như được nàng xuân ve vuốt thêm một màu xanh dìu dịu. Khi đông về, lá ổi ngả màu đậm hơn, lá cây heo hắt cùng những cơn gió mùa lạnh lẽo. Chỉ lúc ấy, em mới biết cây ổi tiềm tàng sự sống mãnh liệt nhường nào. Một chiếc lá lay lắt, gió thổi mạnh nhưng quyết không lừa cành, vẫn ở đó bám lên thân mẹ hút từng giọt nhựa trắng ngọt lành. Đến mùa ra hoa, hoa ổi nhỏ xinh, hương dìu dịu trong gió.Quả ổi tròn, to mọc ra từng chùm nặng trĩu nhìn rất thích mắt.

Khi hái những trái ổi, em thích nhất là được thưởng thức chúng, cắn giòn giòn trong miệng, hạt màu vàng nhạt rất nhiều ở giữa quả. Quả ổi mang một hương vị riêng biệt, hương ổi đối với em mang một nỗi nhớ, nhớ về bà ngoại và nụ cười hiền dịu của bà. Thỉnh thoảng, những cơn gió mang hương ổi vương vấn trong không gian thu hút vài chú ong vàng bay qua và vài chú chim sơn ca hay đến để bắt những con sâu đang nằm sau những tán lá giúp cây ổi không bị lũ sâu tàn phá.

Cây ổi, đối với em không chỉ là một cây ăn quả bình thường mà nó còn chan chứa tình thương của người bà kính yêu. Bà rất thích ăn ổi, cây ổi này được chính tay bà trồng khi em còn học tiểu học. Lớn dần, dường như tình thương của bà từ cây ổi lan truyền đến em một cách kì diệu. Bà đã đi xa, em ngày một trưởng thành còn cây ổi cứ thế xanh tươi tràn đầy sức sống nơi góc vườn nhỏ. Ngày ngày em ngắm nhìn cây ổi , tưởng tượng rằng trong lớp vỏ cứng khỏe kia là từng mạch nhựa đang vận hành, chúng đã lớn lên từng ngày từng giờ dưới bàn tay chăm sóc của em và ba. Cây ổi- cứ thế xanh tươi như tình bà còn mãi, vương vấn trong hương ổi dịu dàng.

Cây ổi – loại cây quen thuộc và thân thiết đối với chúng ta biết bao. Em tự hứa dù có bận nhiều việc đến mấy em cũng sẽ chăm sóc cho cây ổi ngày một thêm xanh.

Tìm hiểu hướng dẫn 🔥 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🔥 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

Bài văn thuyết minh về cây ổi học sinh giỏi sẽ giúp các em học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản và phương pháp viết thể loại văn thuyết minh.

Từ xưa đến nay, cây ổi vẫn luôn là một trong những loại cây ăn quả được mọi người ưa chuộng. Bởi đây là giống cây dễ trồng, dễ chăm sóc, dễ cho ra quả. Hơn nữa, ổi được trồng hầu như khắp các địa phương, cả vùng đồng bằng lẫn miền núi ở nước ta.

Ổi là loài cây ăn quả thường xanh lâu năm, thuộc họ Đào kim nương. Cây ổi có nguồn gốc từ miền nhiệt đới Châu Mỹ. Ở Việt Nam, phần nhiều người ta trồng ổi để lấy quả ăn. Ổi là loại cây chịu nắng tốt, thích hợp với nhiều vùng miền, đặc biệt là những vùng có khí hậu ẩm, khí hậu nhiệt đới.

Ổi có thể trồng được ở nhiều loại đất, độ pH khoảng từ 4,5 đến 8,2. Cây cần nhiều nước để phát triển, phải thuờng xuyên tưới đủ nước để đảm bảo độ ẩm cho cây. Hiện nay có nhiều giống ổi như: ổi Bo, ổi xá lị có quả to nhưng kém thơm ngọt, ổi mỡ, ổi đào, ổi nghệ tuy quả nhỏ nhưng ngọt và rất thơm; gần đây có một số giống mới không hạt như: ổi không hạt Đài Loan, ổi Phugi,…

Cây ổi là loài cây gỗ nhỏ, cao từ 3-10m, đường kính thân tối đa 30cm. Những giống ổi mới còn nhỏ và lùn hơn nữa. Thân cây ổi chắc chắn và khỏe, tuy nhiên có phần ngắn vì phân cành sớm. Thân cây nhẵn nhụi rât ít bị sâu đục. Thân cây già màu nâu xám, tiết diện tròn, có lớp vỏ mỏng trơn nhẵn bong ra thành từng mảng. Thân cây non lại có màu xanh, tiết diện vuông, có 4 cánh uốn lượn do cuống lá kéo dài. Cây có nhiều lông mịn ở thân non, lá và các bộ phận khác của hoa.

Lá ổi là lá đơn, mọc đối xứng có cuống ngắn. Phiến lá hình bầu dục, nhẵn hoặc hơi có lông ở mặt trên, mặt dưới có lông mịn. Lá ổi dài khoảng 11 – 16 cm, rộng từ 5 – 7 cm, mặt trên màu xanh đậm hơn mặt dưới. Ở những lá non có đường viền màu hồng tía kéo dài đến tận cuống lá. Hoa ổi to có màu trắng, mọc từng chùm 2-3 chiếc, ít khi ở đầu cành mà thường ở nách lá. Hoa lưỡng tính có năm cánh gần đều, rời nhau và mang màu trắng mỏng, dễ rụng khi hoa nở. Cuống hoa dài từ 1,5 đến 2,5 cm, màu xanh, đế hoa hình chén cũng mang màu xanh.

Quả ổi là một loại quả mọng to từ khoảng 4 – 5g đến 500 – 700g, có hình dáng thay đổi tùy theo loài như hình cầu, hình quả trứng hoặc hình quả lê. Đường kính quả khoảng 3 – 8cm, ở đầu có vết sẹo màu nâu của đài để lại. Vỏ ổi mỏng, thịt giữa dày màu trắng, hồng, đỏ vàng tùy loại. Bên trong thịt quả có rất nhiều hạt cứng, hình đa giác không đều có màu vàng nâu. Ổi ra hoa và quả trong nhiều năm. Cụm hoa thường xuất hiện trên những cành non mới ra cùng năm, được thụ phấn nhờ gió hoặc côn trùng. Vòng đời của một cây ổi có thể kéo dài từ 40 – 60 năm. Mùa hoa ổi là vào tháng 3, 4 và mùa quả vào tháng 8, 9.

Cây ổi được trồng trong vườn làm cây ăn quả. Tuy vậy, các bộ phận khác của cây từ lá, hoa, quả đến vỏ đều có công dụng riêng. Quả ổi có thể được ăn tươi hoặc chế biến thành mứt khô hay các loại đồ hộp nước ép ổi. Ổi còn cung cấp các bộ phận như búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vỏ thân để làm thuốc.

Ổi là một loại cây có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống nhân dân ta không chỉ về vật chất mà còn về tình thần. Trong tương lai, cuộc sống ngày một hiện đại hơn, nhưng những giá trị tinh thần vẫn vẹn nguyên và không bao giờ thay đổi. Cũng giống như vậy, cây ổi sẽ mãi gắn bó với người dân Việt Nam để giúp mảnh đất quê hương thêm phong phú và màu mỡ hơn.

Tặng bạn 🌹 Thuyết Minh Về Cây Sầu Riêng, Trái Sầu Riêng 🌹 15 Bài Hay

Bài văn thuyết minh về cây ổi luyện viết sẽ giúp các em học sinh nâng cao cách hành văn và xây dựng những chi tiết đặc sắc trong bài viết của mình.

lại có một đặc điểm riêng và cho ra những loại quả với hương vị khác nhau. Trong số những cây ăn quả ấy, em thích nhất vẫn là cây ổi lê.

Cây ổi lê này do chính tay ông ngoại em trồng vào năm mà ông bà lấy nhau. Chính vì vậy mà cây ổi đã nhiều tuổi lắm rồi. Hàng ngày cũng chính ông là người đã chăm bón cho cây. Cây ổi giống như một người bạn thân thiết của ông. Dù không mất quá nhiều thời gian để chăm sóc nhưng ngày ngày ông đều ra vườn để ngắm nhìn chúng lớn lên.

Cây ổi ông em trồng tuy đã nhiều tuổi rồi nhưng nhìn nó vẫn cường tráng lắm. Thân cây ổi không lớn lắm. Chúng có một lớp vỏ nâu bóng bao bọc phía bên ngoài. Chúng mọc thẳng và có nhiều cành nhỏ trên ngọn cây. Lá cây ổi cũng không quá to. Chúng có màu xanh non khi mới mọc và chuyển sang xanh đậm khi đã già. Mùa xuân đến cũng là mùa mà những búp ổi non đua nhau mọc. Đôi khi nghịch ngợm, em vẫn thường hái búp ổi để ăn phần thân của chúng. Bà em nói lá ổi có tác dụng chữa bệnh nên ăn vào sẽ rất tốt. Khi ăn, lá ổi sẽ cho chúng ta cảm giác hơi đắng ở cổ họng. Những lá ổi già, người ta còn dùng để làm các vị thuốc hay dùng để nấu rượu nữa đấy.

Không phụ công chăm sóc của ông ngoại nên bao nhiêu năm qua, năm nào cây ổi cũng sai trĩu quả. Gọi là quả ổi lê vì chúng có hình dáng bên ngoài giống như những quả lê. Quả ổi khi mới mọc trông còn nhỏ xíu. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau chúng sẽ to dần lên. Đến một mức độ nhất định thì dừng lại. Nhìn những quả ổi lủng lẳng trên cây không khác gì những chiếc chuông nhỏ xinh. Màu sắc của quả ổi cũng chuyển dần từ xanh đậm sang xanh nhạt. Quả ổi càng chín thì màu sắc của chúng càng nhạt dần đi. Khi chín mềm chúng sẽ có màu sắc hơi ngà ngà vàng chứ không vàng óng như nhiều loại quả khác.

Ổi khi chín ương là có thể ăn được rồi. Sau khi rửa sạch, lớp vỏ ngoài của ổi cũng có thể ăn được chứ không cần gọt bỏ. Bên trong, phần thịt ổi có màu trắng xanh. Ở giữa là phần hạt ổi. Hạt ổi hơi cứng một chút nhưng phần thịt liên kết chúng ăn lại rất mềm và ngon. Khi ăn ổi, em thích nhất là cảm giác giòn tan ở trong miệng. Những quả ổi lê do ông em trồng ăn giòn mềm chứ không hề bị cứng. Khi có đông người, mẹ thường bổ ổi ra thành từng miếng giống như những miếng cau. Ai đến chơi ăn ổi cũng đều tấm tắc khen ổi ngon và đậm vị.

Mặc dù em đã được thưởng thức rất nhiều loại ổi khác nhau như ổi đào, ổi găng,… nhưng em chưa thấy loại ổi nào ngon như những quả ổi lê mà ông em đã trồng. Cây ổi lê giờ đây không chỉ còn là kỉ niệm của ông mà nó còn là kỉ niệm tuổi thơ của em.

Sau này, em sẽ thay ông chăm sóc cho cây ổi để chúng luôn luôn được xanh tốt. Để hàng năm em sẽ lại được ăn những quả ổi thơm ngon.

Chia sẻ 🌼 Thuyết Minh Về Cây Cau 🌼 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về cây ổi ngắn gọn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các em học sinh dễ dàng ôn tập và chuẩn bị cho bài kiểm tra trên lớp.

Hiện nay, cây ổi có rất nhiều loại được trồng ở Việt Nam và khắp nơi trên thế giới.

Hiện nay, ở nước ta trồng khá nhiều loại cây ổi. Trong đó chủ yếu là một số giống ổi sau: ổi Bo, ổi xá lị nghệ, ổi sẻ, ổi mỡ, ổi đào, ổi nghệ; ruột hồng (da láng, da sần). Gần đây còn có một số giống cây ổi mới không hạt như: ổi không hạt Đài Loan, ổi không hạt Thái Lan, ổi không hạt Mã Lai. Trong đó, giống ổi xá lỵ nghệ được trồng nhiều nhất do có những đặc điểm nổi bật như quả to, ít hạt, thịt dày, giòn, vị chua ngọt. Năng suất có thể đạt cây 2 – 4 năm tuổi có thể đạt năng suất 20-60 tấn/ha/năm và cây từ 5 năm tuổi trở đi có thể đạt năng suất 70-80 tấn/ha/năm.

