Xu Hướng 3/2024 # Cách Viết Bản Kiểm Điểm Quá Trình Công Tác # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cách Viết Bản Kiểm Điểm Quá Trình Công Tác được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trước tiên phải xác định bản kiểm điểm là gì? Kiểm điểm là xem xét, đánh giá kết quả trách nhiệm và tinh thần làm việc của mình trong thời gian đã công tác. Đối với các công chức nhà nước, bản kiểm điểm thường sẽ thực hiện theo quý hoặc năm nhằm giúp các công chức tự xem xét và nhìn lại quá trình phấn đấu về chuyên môn và tu dưỡng đạo đức của mình. Mỗi cá nhân tự lập một bản kiểm điểm làm căn cứ để xếp loại, xét khen thưởng và xử phạt trong tổ chức.

Làm thế nào để viết một bản kiểm điểm hoàn chỉnh và đầy đủ là câu hỏi được rất nhiều người đặt ra khi mới vào làm. Bài viết này sẽ hướng dẫn các anh/chị cách viết bản kiểm điểm quá trình công tác dễ dàng và hoàn chỉnh.

Hướng dẫn cách viết bản kiểm điểm quá trình công tác

Vì bản kiểm điểm mang tính chất kỷ luật, công bằng nên khi viết bản kiểm điểm anh/chị phải thẳng thắn tự nhìn nhận và đánh giá một cách chân thực toàn bộ quá trình công tác, học tập, rèn luyện về chuyên môn và đạo đức của mình, nâng cao trách nhiệm phê bình và tự phê bình để hoàn thiện bản thân. Cấp trên sẽ dựa theo những gì bạn khai trên bản kiểm điểm mà xem xét và đánh giá xếp loại, thăng chức, tăng lương, khen thưởng cho anh/chị.

Cách viết bản kiểm điểm quá trình công tác dành cho nhân viên công chức:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc

BẢN KIỂM ĐIỂM QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

Năm…….

Kính gửi:…………………………………..

Tên tôi là:………………………………………….

Sinh ngày:…………………………………………….

Chức vụ:…………………………………………….

Đơn vị công tác:…………………………………………

Nay tôi viết bản kiểm điểm xin tự đánh giá quá trình công tác của tôi trong năm qua như sau:

1 – PHẨM CHẤT CHÍNH TRỊ ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG:

– Tôi luôn giữ vững lập trường tư tưởng chính trị, viết nói và làm theo đúng quan điểm, đường lối nghị quyết chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước quy định.

– Chấp hành tốt nội quy, quy định của ngành, của………………………. đề ra. Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong……………………

– Luôn tu dưỡng phẩm chất đạo đức, có lối sống giản dị lành mạnh, hòa đồng với mọi người.

– Thẳng thắn trung thực trong phê và tự phê bình, có tinh thần đoàn kết tương trợ giúp đỡ đồng nghiệp và nhân dân.

2 – CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ

– Tôi luôn luôn gương mẫu trong mọi công việc,có tinh thần học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

– Phối kết hợp chặt chẽ với các đồng chí trong chỉ đạo, điều hành tốt công việc của……………………………………

– Tổ chức tốt ngày hội ngày lễ, các phong trào văn hóa, văn nghệ sôi nổi tham gia vào các phong trào của ngành, của địa phương tổ chức.

3 – TỰ ĐÁNH GIÁ

Ưu điểm:

– Trong năm qua, tôi luôn cố gắng thực hiện mọi nhiệm vụ được giao.

– Chấp hành tốt công tác chuyên môn, giữ mối đoàn kết xây dựng ngày càng vững mạnh.

Nhược điểm:

Trong công tác chỉ đạo còn có sơ suất, thiếu cương quyết.

* Tự xếp loại:………………………………………

Kính mong sự giúp đỡ của tập thể cán bộ và các bạn đồng nghiệp trong để bản thân tôi được hoàn thiện hơn và thực hiện tốt hơn mọi công việc trong năm tới.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

   Người viết

Cách viết bản kiểm điểm quá trình công tác dành cho nhân viên doanh nghiệp:

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————————–

BẢN KIỂM ĐIỂM QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC

Kính gửi: – Ban Giám đốc….