Cây ổi giống có thể trồng gần như quanh năm, đặc biệt là khi trồng trong vườn, chăm sóc chu đáo. Tuy nhiên nên trồng vào mùa xuân, tháng 2, 3, hoặc khi trời có mưa, đất đủ ẩm. Sau khi trồng cần phủ gốc và tưới ẩm thường xuyên đến khi cây ra lá ổn định. Vùng có gió bão nên cắm cọc và buộc chặt cây để không bị lay gốc khi cây còn nhỏ. Hàng năm cần cắt tỉa những cành không cần thiết như cành vượt, cành tăm, cành sâu bệnh,… nên tỉa vào thời gian sau vụ thu hoạch quả, vào những ngày nắng.

Cây ổi từ lâu là cây trồng bản địa được trồng ở nhiều nơi trên toàn quốc. Mỗi vùng miền lại có một loại ổi riêng mang nhiều đặc điểm tốt. Ổi là cây rất dễ trồng mà lại cho giá trị kinh tế vô cùng cao.

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Trong khu vườn của làng quê không thể thiếu cây bưởi, cây ổi….. Nó tạo cho làng quê trở nên ấm áp và sinh động hơn, nếu không có cây cối thì không làng quê không còn giống với vẻ đẹp thuờng ngày của nó!

Nhưng loài cây mà em cẩm thấy thích nhất là chắc là cây ổi, nó đã được bố em trồng trong sân nhà từ khi em mới 5 tuổi cho đến nay cũng đã 7 năm rồi… Cây ổi này đã gắn bó với em từ đó đến bây giờ, có biết bao nhiêu là kỉ niệm buồn vui. Em còn nhớ hôm trăng trung thu năm lớp 3, em rủ mấy đứa nhỏ hàng xóm qua chơi, ai cũng đều cầm lồng đèn được ba mẹ mua cho đem ra khoe cho nhau rồi ngồi xuống gần cây ổi ba em trồng, cùng nhau trò chuyện, tâm sự về những chuyện buồn chuyện vui trong năm vừa rồi.

Bên cạnh cây ổi có một cái hồ nhỏ do mẹ em làm trông rất đẹp và dễ thuơng nữa nên tụi em hay chơi ở đó vừa tiện hái ổi ăn, nói chung là rất vui! Đôi lúc, mẹ em phun vòi sương cho chúng em chơi xung quanh nó, tạo thành vồng tròn chạy xung quanh cây ổi. Còn về cây ổi, tuy không lớn như nhiều loại cây khác nhưng em lại rất thích cây ổi vì tán lá dày, những chiếc lá xanh, mùi thơm mát như bạc hà vậy!

Vào mùa hè, cây ổi càng đẹp hơn thu hút sự chú ý của mọi người trong nhà. Đây là khoảng thờ gian em có thể chăm sóc cây ổi nhiều hơn vì là mùa hè nên em được nghỉ học mà! Ngày còn nhỏ, mùa hè nào em cũng lấy đồ làm thủ công cùng với vài đôi giấy ngồi dựa vào gốc cây ổi rồi tự làm một cuốn sổ tay để theo dõi sự lớn lên và phát triển của từng loài câ, nhất là cây ổi.

Nổi bật nhất trong cuốn sổ của me là những chùm hoa trắng nở tung cánh ra đón ánh sáng mặt trời. Vào buổi trưa hè, em thuờng trốn mẹ ra ngoài sân trèo lên cây, hái ổi ăn. Cây ổi trở là người bạn thân thiết nhất của em.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Thuyết Minh Về Cây Điều, Hạt Điều 🌟 15 Bài Hay Nhất

Để hoàn thành tốt bài văn thuyết minh về cây ổi lớp 9, các em học sinh sẽ cần tham khảo nhiều nguồn thông tin để làm phong phú kiến thức và hiểu biết của bản thân về đối tượng cần thuyết minh.

Nếu như đặc trưng của mùa xuân là mưa phùn se lạnh, hoa đào hoa mai khoe sắc, thì dấu ấn riêng của mùa hè lại là hương vị thơm mát ngọt lành của hoa trái. Đó là hoa phượng đỏ rực một góc trời, là bằng lăng tím bâng khuâng cùng tà áo trắng, là cái ngọt thanh của dưa hấu hay ngọt bùi của khoai lang. Mùa hè còn là mùa của ổi -thứ quả chín từ cái nắng chang chang của khí hậu nhiệt đới đã trở thành một thứ hoa trái không thể thiếu của mảnh đất Việt Nam.

Ổi là cây thân gỗ, có nguồn gốc khu vực rừng nhiệt đới châu Mỹ, từ lâu đã du nhập về Việt Nam. Tán ổi xum xuê xanh mướt, bao phủ quanh gốc cây. Lá ổi có hình lông chim, hai phiến lá hơi cụp lại từ gân chính, được xếp so le trên từng nhánh cành. Hoa ổi có năm cánh màu trắng, mọc ở đầu cành, nổi bật giữa muôn vàn tán lá. Dưới cái nắng gay gắt, rực rỡ của mùa hạ, từng chùm hoa dần trở thành những chùm quả sai trĩu. Quả ổi còn non có màu xanh lá mạ. Khi ổi chín thì chuyển dần sang xanh thẫm, vỏ cũng trở nên nhẵn bóng.

Bởi vẻ thanh mát, ngọt lành, ổi hấp dẫn nhiều người. Sau mỗi bữa ăn, ổi được dùng làm đồ tráng miệng. Vào những ngày hè oi ả, ổi ướp lạnh như một thức quà để giải khát. Ở một vài nơi, cây ổi còn được xem như một loại cây cảnh, góp phần làm nên màu xanh tươi mát cho ngôi nhà.

Giống như các loại cây khác, ổi cũng cần có cách chăm sóc riêng. Khi trồng cần bới sẵn một hố nhỏ, sâu tầm 20cm, đặt cây con vào chính giữa hố rồi lấp đất. Điều quan trọng nhất chính là phải dùng tay để lấp và chèn đất cho thật chặt. Sau đó rào cẩn thận xung quanh để các tác nhân bên ngoài không làm ảnh hưởng đến cây. Trong thời gian cây phát triển, cần chú ý tưới nước, bón phân, phun thuốc cho đúng thời điểm, liều lượng.

Ngày nay, khi Xã hội ngày một phát triển, ổi nhanh chóng trở thành một trong những mặt hàng nông sản có thương hiệu, được bày bán rộng rãi trên khắp cả nước. Quả ổi có giá trị không nhỏ về mặt kinh tế, giúp hàng loạt hộ gia đình thoát nghèo, đem lại lợi nhuận và danh tiếng cho nông sản Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, bằng sự cải tiến về Khoa học kĩ thuật, những giống ổi không hạt, cùi dày, phòng trừ sâu bệnh tốt đã thu hút rất khách hàng quốc tế, đưa ổi Việt Nam xuất khẩu sang thị trường nước ngoài.

Thật chẳng sai khi nói ổi là thứ quả nổi bật trong bữa tiệc đầy hương thơm vị ngọt của mùa hè. Cây ổi đã trở thành loài cây thân thuộc và gần gũi, gắn bó mật thiết với cái nắng rực rỡ ở Việt Nam, là thứ quà mà mỗi người con xa xứ khi trở về đều làm quà biếu. Hi vọng rằng, trong thời đại Khoa học Kĩ thuật ngày một phát triển, con người sẽ lai tạo ra nhiều giống ổi ngon hơn, ngọt hơn, hấp dẫn hơn, để quả ổi được đến gần hơn với mọi người mọi nhà, và thương hiệu Ổi Việt Nam sẽ lan truyền trên toàn thế giới.

Tham khảo văn mẫu 💧 Thuyết Minh Về Cây Bưởi, Quả Bưởi 💧 15 Bài Hay Nhất

Cùng với bánh Cáy làng Nguyễn, ổi Bo từ lâu đã trở thành đặc sản của người Thái Bình, được nhiều người biết đến bởi nó là hội tụ những tinh túy của đất và người Thái Bình. Trái ổi Bo giòn, thơm lừng và ngọt đậm đã trở thành sản vật riêng có của quê lúa Thái Bình

Tương truyền rằng cách đây đã lâu lắm rồi, một người đàn ông nhà ở làng Bo cạnh sông Trà Lý, trong một lần đi dạo, thấy có một quả lạ nổi trên dòng nước liền vớt về ném ở sau vườn, sau thấy cây lên quả ăn rất ngon mới đem nhân rộng ra để trồng. Cũng từ đó làng Bo có giống ổi như ngày nay, ổi Bo rất dễ trồng và được nhân giống bằng hạt.

Quả ổi Bo có nhiều loại: Có loại quả nhìn giống như quả cam dẹt, có loại quả lại như quả lê, lại có quả giống như quả găng có năm múi và năm khe. Nhưng chất lượng và vị ngon của giống ổi Bo chính hiệu là loại quả được trồng trên đất nguyên thổ của làng Bo với chất đất phù sa nhẹ tốt, mỗi năm chỉ cho thu hoạch một vụ vào tháng 7 hằng năm thì không giống ổi ở đâu sánh bằng.

Để có được trái ổi Bo thơm ngọt man mát, cùi dầy, ít hạt là cả một quá trình gồm nhiều công đoạn chăm sóc vun trồng cầu kỳ: Từ gieo giống, chăm sóc tới khi thu hoạch, muốn lấy được giống tốt phải gieo hạt vào tháng 8 là lúc thời tiết có mưa nhiều. Cây được chọn để lấy giống phải là cây mới bói, quả ở cành ngồng để cho thật chín, ruột ổi (chứa hạt) để trong khoảng một tuần cho nhũn ra thành nước, sau đó cho vào rá đãi lấy hột. Từ công đoạn gieo hạt đến khi được thu hoạch trái ổi đầu mùa phải mất tới ba năm. Cũng là giống ổi Bo được ươm trồng ở đất Thái Bình nhưng khi mang đi trồng ở tỉnh khác thì hương vị và chất lượng lại thay đổi hoàn toàn.

Nét riêng đặc biệt mà người trồng ổi Bo chia sẻ: Khi hái ổi phải hái bằng nèo không được trèo lên cây và cành ổi cũng không được rũ xuống gần đất có như vậy ổi mới không bị chua. Khi ăn ổi Bo không nên cắt miếng , phải ăn một cách bình dị dân dã mới ngon, cắn vào quả ổi để cảm nhận hương vị đặc trưng của nó. Đầu tiên là thấy vị chát, sau là chua dịu, rồi vị ngọt , vị thơm thấm dần vào đầu lưỡi, hương phù sa, vị mát lành của dòng nước sông Bo …nhờ những hương vị đặc trưng đó, mà ổi Bo đã trở thành một thứ đặc sản mang đậm hồn quê.

Trên sạp của bà bán hoa quả hiện nay có nhiều giống ổi , ổi Việt nam có , ổi ngoại có , những quả ổi to , bắt mắt , nhưng vị ngọt đậm , thơm đặc trưng của trái ổi Bo thì vẫn không gì thay thế . Những người đã ăn ổi Bo vẫn tìm đến những trái ổi xanh thẫm, vừa một bàn tay ôm, gói trong đó hương vị đất đai, sông nước, của một vùng quê đồng bằng châu thổ sông Hồng

Trong những năm gần đây, cùng quá trình đô thị hóa, diện tích canh tác vườn ao giảm, thu nhập mang lại từ việc trồng ổi Bo thấp dần, với những giá trị đặc trưng của cây ổi Bo, chúng ta nên chung tay bảo vệ loại cây này.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Bài mẫu thuyết minh về cây ổi bằng tiếng Anh sẽ giúp các em học sinh luyện tập cách sử dụng các cấu trúc ngữ pháp cơ bản và trau dồi những từ vựng mới.

Tiếng Anh:

Guava tree is woody, the trunk is small and not rough like other fruit trees. Guava leaves are dense, large and thick, guava leaves have their own characteristic smell. Guava ripens in late summer, early autumn, every time you see the scent of guava, you know that autumn has come, ripe guava is fragrant in the garden. Guava is a delicious and nutritious fruit tree that brings many benefits to humans.

Tiếng Việt:

Cây ổi thân gỗ, thân ổi nhỏ và không xù xì như các cây ăn quả khác. Lá ổi rậm, to và dày, lá ổi có mùi đặc trưng riêng. Ổi chín vào cuối mùa hè, cứ mỗi khi thấy hương ổi là biết mùa thu đã đến, khi ổi chín thơm lừng vườn quê. Ổi là một loại cây ăn quả thơm ngon và bổ dưỡng, mang lại nhiều lợi ích cho con người.

Gửi tặng bạn 💕 Thuyết Minh Về Cây Nhãn 💕 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

6 Bài Soạn “Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh” Hay Nhất

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 6

I. Kiến thức cơ bản

1. Vai trò và đặc điểm chung của văn bản thuyết minh

a. Văn bản Cây dừa Bình Định

2. Đặc điểm chung của văn bản thuyết minh.

a. Các văn bản trên có thể xem là văn bản tự sự (hay miêu tả, nghị luận) không? Tại sao? Chúng khác với các văn bản ấy ở chỗ nào?

c. Các văn bản đã thuyết minh về đối tượng bằng những phương thức nào?

II. Rèn luyện kỹ năng

1. Đọc các văn bản sau và cho biết chúng có phải là văn bản thuyết minh không? Vì sao?

a. Khởi nghĩa Nông Văn Vân. Đây là văn bản thuyết minh vì nó cung cấp kiến thức lịch sử.

b. Con giun đất. Văn bản này là văn bản thuyết minh vì nó cung cấp kiến thức khoa học sinh vật.

2. Trong văn bản nghị luận Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000, tác giả có sử dụng phương thức thuyết minh không? Chỉ ra nội dung thuyết minh trong văn bản này (nếu có) và phân tích tác dụng của nó.

3. Qua các văn bản đã được đọc, theo em văn bản thuộc loại tự sự, miêu tả, biểu cảm có cần thao tác thuyết minh không? Tại sao?

4. Thử kể ra một số văn bản thuộc loại tự sự, miêu tả, biểu cảm có sử dụng thuyết minh.

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 5

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 6

I. Vai trò và đặc điểm chung của văn bản thuyết minh

1. Văn bản Cây dừa Bình Định :

a.

b. Văn bản Tại sao cây có màu xanh lục.

Ngôn ngữ của văn bản trên là ngôn ngữ khoa học (như đã nói ở trên).

Luyện tập

Câu 1. Bài tập 2, trang 118, SGK.

Hãy đọc lại và cho biết Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 thuộc loại văn bản nào? Nội dung phần thuyết minh trong văn bản này có tác dụng gì ?

Trả lời:

Nhan đề văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 có hai chữ “thông tin” là thông báo tri thức, cho nên văn bản mang tính chất thuyết minh rõ rệt. Bài văn thuyết minh ba nội dung :

– Ngày Trái Đất năm 2000 và nội dung của nó là “một ngày không dùng bao bì ni lông”.

– Lí do vì sao không dùng bao bì ni lông.

– Những hành động cần làm trong ngày đó.

Em hãy tự làm rõ tác dụng thuyết minh trong từng phần.

Câu 2. Bài tập 3, trang 118, SGK.

Các văn bản khác như tự sự, nghị luận, biểu cảm, miêu tả có cần yếu tố thuyết minh không? Vì sao?

Các loại văn bản tự sự, nghị luận, biểu cảm, miêu tả có cần yếu tố thuvết minh không ? Vì sao ?

Để trả lời câu hỏi này, các em phải đọc các văn bản nêu trên, tìm các đoạn văn thuyết minh. Ví dụ như những đoạn sau :

– Ông Nguyễn Bá Dương, người làng Nguyên Xá, huyện Thần Khê. Tính tuệch toạc, thích uống rượu. Nhà nghèo kiết, nhưng vẩn sống một cách thản nhiên.

(Ông Nguyễn Bá Dương, trích Tang thương ngẫu lục)

– Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống. Vũ trụ này tầm thường, chật hẹp, không đủ thoả mãn mỗi tình cảm dồi dào của nhà văn. Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác, những người, những vật khác. Sự sáng tạo này ta cùng có thể xem Ià xuất ở một mối tình yêu thương tha thiết. Yêu thương ngay những điều chưa có trong thực tế để gọi nó vào thực tế…

(Hoài Thanh, Ynghĩa văn chương)

– Sự thực ở nước ta hải đường đâu phải chỉ mọc nơi sân nhà quyền quý, nó sống khắp các vườn dân, cả đình, chùa, nhà thờ họ. Dáng cây cũng vậy, lá to thật khoẻ, sống lâu nên cội cành thường sần lên những lớp rêu da rắn màu gỉ đồng, trông dân dã như cây chè đất đỏ.

(Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoa trái quanh tôi)

Em hãy xác định yếu tố thuyết minh đóng vai trò gì trong các đoạn văn trên.

Câu 3. Hãy đọc chú thích (★) sau văn bản Hai cây phong (trang 99, SGK) và cho biết đó có phải là văn bản thuyết minh không. Vì sao ?

Đọc kĩ chú thích (★) sau văn bản Hai cây phong (trang 99, SGK) ; xem lại các tính chất của văn bản thuyết minh rồi trả lời câu hỏi này.

Câu 4. Hãy tìm trong SGK những đoạn văn thuyết minh và cho biết vì sao xem chúng là văn thuyết minh.

Các đoạn văn thuyết minh trong SGK như : Lời nói đầu , đoạn văn sau đầu (★) giới thiệu về tác giả, tác phẩm ; lời chú thích, giải thích từ ngữ; phần trình bày kiến thức trong các bài học về Tiếng Việt, Tập làm văn,… Đó là những đoạn văn thuyết minh, vì chúng đảm nhiệm chức năng giới thiệu, trình bày, giải thích các tri thức về cuốn sách, con người, sự việc, hiện tượng,… sử dụng các biện pháp định nghĩa, liệt kê, giải thích,…

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 5

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 4

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 5

I – Vai trò và đặc điểm chung của văn bản thuyết minh

Câu 1 trang 116 – SGK Ngữ văn 8 tập 1: Văn bản thuyết minh trong đời sống con người

Đọc các văn bản sau và trả lời câu hỏi

(3 văn bản trang 114, 115, 116 – SGK Ngữ văn 8 tập 1)

– Văn bản Cây dừa Bình Định trình bày lợi ích của cây dừa. Lợi ích này gắn với đặc điểm của cây dừa mà cây khác không có. Tất nhiên cây dừa Bến Tre hay nơi khác cũng có lợi ích như thế. Nhưng đây giới thiệu riêng về cây dừa Bình Định, gắn bó với dân Bình Định.

– Văn bản Tại sao lá cây có màu xanh lục ? giải thích về tác dụng của chất diệp lục làm cho người ta thấy lá cây có màu xanh.

– Văn bản Huế giới thiệu Huế như là một trung tâm văn hóa nghệ thuật lớn của Việt Nam với những đặc điểm tiêu biểu riêng của Huế.

– Có thể bắt gặp những văn bản này trong sách khoa học, báo chí, các trang mạng…

– Một số văn bản cùng loại :

+ Một thức quà của lúa non – Cốm

+ Nhã nhạc cung đình Huế…

Câu 2 trang 116 – SGK Ngữ văn 8 tập 1: Đặc điểm chung của văn bản thuyết minh

a) – Văn bản tự sự trình bày sự việc, diễn biến, nhân vật. Ở đây có các nội dung đó không ?

– Văn bản miêu tả trình bày chi tiết cụ thể cho ta cảm nhận được sự vật, con người, ở đây có như thế không ?

– Văn bản nghị luận trình bày ý kiến, luận điểm. Ở đây có luận điểm không ? Ở đây chỉ có kiến thức.

Do đó đây là kiểu văn bản khác.

b) Ví dụ, cây dừa, từ thân cây, lá đến nước dừa, cùi dừa, sọ dừa đều có ích cho con người, cho nên nó gắn bó với cuộc sống của người dân.

Lá cây có chất diệp lục cho nên có màu xanh lục, Huế là một thành phố có cảnh sắc, sông núi hài hòa, có nhiều công trình văn hóa, nghệ thuật nổi tiếng, có nhiều vườn hoa cây cảnh, món ăn đặc sản, đã trở thành trung tâm văn hóa lớn của nước ta. Ba văn bản, văn bản nào cũng trình bày đặc điểm tiêu biểu của đối tượng thuyết minh của nó.

Từ đặc điểm này có thể rút ra kết luận là văn bản thuyết minh có nhiệm vụ cung cấp tri thức khách quan về sự vật, giúp con người có được hiểu biết về sự vật một cách đúng đắn, đầy đủ. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của kiểu văn bản này phân biệt với các kiểu văn bản khác. Đã là tri thức thì người làm không thể hư cấu, bịa đặt, tưởng tượng.

Văn thuyết minh có tính chất thực dụng, cung cấp tri thức là chính, không đòi hỏi bắt buộc phải làm cho người đọc thưởng thức cái hay cái đẹp như tác phẩm văn học.

Ghi nhớ :

– Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân, … của các hiện towngj và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.

– Tri thức trong văn bản thuyết minh đòi hỏi khách quan, xác thực, hữu ích cho con người.

– Văn bản thuyết minh cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chữ và hấp dẫn.

II – Luyện tập

Câu 1 trang 117 – SGK Ngữ văn 8 tập 1: Các văn bản sau có phải là văn bản thuyết minh không ? Vì sao ?

(3 văn bản trang 117, 118 – SGK Ngữ văn 8 tập 1)

– Văn bản Khởi nghĩa Nông Văn Vân là văn bản thuyết minh vì đó là một văn bản cung cấp kiến thức lịch sử.

– Văn bản Con giun đất là một văn bản thuyết minh vì nó cung cấp kiến thức khoa học sinh vật.

Câu 2 trang 118 – SGK Ngữ văn 8 tập 1: Hãy đọc lại và cho biết Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 thuộc loại văn bản nào. Phần nội dung thuyết minh trong văn bản này có tác dụng gì ?

Văn bản Thông tin về Ngày Trái đất năm 2000 thuộc văn bản nghị luận, đề xuất một hành động tích cực bảo vệ môi trường, nhưng đã sử dụng yếu tố thuyết minh để nói rõ tác hại của bao ni lông, làm cho đề nghị có sức thuyết phục hơn.

Câu 3 trang 118 – SGK Ngữ văn 8 tập 1: Các văn bản khác như tự sự, nghị luận, biểu cảm, miêu tả có cần yếu tố thuyết minh không ? Vì sao ?

Các văn bản tự sự, nghị luận, biểu cảm cần tới yếu tố thuyết minh. Vì nhờ thuyết minh văn bản trở nên sáng tỏ, nội dung văn bản mang tính chính xác, khoa học.

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 3

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 4

I- Vai trò và đặc điểm chung của văn bản thuyết minh

1. Văn bản thuyết minh trong đời sống con người

a. CÂY DỪA BÌNH ĐỊNH

Cây dừa gắn bó với người dân Bình Định chặt chẽ như cây tre đối với người dân miền Bắc. Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm,… Cùi dừa ăn sống với bánh đa, làm mứt, làm bánh kẹo, ép lấy dầu dùng để thắp, để ăn, để chải đầu, nấu xà phòng. Sọ dừa làm khuy áo, làm gáo, làm muối. Vỏ dừa bện dây rất tốt đối với người đánh cá vì nó mềm, dẻo, dai, chịu mưa, chịu nắng. Cây dừa gắn bó với đời sống hằng ngày là như thế đấy.

Dân Bình Định có câu ca dao:

Dừa xanh sừng sững giữa trời

Đem thân mình hiến cho đời thuỷ chung.

Ở Bình Định, dừa là chủ yếu, dừa là tất cả. Dừa ở đây như rừng, dừa mọc ven sông, men bờ ruộng, leo sườn đồi, rải theo bờ biển. Trên những chặng đường dài suốt 50, 60 km chúng ta chỉ gặp cây dừa : dừa xiêm thấp lè tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp lơ lửng giữa trời, quả vàng xanh mơn mởn, dừa lửa lá đỏ, vỏ hồng,…

(Theo Hoàng Văn Huyền, Những mẩu chuyện Địa lí)

b. TẠI SAO LÁ CÂY CÓ MÀU XANH LỤC?

Lá cây có màu xanh lục vì các tế bào của lá chứa nhiều lục lạp. Một mi-li-mét lá chứa bốn mươi vạn lục lạp. Trong các lục lạp này có chứa một chất gọi là diệp lục, tức là chất xanh của lá. Ánh sáng trắng của mặt trời gồm bảy màu: tím, chàm, lam, lục, vàng, cam, đỏ. Sở dĩ chất diệp lục có màu xanh lục vì nó hút các tia sáng có màu khác, nhất là màu đỏ và màu lam, nhưng không thu nhận màu xanh lục, và lại phản chiếu màu này, do đó mắt ta mới nhìn thấy màu xanh lục. Nếu ta chiếu chất diệp lục của lá cây bằng một nguồn sáng màu đỏ, chất này sẽ thu nhận tất cả các tia màu đỏ, nhưng vì không có tia sáng màu xanh lục để phản chiếu lại, nên kết quả ta nhìn vào lá cây chỉ thấy một màu đen sì… Như vậy là cây có màu xanh là do chất diệp lục trong lá cây.