– Phòng Hành Chính – Nhân sự

– Quản lý bộ phận….

Tôi tên là: …………… Sinh ngày: ……………

Ký hợp đồng lao động thử việc làm việc tại đơn vị: ………..

Với vị trí: ……………….

Thời gian làm việc từ: ………………..

Nhiệm vụ được phân công trong thời gian thử việc:

………………………………………………………………

………………………………………………………………

Sau thời gian được tuyển dụng vào vị trí ………….., hiện tôi đã làm việc được…. tháng. Tôi xin được phép tự kiểm điểm về quá trình thực hiện hợp đồng lao động của bản thân như sau:

1. Phẩm chất đạo đức và thái độ làm việc:

……………………………………………………………….

……………………………………………………………….

2. Mức độ hoàn thành nhiệm vụ công việc được giao:

(Thống kê khối lượng công việc đã thực hiện trong thời gian làm việc – Kết quả hoàn thành – Đánh giá của cấp trên (nếu có – … )

…………………………………………………………….

…………………………………………………………….

3. Tóm tắt Ưu và Khuyết điểm trong công việc:

– Ưu điểm:

……………………………………………………………..

……………………………………………………………..

– Khuyết điểm:

………………………………………………………………

………………………………………………………………

4. Quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp, khách hàng:

………………………………………………………………

………………………………………………………………

5. Tự đánh giá xếp loại:

(Có hoàn thành nhiệm vụ được giao tại vị trí phụ trách hay không? Tự đánh giá: Đạt/ Không đạt)

………………………………………………………………

Ý kiến đánh giá từ Quản lý bộ phận

………………………………………………………………

………………………………………………………………

………………………………………………………………

…………………….., ngày….tháng……năm…………

(Ký tên, đóng dấu)                                            (Ký tên, đóng dấu)                                                                     (Ký tên)

Bài Liên Quan:

Điều hướng bài viết

Một Vài Điểm Căn Bản Về Phong Cách Sáng Tác

MỘT VÀI ĐIỂM CĂN BẢN VỀ PHONG CÁCH SÁNG TÁC 1. Khái niệm phong cách sáng tác: * Phong cách sáng tác (phong cách nghệ thuật) là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc. (Trong nghĩa rộng: Phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể có thể cảm nhận được, một giọng điệu và một sắc thái thống nhất). (Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên, NXB Giáo dục, 2004. Tr. 255, 256). 2. Đặc điểm của phong cách nghệ thuật: 2. 1. Phong cách chính là con người nhà văn. Nhà văn Pháp Buy phông nói: "Phong cách ấy là con người". Nó hình thành từ thế giới quan, nhân sinh quan, chiều sâu và sự phong phú của tâm hồn, của vốn sống, sở thích, cá tính cũng như biệt tài trong sử dụng cách hình thức, phương tiện nghệ thuật của nhà văn. VDụ: Nguyễn Tuân là người nhìn đời bằng nhãn quan của cái tôi kiêu bạc, đầy tự hào, tự tin, tự trọng, cùng với lòng ngưỡng mộ cái Đẹp trong đời. Nguyễn Tuân là người từng trải, đi nhiều, biết rộng, sống phóng khoáng, thích tự do, thích thú với những cảm giác mãnh liệt trong cuộc sống... Những yếu tố ấy trong con người nhà văn bộc lộ ra thành một phong cách nghệ thuật: Độc đáo, tài hoa và uyên bác. Nét phong cách này khá nhất quán trong cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau cách mạng. 2. 2. Phong cách nghệ thuật không đơn thuần chỉ là những nét lặp đi lặp lại thành quen thuộc của nhà văn. Đó phải là sự lặp lại một cách hệ thống, thống nhất cách cảm nhận độc đáo về thế giới và hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy. Cho nên, không phải bất kỳ nhà văn nào cũng có phong cách, tạo được phong cách. Phong cách thường được tạo nên bởi một cây bút sâu sắc trên nhiều phương diện: thế giới quan, nhân sinh quan, vốn sống, kinh nghiệm... tài năng về nghệ thuật và có bản lĩnh. Cái nét riêng (ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận) ấy thể hiện nổi bật, có giá trị và khá nhất quán trong hầu hết các tác phẩm của họ, lặp đi lặp lại làm cho người đọc nhận ra sự khác biệt với tác phẩm của các nhà văn khác. Chẳng hạn, giữa Nguyễn Công Hoan và Nam Cao, Xuân Diệu và Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân và Nguyễn Minh Châu... 2. 3. Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo. Phong cách là nét riêng không trùng lặp. Sự thật có thể là một, nhưng cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của nhà văn phải có màu sắc khác nhau, và độc đáo. L. Tônxtôi nói: “Khi ta đọc hoặc quan sát một tác phẩm văn học nghệ thuật của một tác giả mới, thì câu hỏi chủ yếu nảy ra trong lòng chúng ta bao giờ cũng là như sau: Nào, anh ta là con người thế nào đây nhỉ. Anh ta có gì khác với tất cả những người mà tôi đã biết, và anh ta có thể nói cho tôi thêm một điều gì mới mẻ về việc vần phải nhìn cuộc sống của chúng ta như thế nào” (L. Tônxtôi toàn tập). Ví dụ: Cùng thể hiện khả năng trào phúng, hai nhà văn cùng thời Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng vẫn tạo được những phong cách khác nhau: Nguyễn Công Hoan cười nhẹ nhàng, thâm thúy bằng cách dựng lên những tình huống trớ trêu, nghịch lý (kiểu Kép Tư Bền, Người ngựa, ngựa người...); Vũ Trọng Phụng cười chua chát, sâu cay, quyết liệt, như muốn ném thẳng lời nguyền rủa vào mặt người ta (kiểu Số Đỏ). 2. 