(Theo Vũ Văn Chuyên, Hỏi đáp về thực vật)

c. HUẾ

Huế là một trong những trung tâm văn hoá, nghệ thuật lớn của Việt Nam. Huế là một thành phố đẹp. Huế đẹp của thiên nhiên Việt Nam. Huế đẹp của thơ. Huế đẹp của những con người sáng tạo, anh dũng

Huế là sự kết hợp hài hoà của núi, sông và biển. Chúng ta có thể lên núi Bạch Mã để đón gió biển. Từ đèo Hải Vân mây phủ, chúng ta nghe tiếng sóng biển rì rào. Từ đây buổi sáng chúng ta có thể lên Trường Sơn, buổi chiều tắm biển Thuận An và ban đêm ngủ thuyền trên sông Hương.

Huế đẹp với cảnh sắc Sông núi. Sông Hương đẹp như một dải lụa xanh bay lượn trong tay nghệ sĩ múa. Núi Ngự Bình như cái yên ngựa nổi bật trên nền trời trong xanh của Huế. Chiếu đến, những chiếc thuyền nhỏ nhẹ nhàng lướt trên dòng nước hiền dịu của Sông Hương. Những mái chèo thong thả buông, những giọng hò Huế ngọt ngào bay lượn trên mặt sóng, trên những ngọn cây thanh trà, phượng vĩ.

Huế có những công trình kiến trúc nổi tiếng được Liên hợp quốc xếp vào hàng di sản văn hoá thế giới. Huế nổi tiếng với các lăng tẩm của các vua Nguyên, với chùa Thiên Mụ, chùa Trúc Lâm, với đài Vọng Cảnh, điện Hòn Chén, chợ Đông Ba,…

Huế được yêu vì những sản phẩm đặc biệt của mình. Huế là thành phố của những mảnh vườn xinh đẹp. Những vườn hoa, cây cảnh, những vườn chè, vườn cây ăn quả của Huế xanh mướt như những viên ngọc. Những chiếc nón Huế càng làm cho các cô gái Huế đẹp hơn, duyên dáng hơn.

Huế còn nổi tiếng với những món ăn mà chỉ riêng Huế mới có.

Huế còn là thành phố đấu tranh kiên cường. Tháng Tám năm 1945, Huế đã đứng lên cùng cả nước, chế độ phong kiến ngàn năm sụp đổ dưới chân thành Huế.

Huế đẹp và thơ đã đi vào lịch sử của những thành phố anh hùng.

(Dân theo Tiếng Việt thực hành) .

Câu hỏi:

– Mỗi văn bản trên trình bày, giới thiệu, giải thích điều gì ?

– Em thường gặp các loại văn bản đó ở đâu ?

– Hãy kể thêm một vài văn bản cùng loại mà em biết.

Trả lời

– Một số văn bản cùng loại:

2. Đặc điểm chung của văn bản thuyết minh

Trao đổi nhóm theo các câu hỏi sau:

a) Các văn bản trên có thể xem là văn bản tự sự (hay miêu tả, nghị luận, biểu cảm) không ? Tại sao ? Chúng khác với các văn bản ấy ở chỗ nào ?

b) Các văn bản trên có những đặc điểm chung nào làm chúng trở thành một kiểu riêng ?

c) Các văn bản trên đã thuyết minh về đối tượng bằng những phương thức nào ?

d) Ngôn ngữ của các văn bản trên có đặc điểm gì ?

a) Các văn bản trên không thể coi là văn bản tự sự (hay miêu tả, nghị luận, biểu cảm) được, bởi vì:

c) Các văn bản trên trình bày đối tượng bằng cách trình bày, giải thích, giới thiệu.

d) Ngôn ngữ của các văn bản trên sử dụng ngôn ngữ khoa học.

II. Luyện tập

1- Trang 117 SGK

Các văn bản sau có phải là văn bản thuyết minh không ? Vì sao ?

a)

KHỞI NGHĨA NÔNG VĂN VÂN

(1833-1835)

Nông Văn Vân là tù trưởng dân tộc Tày, giữ chức trị châu Bảo Lạc (Cao Bằng). Không chịu nổi sự chèn ép của triều đình nhà Nguyễn, Nông Văn Vân cùng một số tù trưởng tập hợp dân chúng nổi dậy. […]

Cuộc khởi nghĩa lan khắp miền núi Việt Bắc và một số làng người Mường, người Việt ở trung du. Nhà Nguyễn đã hai lần cử những đạo quân lớn kéo lên đàn áp, nhưng không hiệu quả. Lần thứ ba (năm 1835), quân triều đình tấn công dữ dội từ nhiều phía và bao vây đốt rừng. Nông Văn Vân chết trong rừng. Cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.

(Lịch sử 7)

b)

CON GIUN ĐẤT

Giun đất là động vật có đốt, gồm khoảng 2500 loài, chuyên sống ở vùng đất ẩm. Đầu giun đất có cơ phát triển và trơn để đào chui trong đất. Mình giun đất có chất nhờn để da luôn ướt, giảm ma sát khi chui trong đất. Giun đất có màu nâu khi ở trong lòng đất, có màu rêu trên lưng khi sống trong rêu. Giun đất có sức sống mạnh, dù bị chặt đứt, nó vẫn có thể tái sinh.

Giun đất có tác dụng đào bới làm xốp đất. Phân giun đất là thứ phân bón rất tốt cho thực vật. Giun đất được dùng làm phương tiện xử lí rác, làm sạch môi trường.

Giun đất dùng để chăn nuôi gia súc. Người cũng có thể ăn giun đất vì nó có 70% lượng đạm trong cơ thể. Giun đất có thể dùng làm thuốc chữa bệnh. Giun đất là giống vật có ích.

(Theo Bách khoa tri thức thế kỉ XXI)

a) Văn bản “Khởi nghĩa Nông Văn Vân” là văn bản thuyết minh vì đã cung cấp cho người đọc thông tin về lịch sử.

b) Văn bản “Con giun đất” là văn bản thuyết minh vì cung cấp thông tin về khoa học sinh vật.

2- Trang 118 SGK

Hãy đọc lại và cho biết Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 thuộc loại văn bản nào. Phần nội dung thuyết minh trong văn bản này có tác dụng gì ?

Văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 thuộc loại văn bản thuyết minh vì nó cung cấp cho người đọc hiểu biết về tác hại của bao bì ni lông, lợi ích việc giảm thải ni lông để cải thiện môi trường sống.

3- Trang 118 SGK

Các văn bản khác như tự sự, nghị luận, biểu cảm, miêu tả có cần yếu tố thuyết minh không ? Vì sao ?

Tổng kết:

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,… của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.Tri thức trong văn bản thuyết minh đòi hỏi khách quan, xác thực, hữu ích cho con người.Văn bản thuyết minh cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn.

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 2

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 3

I. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH

1. Văn bản thuyết minh trong đời sống

Đọc các đoạn văn (trang 114, 115, 116 SGK Ngữ văn 8 tập 1) và trả lời câu hỏi:

– Mỗi văn bản trên trình bày giới thiệu, giải thích điều gì?

– Em thường gặp các loại văn bản đó ở đâu.

– Văn bản Cây dừa Binh Định thuyết minh, trình bày lợi ích của cây dừa Bình Định gắn bó với người dân Bình Định.

– Văn bản Tại sao lá cây có màu xanh lục? thuyết minh, giải thích về tác dụng của chất diệp lục làm cho người ta thấy lá cây có màu xanh.

– Văn bản Huế giới thiệu trình bày Huế như là một trung tâm văn hóa nghệ thuật lớn của Việt Nam với những đặc điểm tiêu biếu riêng của Huế.

Em thường gặp các loại văn bản đó ở sách, báo có thể kể đến:

– Nếp Rồng quê tôi của Võ Văn Trực.

– Khoai lang của Vũ Bằng.

2. Đặc điểm chung của vản bản thuyết minh

a. Các văn bản trên có thể xem là văn bản tự sự không? Tại sao? Chúng khác các văn bản ấy ở chỗ nào?

b. Các văn bản trên có đặc điểm chung nào làm chúng trở thành một kiểu riêng?

Các văn bản trên không phải là văn bản tự sự (hay miêu tả, nghị luận, biếu cảm).

Vì các văn bản này không trình bày sự việc, diễn biến nhân vật như tự sự, không trình bày chi tiết cụ thế cho người đọc cảm nhận được sự vật, con người như miêu tả và cũng không trình bày ý kiến, luận điểm như nghị luận.b.

Các văn bản trên có chung đặc điểm là trình bày đặc điểm tiêu biểu của sự vật, hiện tượng.

Văn bản thuyết minh có nhiệm vụ cung cấp tri thức khách quan về sự vật giúp con người có được hiểu biết về sự vật một cách đầy đủ, đúng đắn. Văn bản thuyết minh không thể hư cấu, tưởng tượng hay bịa đặt mà phải phù hợp thực tế và khách quan.

Tuy không đòi hỏi người viết phải bộc lộ cảm xúc cá nhân chủ quan của mình nhưng văn bản thuyết minh vẫn yêu cầu người viết có cảm xúc biết gây hứng thú cho người đọc.

II. LUYỆN TẬP

Trả lời câu 1 (trang 117 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Các văn bản (trang 117, 118 SGK Ngữ văn 8 tập 1) có phải là văn bản thuyết minh không? Vì sao?

Lời giải chi tiết:

Hai văn bản Khởi nghĩa Nông Văn Vân (1833-1835) và Con giun đất là văn bản thuyết minh.

Văn bản đầu cung cấp kiến thức lịch sử.

Văn bản sau cung cấp kiến thức khoa học sinh vật.

Trả lời câu 2 (trang 118 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Hãy đọc lại và cho biết Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000 thuộc loại văn bản nào. Phần nội dung thuyết minh trong văn bản này có tác dụng gì?

Văn bản Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000 thuộc loại nhật dụng. Đây là một bài văn thuyết minh đề xuất một hành động tích cực bảo vệ môi trường. Trong bài, đã sử dụng yếu tố thuyết minh nhằm nói rõ tác hại của bao bì nilông, làm cho đề nghị của mình có sức thuyết phục cao.

Trả lời câu 3 (trang 118 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Các văn bản khác như tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận có cần yếu tố thuyết minh không? Vì sao?

Các văn bản khác như tự sự, nghị luận, biểu cảm, miêu tả nhiều lúc cũng cần yếu tố thuyết minh. Vì nhờ thuyết minh văn bản trở nên sáng tỏ, nội dung văn bản mang tính chính xác, khoa học.

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 2

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 1

Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” số 2

Vai trò và đặc điểm của văn bản thuyết minh

– Nội dung các văn bản :

+ VB (a) : trình bày lợi ích của cây dừa Bình Định.

+ VB (b) : giải thích nguyên nhân lá cây màu xanh.

+ VB (c) : giới thiệu đặc trưng của thành phố Huế.

– Có thể bắt gặp các loại văn bản đó trong đời sống khi có nhu cầu hiểu biết khách quan về mọi lĩnh vực có thể tìm ở sách khoa học,…

– Một vài văn bản cùng loại : Động Phong Nha, Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000, Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử,…

a. Các văn bản trên không giống những văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận. Vì chúng không nhằm mục đích kể, tả, bộc lộ cảm xúc hay nghị luận.

b. Các văn bản trên cung cấp tri thức về các sự vật, hiện tượng một cách khách quan, chân thực, có ích.

c. Phương pháp thuyết minh : trình bày, giới thiệu, giải thích.

d. Ngôn ngữ : khách quan, chính xác, rõ ràng, chặt chẽ, hấp dẫn

Câu 1 (trang 117 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Cả hai văn bản được dẫn đều là văn bản thuyết minh. Vì chúng cung cấp tri thức hữu ích cho người đọc.

Câu 2 (trang 118 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 thuộc loại văn bản thuyết minh. Nội dung giải thích tác hại của việc dùng bao bì ni lông, góp phần tạo nên sức thuyết phục cho lời kêu gọi “Một ngày không dùng bao bì ni lông”.

Câu 3 (trang 118 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Thuyết minh là yếu tố cần có cho tất cả các loại văn bản. Vì yếu tố thuyết minh góp phần làm sáng rõ nội dung văn bản, giúp cho nội dung trình bày mang tính chính xác, khoa học cao.

Đăng bởi: Trần Quí Nhuận

Từ khoá: 6 Bài soạn “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” hay nhất

Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất ✅ Là Một Trong Những Nơi Sơn Thủy Hữu Tình Nổi Tiếng Thơ Mộng Ở “Thủ Phủ Chè” Thái Nguyên.

Dàn Ý Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc giúp các em có thể triển khai bài văn logic và đầy đủ ý nhất.

Mở bài: Giới thiệu những nét cơ bản về Hồ Núi Cốc

Thân bài

Đặc điểm về vị trí địa lí và nguồn gốc lịch sử

Vị trí địa lí: Hồ Núi Cốc thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 15km về hướng tây nam.

Tên gọi

Những đặc điểm cơ bản của Hồ Núi Cốc

Ý nghĩa và vai trò của Hồ

Kết bài: Khái quát những nét cơ bản về Hồ Núi Cốc và cảm nhận của bản thân.

Bài Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc Điểm 10 để lại nhiều ấn tượng cho các bạn đọc với lối diễn đạt bài văn hấp dẫn.

Núi Cốc là tên gọi của một vùng đất, vùng hồ thấm đẫm chất huyền thoại về câu chuyện tình thuỷ chung giữa nàng Công, chàng Cốc. Họ yêu nhau nhưng không thành, một người nước mắt chảy thành sông, người kia chờ đợi mỏi mòn hoá thành núi.

Và chính trên con sông Công huyền thoại người ta đã cho xây dựng Hồ Núi Cốc, một hồ nước nhân tạo mang vẻ đẹp tự nhiên, gắn với câu chuyện tình đã đi vào ca khúc “Huyền thoại Hồ Núi Cốc” của nhạc sĩ Phó Đức Phương: “…Nắng lên xanh màu xanh huyền thoại/ Nghe câu chuyện xưa của đôi trai gái/ Tha thiết yêu nhau vẫn không thành đôi/ Ngày tháng dài nhớ mong khôn cùng/ Một người đau nước mắt thành sông/ Một người chờ, chờ hoá núi…”

Truyền thuyết kể lại rằng, ngày xưa có một chàng trai nghèo sống bằng nghề đốn củi, chàng có tên là Cốc. Bởi vì quá nghèo nên chàng Cốc không thể lấy được vợ. Mỗi lúc buồn, chàng chỉ còn biết gửi nỗi lòng vào tiếng sáo. Một năm mất mùa, chàng Cốc đến nhà quan lang ở vùng gần sông Công, sông Gâm làm thuê. Quan lang này có một cô con gái xinh đẹp và hát hay, múa giỏi nức tiếng khắp vùng, đó là nàng Công. Nhiều người đến ướm hỏi nhưng nàng Công không ưng một ai.

Duyên trời định đoạt, tiếng sáo chàng Cốc đã khiến trái tim người con gái rung động. Biết chuyện, quan lang vô cùng tức giận. Ông bắt chàng Cốc làm những việc khó khăn, nguy hiểm nhưng với sự giúp đỡ của tiên ông và các loại thú rừng, chàng Cốc đã hoàn thành tất cả yêu cầu. Song điều đó không làm quan lang hài lòng, ông bắt nhốt nàng Công trong nhà và cho quân truy đuổi chàng Cốc. Chàng bèn về quê chờ ngày gặp lại người yêu.

Chàng chờ mãi, chờ đến khi cả tấm thân hóa thành quả núi mà nàng Công vẫn chưa đến, còn nàng Công thương nhớ chàng Cốc, khóc ròng rã đến khi nước mắt chảy dài thành sông. Khu du lịch Hồ Núi Cốc xây dựng trên một khuôn viên rộng có những cảnh quan thiên nhiên đẹp. Không khí ở đây rất trong lành mát mẻ.

Xung quanh hồ là những dãy núi, rừng cây bao phủ và đồi chè xanh mướt nhấp nhô tạo nên một bức tranh thiên nhiên đầy mê hoặc. Hồ Núi Cốc giống như một chiếc gương khổng lồ soi chiếu tất cả mọi vật tạo nên cảnh sắc huyền ảo lung linh, lúc ẩn lúc hiện.

Tại đây còn có Quần thể chùa Thác Vàng nằm trong lòng Phật, nổi bật với nghệ thuật điêu khắc được tạo tác công phu, mỗi bức có diện tích khoảng 25 – 30m2, thể hiện triết lý nhà Phật trong thuyết Nhân Quả. Bên trên công trình là đài sen tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni đồ sộ, cao đến 45m, hướng ánh nhìn ra Hồ Núi Cốc. Đặc biệt là sân khấu biểu diễn nhạc nước, những âm điệu nhảy múa theo các tác phẩm như Huyền thoại Hồ Núi Cốc, chuyện tình nàng Công chàng Cốc, Thái Nguyên thủ đô gió ngàn…

Đối với những du khách thích khám phá sẽ có thể lựa chọn cho mình tuyến tham quan động huyền thoại cung, động ba cây thông, động thế giới cổ tích. Ở đó du khách sẽ ấn tượng bởi những mê cung huyền ảo, được chiêm ngưỡng những kiệt tác của thiên nhiên với đủ các hình dáng khác nhau hoặc đọc các câu chuyện thần tiên, câu chuyện cổ tích khắc trên vách hang. Tất cả sẽ đưa du khách vào thế giới kỳ diệu để quên đi hết những mệt nhọc những ưu phiền của cuộc sống hàng ngày và sẽ thấy lòng tĩnh tại

Không đơn thuần là nơi để nghỉ ngơi, Hồ Núi Cốc còn là nơi để du khách đắm mình vào huyền thoại, cảm nhận rõ hơn về tình yêu, cuộc sống và thậm chí là có cơ hội để nhìn lại mình. Hồ Núi Cốc vào thu, phong cảnh như càng tĩnh lặng hơn, giúp chúng ta quên hết những ưu phiền, mệt mỏi, những náo nhiệt của cuộc sống thị thành để đắm chìm trong không gian xanh mát, yên bình.

Xem Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ở Địa Phương Em❤️️ Ngắn Hay

Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc Ngắn Gọn và súc tích qua từng câu văn, hình ảnh miêu tả chân thực và sinh động.

Hồ Núi Cốc là một trong những nơi sơn thủy hữu tình nổi tiếng thơ mộng ở “thủ phủ chè” Thái Nguyên. Nhắc tới hồ Núi Cốc còn là nhắc tới những thiên tình sử lãng mạn, thủy chung, chân thành. Bởi thế, hồ Núi Cốc cũng trở thành điểm nghỉ dưỡng cuối tuần lý tưởng của các cặp đôi.

Nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 16km về phía Tây là hồ Núi Cốc tuyệt đẹp đã đi vào thơ ca. Vào hơn 600 năm trước tại hồ Núi Cốc đã diễn ra những trận đánh quyết tử của nghĩa quân Lam Sơn với giặc Minh. Đây cũng là một trong những cái nôi cách mạng trong thời kháng chiến chống Pháp.

Trên con đường nhựa uốn lượn, ôm ấp quanh sườn núi Đông Bắc, lướt qua những quả đồi phủ xanh cây rừng, những nương chè xanh mướt của xã Tân Cương nằm bên dòng sông Công, bạn sẽ thấy hồ Núi Cốc ngay trước mặt. Hồ giống hệt mặt gương khổng lồ in chiếu vạn vật, khiến cảnh sắc càng thêm mơ màng quyến rũ. Bao quanh hồ là núi non trùng điệp, đồi chè và cây rừng trải dài tít tắt như mở ra sự mênh mông,bao la của đất trời.

Bên thiên nhiên hùng vĩ nên thơ,mặt nước phẳng lặng, những hòn đảo lớn nhỏ nổi lên giữa sóng hồ, mùi âm ẩm của đất, hương thanh khiết thơm tho của núi rừng phảng phất có mùi chè, bạn sẽ thấy trào dâng trong lòng cảm giác nhẹ nhàng, thư thái. Tất cả tạo nên mãnh lực hấp dẫn người ta tạm xa phố xá đông đúc, thành thị phồn hoa để tìm về những gì nguyên sơ của thiên nhiên.

Giống với hồ Tà Đùng ở Đắk Nông, hồ Núi Cốc cũng là một hồ nước ngọt nhân tạo rộng khoảng 25 km2 được hình thành từ việc đắp đập ngăn sông. Hồ Núi Cốc được tạo nên từ năm 1973 – 1982, khi người ta đắp đập ngăn dòng sông Công. Nhờ đó mà tạo một “vịnh Hạ Long trên cạn” khác, với 89 đảo lớn nhỏ chạy dọc suốt 17km đường hồ.

Nhận thấy vẻ quyến rũ của hồ, đầu những năm 90, Thái Nguyên đã bắt tay vào kế hoạch biến hồ Núi Cốc thành một điểm du lịch. Có sự đan xen hòa quyện của đất trời, mây nước, núi sông, hồ Núi Cốc là nơi tuyệt hảo để du khách tìm hiểu những thiên tình sử, cảm nhận sự thiêng liêng, bất diệt của tình yêu, cuộc sống tươi đẹp ở xứ chè Thái Nguyên.

Xem Thêm Bài ❤️️ Thuyết Minh Về Vườn Quốc Gia Cát Tiên ❤️️ 15 Bài Hay Nhất

Thuyết Minh Hồ Núi Cốc Sinh Động được nhiều bạn đọc quan tâm và chia sẻ đến các bạn đọc sau đây.

“Bồng bềnh hứ bồng bềnh, tròng trành hứ tròng trành. Một vùng núi cao, nước sâu thuyền trôi, thuyền trôi, mái chèo bâng khuâng dưới chân Tam Đảo…” câu hát say lòng của nhạc sỹ Phó Đức Phương như mời gọi du khách tìm về hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) tham quan nghỉ dưỡng với câu chuyện tình lãng mạn giữa chàng Cốc và nàng Công.

Từ thành phố Thái Nguyên, chúng tôi đi qua những nương chè Tân Cương, đi hết những rừng cây liên tiếp nối nhau đã thấy hồ Núi Cốc hiện ra trước mắt. Cảm nhận đầu tiên khi đặt chân đến hồ Núi Cốc là một phong cảnh sơn thuỷ bình yên, hồ giống như một chiếc gương khổng lồ soi chiếu tất cả mọi vật tạo nên cảnh sắc huyền ảo, lung linh, lúc ẩn lúc hiện. Xa xa là những đồi chè xanh ngắt trải dài, trổ đều những búp non mỡ màng, thấp thoáng bóng dáng các cô gái tay thoăn thoắt hái chè.

Những người dân ở đây bảo: Núi Cốc là tên gọi một vùng đất với chất huyền thoại về câu chuyện tình thủy chung giữa nàng Công và chàng Cốc. Họ yêu nhau nhưng không thành, một người ra đi nước mắt chảy thành sông, người kia chờ đợi mỏi mòn hóa thành núi. Không chỉ có vậy, hồ Núi Cốc là thành quả lao động của nhân dân và các thế hệ học sinh, sinh viên những năm 80 của thể kỷ XX đã chung sức ngăn dòng sông Công xây thành hồ Núi Cốc.

Trong màu xanh ngăn ngắn của mặt hồ, trong cái tĩnh lặng của trời, mây, sông, nước, 89 hòn đảo trên hồ lần lượt hiện ra góp thêm chất thơ cho hồ Núi Cốc càng trở nên quyến rũ. Hòn đảo lớn nhất gọi là đảo Tiên Nằm, phía xa xa là đảo Cò xanh thẫm, với những bãi sim và rặng tre già hoang sơ là nơi trú ngụ của rất nhiều loại chim, cò… Rời khỏi đảo Cò, thuyền đưa chúng tôi vào đảo Núi Cái thăm khu trưng bày các sản phẩm làng nghề truyền thống Việt Nam với hơn 1.000 sản phẩm bằng những chất liệu khác nhau…

Ngoài ra, nơi này còn có một khu vui chơi, giải trí khá hiện đại. Những người thích khám phá có thể lựa chọn cho mình tuyến tham quan động huyền thoại cung, động ba cây thông, động thế giới cổ tích. Ở đó du khách sẽ ấn tượng bởi những mê cung huyền ảo và những kiệt tác của thiên nhiên với đủ các hình dáng khác nhau cùng đọc các câu chuyện thần tiên, câu chuyện cổ tích khắc trên vách hang… Tất cả đã khiến khách du lịch tạm quên những mệt nhọc những ưu phiền của cuộc sống hàng ngày và sẽ thấy lòng tĩnh tại.

Khi đến chốn non xanh nước biếc, chúng tôi không chỉ được ngắm phong cảnh mà còn được thưởng thức những món ăn đặc sản của hồ Núi Cốc như cá mè, tôm đá… Ra về ai cũng không quên mua ít trà Tân Cường đặc sản của vùng đất Thái Nguyên.Để đưa hồ Núi Cốc thành vùng du lịch trọng điểm của quốc gia, UBND tỉnh Thái Nguyên lập quy hoạch chi tiết phát triển vùng du lịch hồ Núi Cốc đến năm 2023, tầm nhìn đến năm 2030 và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giai đoạn I.

Xem Thêm Bài 💧 Thuyết Minh Về Khu Di Tích Lịch Sử Pác Bó ❤️️15 Bài Hay Nhất

Bài Văn Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc Đặc Sắc là tài liệu tham khảo hữu ích để các em có thể ôn tập thật tốt.

Hồ Núi Cốc là một điểm du lịch nổi tiếng thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Khi đã đặt chân đến vùng đất này, du khách sẽ được chào đón bởi những cánh đồng lúa mênh mông, thoảng thoảng củ mùi hương cỏ hoa đồng nội.