4. Phong cách nghệ thuật là sự ổn định, nhất quán (đương nhiên không phải tuyệt đối). Ví dụ: Nguyễn Tuân, trải qua hai thời kỳ sáng tác, có những chuyển biến về tư tưởng sáng tác khá rõ nét, nhưng vẫn giữ một phong cách độc đáo, tài hoa, uyên bác. Có khác: Trước cách mạng, ông ưa viết theo cách ngông, nổi loạn chống lại cái tầm thường, phàm tục ở đời. Cái Đẹp nhiều khi phóng túng. Còn sau cách mạng: ông ưa viết theo cách tự tin, tự hào, tự trọng về tài năng và bản lĩnh của mình. Cái Đẹp vẫn được đặt trong tư thế thử thách gai góc nhưng bình dị, chân thực hơn. 2. 5. Phong cách nghệ thuật biểu hiện rất phong phú, đa dạng. Điều này tùy thuộc vào tài năng, sở trường của mỗi nhà văn. ........ 2. 6. Phong cách nghệ thuật là nét riêng, đậm tính cá thể, nhưng phải có liên hệ mật thiết với hệ thống chung các phong cách của một thời đại văn học. Ví dụ: Phong cách của các nhà thơ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên... trước cách mạng tháng Tám đều nằm trong phong cách lãng mạn của trào lưu Thơ mới lãng mạn Việt Nam 1932 - 1945. Đồng thời, phong cách nghệ thuật chỉ có giá trị khi nó thực sự cống hiến cho sự tồn tại và phát triển phong phú, đa dạng của văn học dân tộc nói chung. 2. 7. Phong cách sáng tác chịu ảnh hưởng của những phương diện tinh thần khác nhau như tâm lý, khí chất, cá tính của người sáng tác. Đồng thời, nó cũng mang dấu ấn của dân tộc và thời đại. Mỗi một thời đại lịch sử và thời đại văn học tương ứng có thể tạo ra những phong cách sáng tác mang đặc trưng riêng: chẳng hạn phong cách Hồ Xuân Hương trong thời Trung đại còn nặng nề ý thức hệ phong kiến, văn học chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan điểm phi ngã; phong cách Nguyễn Tuân trong thời Pháp thuộc, phát triển một khuynh hướng văn học – văn học lãng mạn, bộc lộ đầy đủ, sâu sắc cái tôi nghệ sĩ tài hoa, phóng khoáng.... 3. Giới thiệu ví dụ về phong cách sáng tác: 3.1. Phong cách truyện ngắn Nam Cao (Trước cách mạng tháng Tám): 3.1.1. Vài nét về quan điểm sáng tác của Nam Cao: Các quan điểm sáng tác, tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao được ẩn chứa dưới nhiều hình thức trong một số tác phẩm của ông. * Trong truyện ngắn Trăng sáng, NC viết: "Nghệ thuật chính là cái ánh trăng xanh huyền ảo, nó làm đẹp đến những cảnh thật ra chỉ tầm thường xấu xa". Nhưng rồi, chính ngay ở đấy, lại xuất hiện một quan điểm ngược lại: "Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than" và người nghệ sĩ chẳng cần trốn tránh mà "cứ đứng trong lao khổ mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời". Với quan điểm này, NC đã phân biệt rạch ròi hai loại nghệ thuật căn cứ vào bản chất nội tại của chúng. Đó là thứ nghệ thuật giả dối tô vẽ làm đẹp cho cái vốn không đẹp, và thứ nghệ thuật chân thật như là âm vang của cuộc sống - một cuộc sống đau khổ tối tăm. Và NC đã xác định dứt khoát chỗ đứng của mình, là viết về sự thật - sự thật của những kiếp lầm than. * Trong truyện ngắn Đời thừa, Nam Cao viết: "Một tác phẩm thật có giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được tất cả những gì lớn lao mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca ngợi lòng thương, tình bác ái và sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn". Nam Cao đã bày tỏ một quan điểm sâu sắc về giá trị nhân đạo và tính nhân loại phổ biến của một tác phẩm văn chương chân chính. Đồng thời, nhà