Từ Hà Nội bạn cứ theo quốc lộ số 3 khoảng 80km về thành phố Thái Nguyên lồng lộng gió, sau đó rẽ trái và theo con đường nhỏ khoảng 20km, bạn có thể nhìn thấy Hồ Núi Cốc với những đồi chè bậc thang, nhẹ nhàng dưới một bầu trời xanh và dòng sông tươi mát. Đến đây, bạn sẽ hết sức ngạc nhiên bởi vẻ đẹp huyền bí của Hồ Núi Cốc. Phong cảnh ở đây được ví như một bức tranh sơn thủy hơn là một phong cảnh thật ngoài đời.

Truyền thuyết về câu chuyện tình cảm động giữa cô gái tên Công và chàng trai tên Cốc được truyền lại như sau: Công và Cốc là một đôi tình nhân yêu nhau thắm thiết, nhưng do không môn đăng hộ đối nên gia đình cô gái ngăn cấm họ đến với nhau. Nhưng họ vẫn quyết tâm chờ nhau trong đau khổ.

Hẹn ước của đôi trai gái là khi Cốc thổi sáo thì Công sẽ đến tìm chàng, nhưng điều bí mật này đã bị cha nàng phát hiện và đuổi theo con gái để bắt nàng lại. Nàng đã héo úa trong nỗi đau và chết với một trái tim tan vỡ… những giọt nước mắt đã trở thành một con sông. Còn chàng Cốc thì chết vì tuyệt vọng, trời cảm thương chàng nên biến chàng thành ngọn núi Cốc sừng sững… Tương truyền, dòng sông là từ nước mắt nàng Công len lỏi trong lòng đất để đi tìm chàng Cốc…

Kể từ đó vào mỗi mỗi năm vào mùa hè, khi mùa tím hoa sum nở rộ trên núi Cốc và trên sông Công, mọi người nhớ đến tình yêu đẹp này. Đây cũng là nơi có đặc sản trà Tân Cương nổi tiếng cả nước vì nhờ được tưới nước.

Hồ Núi Cốc còn được ví như một Vịnh Hạ Long thu nhỏ vì 89 hòn đảo nhỏ xinh nằm rải rác ở trên mặt hồ. Những hòn đảo có những đặc điểm khác nhau: một số là rừng xanh, đôi khi là tổ của hàng ngàn con cò và nhiều loài chim khác. Đó là lý do tại sao nó còn có tên là đảo Cò. Một là nơi ở của những con dê hoang dã và tất nhiên, nó cũng được gọi là đảo Dê. Gần hồ, núi Cốc đứng sừng sững giữa bầu trời xanh, ánh nắng tươi sáng lan rộng trên mỗi ngọn cỏ và cành lá, tất cả tạo nên khung cảnh tuyệt vời và lộng lẫy.

Khu du lịch tại Hồ Núi Cốc được chia thành hai khu vực, khu vực phía Bắc ó nhiều ngôi nhà nhỏ dành cho du khách được xây dựng ở phía bên của một ngọn đồi và bóng mát với cây xanh, cùng với công viên nước và công viên khủng long nhân tạo. Ở phía Nam là những khu vui chơi giải trí hoặc đi câu cá trên hồ… Tại đây, bạn có thể thử đặc sản của hồ như tôm, dúi,… Bạn cũng có thể di chuyển trên mặt nước trong một chiếc thuyền nhỏ xung quanh hồ và nằm lại để thưởng thức vẻ đẹp thơ mộng và hùng vĩ của bầu trời bao la treo cao trên núi và rừng.

Đọc Thêm Bài 💧 Thuyết Minh Về Khu Di Tích Lịch Sử Tân Trào ❤️️ 15 Bài Hay

Viết Bài Văn Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc Ngắn được chúng tôi chọn lọc và giới thiệu rộng rãi đến các bạn đọc sau đây.

Hồ Núi Cốc thuộc tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 15km về hướng tây nam. Ði theo tỉnh lộ Ðán – Núi Cốc trải nhựa phẳng phiu, uốn lượn qua những cánh rừng bạt ngàn, tít tắp là tới khu du lịch Núi Cốc. Hồ nằm giữa một khung cảnh thiên nhiên kì thú sơn thuỷ hữu tình.

Nơi đây đã nổi tiếng bởi nét đẹp thiên tạo tự bao năm. Núi Cốc tên gọi một vùng đất, vùng hồ nên thơ, lung linh sắc màu huyền thoại của câu chuyện tình thuỷ chung trong truyền thuyết Nàng Công – Chàng Cốc.

Hồ Núi Cốc là hồ nhân tạo, chắn ngang dòng sông Công, nằm trên địa phận huyện Ðại Từ, ở trên cao lưng chừng núi. Hồ được khởi công xây dựng năm 1993, hoàn thành cơ bản năm 1994.

Hồ gồm một đập chính dài 480m và 6 đập phụ. Diện tích mặt hồ khoảng 25km2. Trên mặt hồ rộng mênh mông có tới hơn 89 hòn đảo, có đảo là rừng cây xanh, có đảo là nơi trú ngụ của đàn cò, có đảo là quê hương của loài dê, có đảo có đền Bà chúa Thượng Ngàn, lòng hồ sâu trung bình 35m, dung tích nước hồ khoảng 175 triệu m3. Hồ có khả năng khai thác từ 600 – 800 tấn cá/năm.

Hồ Núi Cốc là danh thắng và là nơi nghỉ mát đẹp. Hiện nay hệ thống nhà nghỉ và bến tắm đã được quy hoạch và xây dựng tương đối tốt, phục vụ khách du lịch đến thăm quan nghỉ ngơi, vui chơi giải trí.

Xem Thêm Bài 💧 Thuyết Minh Về Yên Tử, Chùa Yên Tử ❤️️15 Bài Văn Hay Nhất

Văn Mẫu Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc Hay giúp các em có thêm nhiều gợi ý thú vị để hoàn thiện bài văn của mình.

Nổi tiếng bởi vẻ đẹp non nước hữu tình, gắn liền với huyền thoại về tình sử nàng Công chàng Cốc, Hồ Núi Cốc là địa điểm du lịch được nhiều du khách lựa chọn khi đến Thái Nguyên.

Núi Cốc là tên gọi một vùng đất, vùng hồ thấm đẫm chất huyền thoại về câu chuyện tình thuỷ chung giữa nàng Công, chàng Cốc. Họ yêu nhau nhưng không thành, một người nước mắt chảy thành sông, người kia chờ đợi mỏi mòn hoá thành núi. V

Từ trung tâm thành phố Thái Nguyên, chạy qua xã Tân Cương nổi tiếng với những cánh đồng chè xanh bạt ngàn, chúng tôi đặt chân đến khu du lịch Hồ Núi Cốc. Hồ Núi Cốc vốn dĩ là hồ nhân tạo, được khởi công xây dựng năm 1993 và hoàn thành năm 1994, gồm một đập chính dài 480m và 6 đập phụ, có diện tích mặt hồ rộng khoảng 25km2.

Khu du lịch Hồ Núi Cốc được xây dựng trên khuôn viên rộng 19.000ha, từ lâu đã hấp dẫn du khách bởi nét đẹp thiên tạo gắn với câu chuyện tình đẹp đã đi vào ca khúc “Huyền thoại Hồ Núi Cốc” của nhạc sĩ Phó Đức Phương.

Truyền thuyết kể lại rằng, ngày xưa có một chàng trai nghèo tên là Cốc sống bằng nghề đốn củi đến nhà quan lang ở vùng gần sông Công, sông Gâm làm thuê. Quan lang này có một cô con gái xinh đẹp và hát hay, múa giỏi nức tiếng khắp vùng, đó là nàng Công. Duyên trời định đoạt, tiếng sáo chàng Cốc đã khiến trái tim người con gái rung động.

Biết chuyện, quan lang nhốt nàng Công trong nhà và cho quân truy đuổi chàng Cốc. Chàng Cốc trở về quê chờ nàng Công đến khi cả tấm thân hóa thành quả núi, còn nàng Công thương nhớ chàng Cốc, khóc ròng rã đến khi nước mắt chảy dài thành sông.

Đến Hồ Núi Cốc, thú vị nhất là được đi du thuyền trên hồ, khám phá những đảo đất xinh đẹp nhưng vẫn giữ nguyên nét hoang sơ. Lênh đênh hành trình giữa lòng hồ, phong cảnh hồ Núi Cốc giống như bức tranh sơn thủy hữu tình. Xung quanh là những dãy núi nhấp nhô, cây cỏ in bóng xuống mặt hồ xanh biếc tạo nên cảnh sắc huyền ảo lung linh lúc ẩn lúc hiện, khiến chúng tôi không khỏi sững sờ trước vẻ đẹp quyến rũ của khu du lịch hồ trên núi.

Trong không gian tĩnh lặng, thuyền nhẹ trôi, chúng tôi dường như cảm nhận rõ sự mênh mông của vùng hồ nên thơ, lung linh sắc màu huyền thoại câu chuyện tình thuỷ chung người hóa núi, kẻ nước mắt chảy thành sông.

Đọc Thêm Bài 💧 Thuyết Minh Về Côn Đảo, Nhà Tù Côn Đảo ❤️️15 Bài Hay Nhất

Hồ Núi Cốc là một hồ nước ngọt nhân tạo tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Đây là một địa điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Thái Nguyên. Không những thế nó còn được gắn với huyền thoại về chuyện tình nàng Công và chàng Cốc. Hồ Núi Cốc được nhắc đến nhiều khi mà năm du lịch Quốc gia 2007 và 2008 được tổ chức ở Thái Nguyên.

Hồ Núi Cốc có vị trí phía Đông giáp thành phố Thái Nguyên, phía Nam giáp thị xã Phổ Yên và thành phố Sông Công, phía Tây và phía Bắc giáp huyện Đại Từ. Hồ nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 16 km về phía tây. Từ thành phố Thái Nguyên đi qua xã Tân Cương (một xã nổi tiếng với cây chè), sẽ thấy hồ Núi Cốc hiện ra trước mắt. Đây là một vùng du lịch sinh thái gắn với nhiều huyền thoại.

Hồ Núi Cốc nguyên là một đoạn của sông Công, một trong các chi lưu của sông Cầu chảy vòng quanh một ngọn núi đất có tên là núi Cốc. Đập Núi Cốc được khởi công xây dựng đầu năm 1972 nhưng do Không quân Mỹ mở chiến dịch Linebacker I đánh phá trở lại miền Bắc Việt Nam nên công trình bị đình hoãn đến đầu năm 1973 mới tái khởi động.

Tháng 10 năm 1978, một trận lũ lịch sử trên sông Công có lưu lượng 3.000 mét khối/giây, gấp gần 4 lần lưu lượng xả thiết kế của cửa xả chính và làm vỡ hai vai đập. Công trình Đập Núi Cốc hoàn thành phần đầu mối vào năm 1979 và hoàn thành toàn bộ vào năm 1982.

Đập Núi Cốc thuộc hạng A là hạng đập đất đắp không có lõi chống thấm (theo phân hạng của Bộ Thủy Lợi, nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn). Công trình gồm 1 đập chính và 7 đập phụ. Đập chính có cao trình 27m, dài 480m, là loại đập tràn có cửa xả kiểu máng phun với lưu lượng xả tối đa 850 mét khối/giây.

Thân đập được làm bằng đắt đắp, đầm hỗn hợp thủ công và đầm lăn cơ giới hạng nhẹ. 7 đập phụ cũng là đập đất đắp không có lõi chống thấm, cao 12,5m. Từ năm 1999, đập được xây thêm 2 khoang xả tràn có lưu tốc xả 585 mét khối/giây. Tổng chiều dài các kênh dẫn dòng cấp I cung cấp nước cho hạ lưu dày 72 km từ cửa cống rộng 195 m.

Đập Núi Cốc tạo ra Hồ Núi Cốc có diện tích mặt nước trung bình 25 km vuông, ở thời điểm lũ tối đa là 32 km vuông; độ sâu 46,2 m, thời điểm cường lũ tối đa là dung tích toàn bộ 175,5 triệu mét khối, dung tích hữu ích 168 triệu mét khối.

Hồ-đập Núi Cốc cùng các công trình phụ trợ tạo thành hệ thống thủy lợi Núi Cốc có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho 12 nghìn ha lúa thuộc bốn huyện, thành phố phía nam tỉnh Thái Nguyên và khu công nghiệp Thái nguyên với lưu lượng 30 mét khối/giây; cung cấp nước phục vụ đời sống dân sinh của cư dân thành phố Thái Nguyên với lưu lượng 7,2 mét khối/giây. Tổng lượng nước do Hồ Núi Cốc cung cấp cho Thái Nguyên đạt từ 40 triệu đến 70 triệu mét khối/năm.