văn cũng khẳng định một thái độ sống được thể hiện trong nghệ thuật sao cho người hơn. * Cũng trong Đời thừa, NC nói: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có". Quan điểm này của nhà văn bày tỏ một thái độ không chấp nhận kiểu sáng tác theo lối mòn có sẵn, theo công nghệ dây chuyền. Một người nghệ sĩ chân chính phải có thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc, và sáng tạo, biết đi vào chiều sâu bản chất đời sống để dựng lên một bức tranh cuộc đời chân thực và sâu sắc nhất. 3.1.2. Phong cách truyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng: Nam Cao được coi là đại diện của văn học hiện thực phê phán Việt Nam trong giai đoạn cuối. Ông được coi là người đã đặt những mảng màu cuối cùng hoàn chỉnh bức tranh của văn học hiện thực cả về mặt phản ánh xã hội cũng như khả năng biểu hiện nghệ thuật. Dầu không phải là nhà cách tân truyện ngắn, chí là người bồi đắp cho thể loại này, nhưng sự bồi đắp ấy phong phú đến nỗi, cho đến ông, truyện ngắn giàu có thêm rất nhiều về cách thăm dò những chiều sâu mới, khẳng định thêm sự hàm súc của nó. Trước Nam Cao đã có một Vũ Trọng Phụng tả chân sắc sảo, một Nguyễn Công Hoan trào phúng pha chút kịch hề, một Thạch Lam trầm lặng tinh tế... Nam Cao góp vào đó một phong cách riêng, một chất giọng riêng. Văn Nam Cao là phức hợp, là tổng hòa của những cực đối nghịch: bi và hài, trữ tình và triết lý, cụ thể và khái quát. * Về đề tài: Hiện thực trong sáng tác của Nam Cao là một hiện thực cụ thể, đặc thù: Xã hội Việt Nam vào những năm bốn mươi đang xáo trộn, quằn quại trong chặng cuối của quá trình bần cùng hóa. Những cơn đói triền miên, những làng xóm tiêu điều xơ xác đến thảm hại, những số phận tàn lụi, sự tan tác rời rã của những mối quan hệ người, sự tuyệt vọng đổ vỡ của những cá nhân, sự tha hóa nhân cách... Văn học hiện thực giai đoạn trước nhìn chung chưa phải đối mặt với hiện thực này. Với tâm niệm "cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy những vang động ở đời", Nam Cao đã chọn cho mình một chỗ đứng mới, khác với các nhà văn hiện thực đàn anh. Từ cái nhìn quan sát, phân tích bên ngoài quen thuộc của văn học hiện thực, nhà văn chuyển sang cái nhìn từ bên trong. Ông không khai thác mối quan hệ giàu nghèo mà chăm chú và kinh hoàng nhận ra cái chết thể xác và tinh thần của con người. Và hiện thực từ bên trong đó trở thành âm điệu chủ đạo của các truyện ngắn Nam Cao. Chủ âm này lan tỏa vào mọi cấp độ, liên kết mọi yếu tố nội dung và hình thức, qui định cả thi pháp, cấu trúc và sự lựa chọn chi tiết trong truyện ngắn Nam Cao. * Thi pháp truyện ngắn Nam Cao được xây dựng trên nỗi ám ảnh về cái tàn lụi, tan rã. Gần như không một kết ... con đường sáng tạo rộng rãi. Từ sau cách mạng tháng Tám – 1945, nhất là từ sau năm 1954, thơ Chế Lan Viên ngày càng phong phú, đa dạng, có những đóng góp xuất sắc vào sự phát triển của nền thơ ca hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tập thơ đầu tiên là Điêu tàn đã bộc lộ những nét riêng của tư duy và cảm xúc Chế Lan Viên, nhưng phải đến Ánh sáng và phù sa (1960) thì phong cách của nhà thơ mới thực sự hình thành rõ nét. Tuy phong cách đó không hoàn toàn cố định, theo từng chặng đường thơ có sự vận động, nhưng vẫn có thể nhận ra một số nét nổi bật. 1. Thơ mang tính lý luận, giàu suy tưởng và triết lý. 2. Thơ thể hiện sự sáng tạo hình