Trong những năm hạn hán, Hồ Núi Cốc còn còn tiếp nước cho hệ thống thủy nông Sông Cầu (Bắc Giang) khoảng 30 triệu đến 50 triệu mét khối/năm. Hệ thống thủy lợi Hồ Núi Cốc cũng có tác dụng cắt lũ cho vùng hạ lưu sông Công; chăn nuôi thủy sản và kết hợp du lịch.

Giới Thiệu Bài 💧 Thuyết Minh Về Đền Nghè ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài Văn Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc Ấn Tượng sẽ là một trong những tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn đọc và các em học sinh để hiểu thêm về nơi đây.

Đi du lịch đến đây bạn sẽ chiêm ngưỡng được một thắng cảnh sơn thủy hữu tình. Bạn sẽ được hít thở với không khí trong lành, mát mẻ. Bạn còn được du ngoạn trên hồ và nghe kể về câu chuyện tình chung thủy ngàn đời trở thành huyền thoại của vùng sơn cước.

Hồ Núi Cốc cùng với các công trình phụ trợ tạo thành hệ thống thủy lợi Núi Cốc. Nó có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho 12.000 ha lúa thuộc bốn huyện, thành phố phía nam tỉnh Thái Nguyên. Và còn cung cấp nước 40.000.000 – 70.000.000 m³ nước/ năm cho các khu công nghiệp Thái nguyên.

Đặc biệt nhất cung cấp nước phục vụ đời sống dân sinh của cư dân thành phố Thái Nguyên. Trong một số năm hạn hán, Hồ Núi Cốc còn còn tiếp nước cho hệ thống thủy nông Sông Cầu tỉnh Bắc Giang. Hệ thống thủy lợi của Hồ Núi Cốc cũng có tác dụng cắt lũ cho vùng hạ lưu sông Công. Giúp phục vụ chăn nuôi thủy sản và kết hợp du lịch.

Hồ Núi Cốc vốn là một đoạn của dòng sông Công và một trong các chi lưu của sông Cầu. Nó chảy vòng quanh một ngọn núi đất có tên là núi Cốc. Tại đây có một cái Đập, tên là Núi Cốc. Nó được khởi công xây dựng đầu năm 1972. Vào những tháng cuối năm 1978, một trận lũ lịch sử trên sông đã làm vỡ đập ra làm hai. Từ đó người ta lập ra Hồ Núi Cốc để ngăn sông Công được xây dựng trong các năm 1973 đến 1982. Hồ có độ sâu 35 m với diện tích mặt hồ rộng 25 km². Hồ có dung tích ước tính từ 20.000.000 – 176.000.000 m³.

Hồ Núi Cốc được dân mạng gọi là Tuyệt Tình Cốc vốn dĩ chỉ là một hồ nước ngọt nhân tạo. Nó trực thuộc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Phía Đông giáp thành phố Thái Nguyên. Phía Nam giáp thị xã Phổ Yên và thành phố Sông Công. Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Đại Từ. Đây là một địa điểm du lịch rất nổi tiếng ở Thái Nguyên với cảnh đẹp như một tuyệt tình cốc thơ mộng trong phim cổ trang.

Chia Sẻ Bài 🌹 Thuyết Minh Về Dinh Độc Lập ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc Hay Nhất giúp các em học sinh có thêm những ý tưởng thú vị để thực hiện bài viết của mình.

Rời trung tâm thành phố Thái Nguyên chừng vài km đến ngã ba Đán theo tỉnh lộ 270 vào Khu du lịch Hồ Núi Cốc. Con đường được trải dựa phẳng phiu, uốn lượn qua những cánh đồng lúa, những đồi chè đang đâm trồi lộc biếc, qua những cánh rừng bạt ngàn xanh thẳm. Hồ nằm giữa khung cảnh thiên nhiên kỳ thú “Sơn thuỷ hữu tình”.

Núi Cốc – tên gọi một vùng đất, một vùng hồ gắn liền với câu chuyện tình thuỷ chung giữa nàng Công – chàng Cốc, họ yêu nhau nhưng không thành, một người đau nước mắt thành sông, một người chờ, chờ hoá núi … mà ngày nay người dân gọi là Núi Cốc, sông Công.

Hồ Núi Cốc là một hồ nhân tạo, chắn ngang dòng sông Công, nằm trên địa phận huyện Đại Từ, trên cao ở lưng chừng núi, được khởi công xây dựng năm 1973, hoàn thành cơ bản năm 1974, có đập chính dài 480m, diện tích mặt hồ 25km2, dung tích 175 triệu mét khối nước, nước sâu trung bình 23m. Trên mặt hồ rộng mênh mông có 89 hòn đảo lớn, nhỏ: đảo Cò, đảo Dê, đảo Núi Cái, đảo Tiên Nằm… đã góp thêm cho hồ đầy chất thơ, chất huyền thoại.

Nằm ở độ cao 1000m so với mặt nước biển, khí hậu trong lành mát mẻ. Từ lâu, Hồ Núi Cốc vẫn được ví như một “Vịnh Hạ Long cạn” trên mảnh đất Thái Nguyên. Ngày nay, Hồ Núi Cốc không chỉ nổi tiếng là một thắng cảnh đẹp, mà còn là một khu du lịch nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên.

Đến Hồ Núi Cốc, cái thú vị nhất là được đi du thuyền khám phá lòng hồ, dừng chân thăm đảo Núi Cái (hòn đảo lớn nhất trên hồ, diện tích 20ha, nơi trưng bày hơn 1000 hiện vật đến từ hơn 90 làng nghề truyền thống trên khắp đất nước Việt Nam). Cách đảo Núi Cái không xa một con đập kéo dài – đây là đập chính của hồ, dài 480m là công trình thuỷ lợi lớn nhất tỉnh Thái Nguyên.

Khu du lịch Hồ Núi Cốc có 6 điểm du lịch chính: (Động Huyền Thoại Cung: Động rộng 2000m2, là công trình nghệ thuật thật hấp dẫn do bàn tay khéo léo, khối óc của 50 nghệ nhân xây dựng tái hiện, mô phỏng lại câu chuyện của chàng Cốc – nàng Công; Động Ba Cây Thông: diện tích 5000m2, chiều dài 350m, là động có vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo tái hiện lại câu chuyện cổ tích thấm đượm không khí huyền thoại về chuyện tình hai anh em sinh đôi cùng yêu một người con gái.

Động Thế Giới Cổ Tích: có chiều dài 400m, tổng diện tích 5000m2 được xây dựng công phu, ly kỳ. Giới thiệu, mô phỏng những hình ảnh sống động giữa cái thiện và cái ác. Vào trong lòng động nghe được những lời khuyên sống ở đời phải nên làm nhiều việc thiện để khi về tây thiên cực lạc mới thành cõi tiên; Công Viên Nước: với các hạng mục kiến trúc hiện đại như bể bơi lớn, bể bơi nhỏ, các làn trượt đa năng… ; Sân khấu nhạc nước; Công viên cá sấu…

Đặc biệt, khi màn đêm buông xuống, cả vùng Hồ Núi Cốc mờ ảo như huyền thoại. Mặt hồ xanh đậm như nhung, ánh trăng, ánh điện lấp lánh sau những tán lá dịu dàng. Trong các nhà hàng, du khách đang thưởng thức các món cá chép hấp, nướng hay thịt dê, những đặc sản của vùng Hồ Núi Cốc.

Khu du lịch Hồ Núi Cốc lại náo nhiệt những câu hát của du khách cùng nhau giao lưu văn nghệ, đốt lửa trại đêm và thưởng thức các món ăn địa phương như khoai, ngô, sắn, gà nướng… Khi mặt trời nhô lên, hoặc lúc chiều tà, mặt hồ xao động, chỗ này, chỗ kia những chiếc thuyền, ca nô đưa du khách lướt trên sóng vỗ rì rào.

Đón Đọc Bài ❤️️ Thuyết Minh Về Hồ Hoàn Kiếm ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc Chi Tiết  giúp các em có thể học hỏi và rèn luyện thêm kĩ năng viết của mình.

Khu du lịch Hồ Núi Cốc được xây dựng trên một khuôn viên rộng có cảnh quan thiên nhiên đẹp, không khí trong lành, mát mẻ với hồ nước rộng khoảng 25km2, những dãy núi trùng trùng điệp điệp được bao phủ bởi màu xanh tinh khiết của cây rừng và đồi chè xanh mướt nhấp nhô tạo nên một bức tranh thiên nhiên đầy mê hoặc hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Du khách có thể bắt đầu hành trình trải nghiệm, khám phá vẻ đẹp huyền thoại Hồ Núi Cốc với điểm xuất phát từ trung tâm thành phố Thái Nguyên, theo tỉnh lộ 270 khoảng chừng 16km sẽ tới khu du lịch Hồ Núi Cốc. Đến với khu du lịch Hồ Núi Cốc du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thanh bình, yên ả của vùng đất nơi đây.

Một phong cảnh sơn thủy hữu tình, nhuốm màu huyền thoại hiện ra trước tầm mắt. Đó là cảm nhận đầu tiên du khách đặt chân đến nơi đây. Khu du lịch Hồ Núi Cốc là một quần thể hài hòa giữa đất trời, mây nước, núi sông thoắt ẩn thoắt hiện men theo con đường quanh co uốn lượn quanh hồ.

Vùng đất in bóng dãy núi Tam Đảo này đã lưu truyền một câu chuyện tình đẹp từ xa xưa, mà minh chứng sinh động của nó chính là khu du lịch Hồ Núi Cốc ngày nay. Điểm đến chinh phục du khách bắt đầu từ một huyền thoại quả là không nhiều! Du khách tới đây để chiêm ngưỡng, thăm thú cảnh núi non mây nước Việt Bắc, còn những tâm hồn đa cảm thì nhẩn nha gặm nhấm mối tình đẫm nước mắt của chàng Cốc, nàng Công.

Chuyện xưa kể rằng, có đôi trai gái yêu nhau tha thiết, thủy chung, nhưng vì chàng trai quá nghèo nên không được sự chấp thuận của cha mẹ cô gái vốn là một gia đình quan lang giàu có. Mọi sự ngăn cản, cấm đoán cũng chỉ khiến đôi trai gái thêm quyết tâm mong ngóng chờ đợi nhau. Tiếng sáo của chàng Cốc không còn vọng đến nàng Công. Nước mắt chỉ mình nàng Công biết. Nhớ thương tuyệt vọng, chàng Cốc héo hon mà chết. Trời đất cảm thương hóa chàng thành một quả núi sừng sững giữa trời.

Suốt bốn mùa, gió man mác trong cây lá như tiếng sáo xa xăm vọng về. Còn nàng Công, trong buồng giam nhớ thương chàng Cốc không nguôi. Nàng khóc ngày đêm, cho đến một ngày kia cả tấm thân nàng cũng hóa thành nước mắt. Những giọt nước mắt yêu thương thủy chung qua năm tháng thấm sâu vào đất, chảy thành dòng theo vết nứt tìm về núi Cốc.

Mỗi năm khi mùa hè đến, trên núi Cốc và đôi bờ sông Công nở đầy hoa sim tím, như thầm nhắc đến chuyện tình thuở ấy. Nàng Công quặn mình đau đớn, uất hận khao khát. Đó là những ngày mưa lũ, nước sông Công dâng ào ạt để gần núi Cốc hơn.

Một điều thật thú vị là nơi sinh ra huyền thoại chàng Cốc và nàng Công chính là vùng chè Tân Cương thơm ngon đệ nhất trên đất Thái Nguyên. Tại đây, du khách có thể ngắm nhìn trùng trùng điệp điệp những đồi chè xanh ngắt đang trổ đều từng búp non mỡ màng. Và thấp thoáng, các cô các chị đang chọn hái những búp chè bỏ vào chiếc gùi đeo trước ngực. Các cụ già kể lại với hậu thế rằng, nước mắt nàng Công thấm vào rễ cây chè, tạo nên vị ngọt cứ lưu luyến, ngân nga, để người ta nhấp chén trà một lần rồi nhớ mãi.

SCR.VN Gợi Ý 💦 Thuyết Minh Về Núi Voi ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Hồ Núi Cốc Ngắn giúp các em có thể quan sát được cụ thể cấu trúc của một bài văn hoàn chỉnh.

Gần hết học kì I của năm lớp 6, nhà trường tổ chức cho chúng tôi đi thăm quan ở hồ Núi Cốc.