ảnh độc đáo. 3.2.1 Thơ Chế Lan Viên – thơ lý luận, giàu suy tưởng và triết lý: * Thơ Chế Lan Viên mang tính lý luận vì một lý do rất riêng: Ông thường bàn về thơ bằng thơ. Tức là dùng thơ vào công việc của lý luận. Ở Việt Nam, kiểu thơ này, Chế Lan Viên là người mở đầu. Nhà thơ đã đề cập nhiều suy nghĩ, quan niệm về các phương diện của công việc sáng tạo và tiếp nhận thơ, của vai trò, sứ mệnh thơ ca trong đời sống... trong những trang sổ tay thơ. + Nói về nguồn cảm hứng sáng tạo thơ ca: Mỗi ngày gặp một người - họ là một mảnh của thiên tài nhân loại Máu và mồ hôi của người đúc nên bao hình ảnh ngữ ngôn Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà đời rơi vãi Hãy nhặt những chữ của đời mà góp nên trang. Chế Lan Viên không nói gì khác ngoài một nguyên lý căn bản: hiện thực đời sống là nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tác; là đối tượng, là chất liệu cho tác phẩm thơ ca. Nhà thơ có đứng vững trên mảnh đất đời sống, lấy đời sống làm điểm tựa mới mong làm ra được cái gì có giá trị: Dù cho là Phật Thì trước khi ngồi lên toà sen hư ảo Câu thơ cũng phải xuất gia đi ra từ bốn cửa ô cuộc đời. Hiện thực ấy là tiếng sóng, màu mây, sắc nắng, bước chân của đoàn quân, tiếng rì rầm của nhà máy, nhịp sống ở công trường, những đổi thay của thời cuộc: Bài thơ mặt bể gọi đi xa Phải hiểu màu mây và sắc nắng Ngàn sao thời cuộc chói trên đầu Vĩ độ mù sương, kinh độ sáng Sao ta chỉ biết có thuyền ta Giương chiếc buồm con như chiếc bóng Hai câu sau của đoạn thơ là cả một sự trải nghiệm. Mỗi con người có thể coi là một vũ trụ thu hẹp. Và người nghệ sĩ, chỉ cần lắng nghe phần sâu kín của con người mình cũng có thể có nhiều chất liệu cho thơ. Nhưng cái phần sâu kín ấy chẳng qua chỉ là cái vốn dự trữ, nhỏ nhoi, dễ vơi cạn. Nói khác đi, cái Tôi tự khép kín, tách biệt với cuộc đời thì chỉ còn là ao tù so với đại dương bao la. (Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp... Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép). Nên sống và lắng nghe đời sống bên ngoài mình thơ ca mới có thêm da thịt, có thêm âm vang, hình sắc: Sợi chỉ lòng anh nghèo có một màu Xe vào cái đa sắc của đời nên chói lọi. + Nói về con đường thơ: Hướng đi nổi bật của Chế Lan Viên trong sáng tác thơ là: Thơ không phải đưa ru mà còn thức tỉnh Không phải chỉ “ơ hời” mà còn đập bàn, quát tháo, lo toan Nó là cả một quá trình nghiền ngẫm, thai nghén, tái tạo chứ không đơn thuần là thứ cảm xúc nhất thời, hời hợt. Bởi nhiều hiện thực của đời sống vốn thô mộc, nếu không có sự sâu sắc trong tâm hồn nghệ sĩ cho nó sự sống bền lâu thì nó sẽ thành vô nghĩa: Anh là người định vực sự sống ba chiều Lên trang thơ hai mặt phẳng Sao trên trời mỗi đêm cần anh thắp lại Sông Ngân Hà chảy nhờ anh mà nó chảy Những ngôi sao trên trời đổi ngôi nhờ anh mà nó đổi ngôi ... Nếu anh ghi lại thì dòng sông kia ở lại Và anh để đời trôi xuôi, thì nước cũng trôi xuôi. Chế Lan Viên cũng đòi hỏi vai trò của trí tuệ trong thơ. Đây là điểm độc đáo. Vì xưa nay, người ta đã nói nhiều về vai trò của cảm xúc trong thơ, và dường nghiêng về phần đó. Chế Lan Viên muốn khám phá sự vật “ở cái bề sâu, ở cái bề xa”. Vì thế nhà thơ luôn vận dụng trí tuệ trong thơ. Nguyễn Văn Long nói: “Trong sự đa dạng của thơ Chế Lan Viên thì sức mạnh và vẻ đẹp nổi bật ở chất trí tuệ”. Trí tuệ ấy hướng tới nắm bắt cái ý nghĩa triết lý hàm ẩn trong mỗi hiện tượng, và bằng liên tưởng phong phú, nhà thơ liên kết chúng lại trong nhiều mối tương quan, từ đấy làm nảy sinh ý nghĩa sâu sắc. Cuộc sống trong thơ Chế Lan Viên, vì thế không phải chỉ như nhà thơ xúc cảm về nó mà còn như nhà thơ suy nghĩ về nó. Và cuộc sống đi vào thơ Chế Lan Viên vì thế cũng ít đi phần cụ thế, chi tiết mà được làm giàu thêm ở sự hư ảo biến hoá, ở tầm khái quát, triết lý. Cố nhiên thơ Chế Lan Viên không chỉ là trí tuệ. Thiếu cảm xúc không thể có thơ. Trong Sổ tay thơ, nhà thơ cũng nói rất rõ: Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa cho mùa thu làm lấy Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá Nó không là anh nhưng nó là mùa + Nói về hình thức của thơ: Chế Lan Viên cho rằng nội dung có trước và quyết định hình thức. Nhưng nội dung không tồn tại bên ngoài hoặc bên trên hình thức mà bằng hình thức và trong hình thức. Một nội dung có thể và cần được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Cái phong phú, đa dạng của hình thức chính là ở chỗ đó: Cuộc đời cần đẻ ra nhiều hình thức Dù là ngọc thì cũng có nhiều viên ngọc Chứ đâu phải xanh xanh vĩnh viễn một màu trời Chăm lo đến hình thức, cân nhắc, tìm tòi, sáng tạo về ngôn ngữ, trả lại cho ngôn từ cái thanh sắc nguyên sơ, làm cho nó phập phồng chất sống là điều Chế Lan Viên coi trọng. Dẫu vậy, nhà thơ cũng lưu ý không lấy kỹ xảo mà bù cái hụt hẫng của tư tưởng, tình cảm, của vốn sống, của cảm hứng: Dù anh không làm xiếc Cũng phải căng thẳng dây tâm hồn anh lên mà đi qua trên vực ngôn từ Căng cái dây hình ảnh ngữ ngôn ngang qua vực tâm hồn sâu thẳm Cho mỗi bước, mỗi bước của anh đều thận trọng Không bao giờ anh ở độ trùng dây Cả dây tâm hồn, dây hình ảnh ngữ ngôn đều phải căng lên như nhau. Cũng có nghĩa cả lao động nghệ thuật và sự vận động của nội tâm đều không thể trùng, không thể lơi... Vì chẳng có gì sẵn cả. Cái điều cần nói, muốn nói có thể đã có, nhưng nói ra thế nào thì tất cả còn ở phía trước. * Do quan niệm riêng hình thành nên một nét phong cách thơ mang đậm tính lý luận như vậy nên dễ nhận thấy thơ Chế Lan Viên đậm màu sắc suy tưởng và giàu tính triết lý. Đây là nét phong cách nổi bật của thơ ông. Như đã nói ở trên, Chế Lan Viên rất chú trọng vai trò của trí tuệ trong thơ, nên thơ ông thường xuất phát từ những cái cụ thể, bình dị của cuộc sống nhưng không nhằm đề diễn tả cái cụ thể, mà khai thác những liên tưởng, tưởng tượng vô cùng phong phú để từ cái cụ thể mà tạo ra biểu tượng. Bài thơ Tiếng hát con tàu có thể đưa ra để làm một ví dụ. Toàn bộ bài thơ được xây dựng trên cơ sở hệ thống hình ảnh lấy từ trong thực tế, rất cụ thể: Con tàu, vầng trăng, cuộc kháng chiến của dân tộc, người du kích, em liên lạc, bà mế già, bản làng, rừng núi, cỏ cây, hoa lá, cánh kiến hoa vàng, chim rừng, chiếc nôi, dòng sữa... Nhưng tất cả đều đã mang tính biểu tượng. Cái này là biểu tượng của một khao khát đi xa, hướng tới những chân trời mới của cuộc đời, của Tổ quốc; cái kia là biểu tượng của ân tình, ân nghĩa; cái khác lại là biểu tượng cho nhận thức sâu sắc về sức mạnh của nhân dân - ngọn nguồn của nghệ thuật chân chính... Để nâng cái cụ thể lên tầm khái quát, triết lý, Chế Lan Viên thường khai thác triệt để mối tương quan đối lập. Nguyễn Văn Long cũng đánh giá: “Tư duy thơ CLV đặc biệt nhạy bén với việc khai thác các tương quan đối lập”. Nhà