Vì đây là lần đầu tiên được đi xa mà không có bố mẹ, chỉ có cô giáo chủ nhiệm cùng các bạn nên tôi vừa hồi hộp vừa xen một chút lo lắng. Biết vậy, mẹ đã chuẩn bị cho tôi đủ thứ từ tối hôm trước và dặn dò tôi đủ điều. Sau đó mẹ bắt tôi đi ngủ thật sớm vì ngày mai 5 giờ sáng xe đã chạy. Lên giường nằm rồi mà tôi vẫn chưa hết hồi hộp, cuối cùng tôi thiếp đi cho đến đúng lúc chuông báo thức đổ một hồi dài. Tôi vùng dậy, mẹ đã dậy và chuẩn bị ba lô cho tôi. Sau khi đã xong bố đèo tôi đến sân trường để cùng các bạn đi thăm quan.

Đúng 5 giờ sáng xe bắt đầu chạy, tất cả chúng tôi đều vui sướng khi đi ngang qua những con đường quen thuộc. Xe chạy bon bon, chỉ một lát sau đã rời xa nơi chúng tôi ở, những con đường xa lạ cứ mở dần ra trước mắt chúng tôi. Đi được một quãng, cô giáo bắt nhịp cho chúng tôi hát những bài hát quen thuộc, vậy là cả xe vang đầy tiếng hát cùng tiếng vỗ tay rào rào.

Không khí thật vui vẻ, náo nhiệt. Chỉ hơn hai tiếng sau chúng tôi đã có mặt ở Núi Cốc, đến nơi cô giáo cho chúng tôi nghỉ nửa tiếng để ăn sáng và nghỉ ngơi. Hồ Núi Cốc mở ra trước mắt tôi là màu xanh thắm của rừng cây và màu trong xanh của hồ nước. Không khí thật thanh bình, yên tĩnh, khác hẳn không khí nơi chúng tôi sống.

Sau khi ăn sáng xong, cô giáo đưa chúng tôi đi vào thăm các hang núi, đây không phải là các hang núi tự nhiên mà nó được tạo ra bởi bàn tay khéo léo tỉ mỉ của con người, đó quả là những công trình tinh vi đẹp mắt. Ra khỏi hang, chúng tôi leo lên những quả đồi cao, ở đó có rất nhiều thông và phi lao.

Đứng trên đồi cao chúng tôi nghe thấy rất rõ tiếng thông vi vu như đang hát ru. Nhìn từ trên cao xuống mặt hồ thật đẹp, ánh nắng vàng tỏa trên mặt hồ làm cho hàng ngàn con sóng nhỏ chạy trên mặt nước non như những vì sao đang tung tăng, chơi đùa. Sau khi chơi chán trên bờ hồ, cô trò chúng tôi lại đi dạo trên mặt hồ bằng một chiếc thuyền nhỏ.

Mặt hồ rộng mênh mông, sóng gợn lăn tăn chạy xô theo hướng gió thổi. Phía xa có những ngôi làng nằm lặng lẽ bên hồ. Khung cảnh thật nên thơ. Trên thuyền, cô giáo kể cho chúng tôi nghe sự tích núi Cốc, rồi cô còn hát cho chúng tôi nghe bài hát Huyền thoại hồ Núi Cốc, giọng cô mượt mà tha thiết, lúc trầm lúc bổng ngọt ngào, thiết tha. Thế là sau một ngày tham quan khu du lịch núi Cốc, cô trò chúng tôi lại thu dọn đồ đạc trở về nhà.

Dù đi cả một ngày nhưng không khí vui quá, tất cả chúng tôi chẳng còn thấy mệt nữa. Lúc lên xe chúng tôi lại thi nhau hát và reo hò náo nhiệt cả một góc đường. Trở về nhà, tôi háo hức kể cho bố mẹ nghe về chuyến đi đó và tôi thầm nghĩ chắc chắn bài văn tả cảnh ngày mai của mình sẽ rất hay, bởi qua chuyến đi này trong đầu tôi đã thu lượm được bao nhiêu khung cảnh đẹp về thiên nhiên. Quả là một chuyến đi đầy bổ ích.

Chia Sẻ Bài 💦Thuyết Minh Về Đền Ngọc Sơn ❤️️15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài Văn Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc Đơn Giản sẽ giúp các em học sinh luyện tập cách hành văn hay và đầy đủ ý nghĩa.

Quê em có rất nhiều cảnh đẹp khác nhau và em thích nhất là khung cảnh đẹp nên thơ ở Hồ núi cốc. Ở đây là một cái hồ rất lớn và rộng khung cảnh thiên nhiên cũng rất là thoáng đãng và tươi mát. Nên khiến người ta đến nhiều để thư giãn và tập thể dục sau những giờ làm việc mệt mỏi.

Đồng thời ở Hồ núi cốc này giờ đây trở thành khu sinh thái rất đẹp và nổi tiếng. Có vườn hoa cây cảnh, có bể bơi có vườn thú, và có rất nhiều trò chơi để mọi người cùng đến đây chơi.

Mỗi một năm Hồ núi cốc lại có những sự thay đổi mới nên càng trở nên nguy nga và lộng lẫy hơn. Hôm trước em về cùng bố mẹ vào đón bà ngoại vào đây thăm quan và đi dạo. Em tham gia các trò chơi như phi ngựa, tàu siêu tốc, …và nhiều trò chơi khác. Đến giữa buổi bố mẹ em cho em ra chỗ bể bơi và em xuống bơi và ném bóng nước rất là vui.

Sau đó gia đình em đi thăm khung cảnh xung quanh thật đẹp đẽ và hùng vĩ. Bởi cảnh sắc và con người nơi đây rất là hòa hợp. Xung quanh thi thoảng lại có tiếng chim kêu em cảm thấy rất thích khi đến đây. Em ước mỗi năm sẽ được đến đây một lần. Bố em nói chỉ cần em đạt học sinh giỏi mỗi năm thì hè nào cũng cho em về đây chơi.

Em rất thích khung cảnh và độ thân thiện của con người nơi đây.

Đọc Thêm Bài 💦 Thuyết Minh Về Sông Bạch Đằng ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Hồ Núi Cốc Văn Hay  giúp các em học sinh nâng cao kỹ năng viết và có thêm những kiến thức hữu ích.

Hồ Núi Cốc nằm trong quần thể Khu du lịch huyền thoại hồ Núi Cốc. Nơi đây có rất nhiều địa điểm tham quan đẹp cũng như các trò chơi, dịch vụ hấp dẫn. Tất nhiên hồ Núi Cốc – địa danh nổi tiếng tại Thái Nguyên vẫn là một trong những địa điểm tham quan lôi kéo được nhiều người nhất.

Núi Cốc là hồ nước ngọt nhân tạo, hình thành sau khi đập ngăn sông Công được xây dựng từ năm 1973 đến 1982. Hồ có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho 12.000 ha đất, giảm nhẹ lũ hạ lưu sông Cầu, đáp ứng dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng và nuôi cá.

Hồ là điểm du lịch nổi tiếng nhất tỉnh Thái Nguyên, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 16km và cách thủ đô Hà Nội khoảng 100 km. Hồ Núi Cốc là vùng du lịch sinh thái gắn với nhiều huyền thoại, nổi bật là chuyện tình nàng Công và chàng Cốc, một người ra đi nước mắt chảy thành sông còn một người chờ đợi hóa thành núi.

Du khách có thể đi thuyền tham quan các đảo đất, ngắm cảnh hồ, khám phá ngôi nhà hơn 200 tuổi với nhiều di vật quý giá trên Núi Cái, quần thể chùa Thác Vàng… hoặc vui chơi trong công viên nước khi mùa hè tới. Hồ Núi Cốc đẹp nhất vào thu khi các hoạt động vui chơi, nghệ thuật không rầm rộ như mùa hè nên du khách có thể thoải mái tận hưởng không gian tĩnh lặng và phong cảnh thiên nhiên xanh mát hơn.

Gợi Ý Bài ⏩ Thuyết Minh Về Đền Hùng ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Hồ Núi Cốc Sinh Động với cách diễn đạt câu văn hấp dẫn, hình ảnh miêu tả chân thực và sáng tạo.

Hồ Núi Cốc ở tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm TP Thái Nguyên 15km về hướng tây nam. Nơi đây nổi tiếng bởi nét đẹp thiên tạo tự bao năm nay và bởi cả sắc màu huyền thoại của truyền thuyết nàng Công – chàng Cốc.

Hồ Núi Cốc nằm giữa một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú, sơn thuỷ hữu tình. Mặt hồ rộng mênh mông, có 89 hòn đảo lớn nhỏ. Không khí ở đây hết sức trong lành và tinh khiết. Những dãy núi dài lấp ló trong mây, tựa như một cô gái đang nằm xoã tóc, dưới chân núi là mặt hồ êm ru sóng gợn.

Đến hồ Núi Cốc ngoài được thưởng thức khung cảnh trên núi dưới thuyền với bầu không khí dịu mát du khách còn có thể sử dụng các các hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí, thăm quan và nghỉ dưỡng như: du thuyền trên mặt hồ thăm các đảo, thăm huyền thoại cung (nghe kể truyền thuyết câu chuyện tình thuỷ chung chàng Cốc – nàng Công), thăm công viên cổ tích, vườn thú, vui chơi tắm mát ở công viên nước.

Đến đây du khách được tham quan Đảo Văn hoá – đảo lớn nhất trong số 89 hòn đảo của lòng hồ Núi Cốc, cũng là khu trưng bày cổ vật của các nền văn hoá Việt Nam từ văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh, đá chàm của miền Trung cho đến văn hoá Ốc Eo của đồng bằng Nam Bộ.

Giới Thiệu Bài 💦 Thuyết Minh Về Vịnh Hạ Long ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc Lớp 9 giúp các em có thể học hỏi và trau dồi thêm cho mình nhiều kĩ năng viết hay.

Lấy ý tưởng từ huyền tích về mối tình bất diệt của nàng Công, chàng Cốc lưu truyền trong dân gian, Hồ Núi Cốc được đầu tư và xây dựng theo mô hình du lịch sinh thái.

Theo hướng tây nam từ thành phố Thái Nguyên, qua những đồi chè xanh mướt, những con suối hiền hòa Hồ Núi Cốc hiện ra đầy thơ mộng. Khu du lịch này được chia làm hai khu chính: phía Bắc và phía Nam. Hồ rộng khoảng 2.600 ha với 89 hòn đảo lớn nhỏ: đảo rừng xanh, đảo cư trú của những đàn cò, đảo của loài dê, đảo núi Cái (nơi trưng bày các cổ vật từ ngàn xưa để lại) và đảo đền thờ bà Chúa Thượng Ngàn….

Theo con đường chính, phía Bắc hồ là những khu nhà nghỉ mini nhấp nhô theo triền đồi, tháp thoáng xen lẫn với màu xanh của núi rừng đại ngàn. Có khu công viên nước, công viên khủng long, tàu điện…bạn có thể thư thái nghỉ ngơi, thả mình theo dòng nước mát hay tham gia các trò giải trí, những cây cầu lắt léo, những quán lá dập dềnh trên hồ nước, thưởng thức những món đặc sản của vùng Thái Nguyên: cá mè, Tôm đá, hay thịt dúi rừng.

Công viên nước ở Hồ Núi Cốc rộng khoảng 3.4ha có những công trình dịch vụ hấp dẫn như: Vườn Cau ao cá; Tích Tề Thiên Đại Thánh, Bể bơi, đường trượt, các chép, cá heo…Tượng cá chép có thể chứa được 200 người tắm. Bên cạnh đó, Hồ núi cốc còn có khu động vật hoang dã, một khu rừng rộng gần 1ha, có các loài: đà điểu, khỉ, hươu, cá sấu. Dành cho những ai thích động vật

Du khách thích tham quan khám phá có thể lựa chọn cho mình tuyến tham quan động huyền thoại cung, động ba cây thông, động thế giới cổ tích. Ở đó du khách sẽ ấn tượng bởi những mê cung huyền ảo, được chiêm ngưỡng những kiệt tác do trí tưởng tượng phong phú của con người với đủ các hình dáng khác nhau hay là đọc các câu chuyện thần tiên, câu chuyện cổ tích khắc trên vách hang. Tất cả sẽ đưa du khách vào thế giới kỳ diệu để quên đi hết những mệt nhọc, những ưu phiền của cuộc sống hàng ngày và sẽ thấy lòng tĩnh tại…

Không khí trong lành mát mẻ. Xung quanh hồ là những dãy núi, cây rừng bao phủ và những đồi chè xanh mướt nhấp nhô tạo nên một bức tranh thiên nhiên sơn thuỷ hữu tình, phảng phất một chút màu huyền thoại. Đứng trước hồ du khách có thể cảm nhận được sự mênh mông của nước hồ, sự bao la của đất trời…

Tặng Bạn 🌵 Thẻ Cào Miễn Phí ❤️ Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về 9 Bài Văn Thuyết Minh Về Một Món Ăn Hay Nhất trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!