thơ thường nhìn sự vật trong các mặt đối lập, để làm nổi rõ bản chất và quy luật của chúng, gây được những hứng thú thẩm mỹ bất ngờ cho người đọc. Những mối quan hệ đó là: quá khứ - tương lai, dân tộc – nhân loại, cái bi – cái hùng, yêu thương – căm thù, tĩnh - động, còn - mất, nội dung – hình thức, chủ thể - khách thể... Có thể bắt gặp rất nhiều hình ảnh đối lập ttrong thơ Chế Lan Viên: - Đất nước mênh mông - Đời anh nhỏ hẹp. - Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn. và Người (Bác Hồ): Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ châu Phi Những đất tự do, những trời nô lệ Những con đường cách mạng đang tìm Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa - Xưa phù du nay đã phù sa - Xưa bay đi mà nay không trôi mất - Một cái hôn cân vạn ngày đạn lửa .... Những hình ảnh được đặt trong thế tương phản như thế có hiệu quả rất rõ về mặt nhận thức. Và như thế, nó tạo cho thơ Chế Lan Viên một màu sắc, một giọng điệu khác hẳn với những người khác cũng như làm phong phú thêm cho thơ ca dân tộc. 3.2.2 Thơ Chế Lan Viên – thơ của sự sáng tạo hình ảnh: Điều này không đơn thuần chỉ là thủ pháp mà nằm trong tư duy thơ CLV. Có thể nói, CLV suy nghĩ, cảm nhận mọi vấn đề của cuộc sống bằng hình ảnh. Thế giới nghệ thuật của CLV được tạo nên bởi vô số hình ảnh: hình ảnh thực, hình ảnh tượng trưng, hình ảnh ẩn dụ, hình ảnh đơn lẻ... nhưng nhiều hơn là hình ảnh được liên kết, xâu chuỗi thành từng chùm, từng hệ thống tạo nên những ấn tượng bất ngờ. Ví dụ: Những đảo đá Hạ Long: Những đêm trăng đá suy nghĩ như người Khi xuân đến, đá động lòng thương nhớ Khi hè gọi, đá xôn xao trong dạ đá Hoa phong lan tím hống rủ bướm từng đôi Biển: Xanh biếc màu xanh,bể như hàng ngàn mùa thu qua còn để tâm hồn nằm đọng lại Sóng như hàng nghìn trưa xanh, trời đã tan xanh ra thành bể và thôi không trở lại làm trời Nếu núi là con trai thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương đã biến thành con gái Mỗi đêm hè, da thịt sóng sinh đôi Về Tổ quốc: Trên Tổ quốc vang ngoài bờ cõi Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng Ta mọc dây trước mắt nhìn nhân loại Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng Về tình yêu: - Cái rét đầu mùa anh rét xa em Đêm dài lạnh, chăn chia làm 2 nửa. Một đắp cho em ở vùng sóng bể Một đắp cho mình ở phía ko em - Anh cách xa em như đất liền xa cách bể Nửa đêm nằm lắng sóng phương em Em thân thuộc sao thành xa lạ thế Sóng gặp em rồi sóng laị đẩy xa thêm Anh ko ngủ phải vì em đang thức Một trời sao rực cháy giữa đôi ta ? Em nhắm mắt cho lòng anh lặng gió Cho sao trời yên rụng một đêm hoa - Anh nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc ..... Tư tưởng và cảm xúc của nhà thơ nhập vào hình ảnh và ngôn ngữ, như linh hồn và thể xác, như ánh sáng và sức nóng của một ngọn lửa. Không phải mọi lúc, nhưng không hiếm trường hợp Chế Lan Viên đã đạt được sự hài hoà máu thịt và bền vững ấy trong thơ. ------------------------------------------------------------------------------------- LUYỆN ĐỀ VỀ PHONG CÁCH SÁNG TÁC *** ĐỀ BÀI: Trong bài Ngoại cảnh trong văn chương – 1935, ông Hoài Thanh viết: “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này, nhưng thế giới này trong con mắt nhà văn phải có hình sắc riêng”. GỢI Ý:

Quá Trình Liền Vết Thương – Viện Y Học Bản Địa Việt Nam

Quá trình tổng hợp chất collagen do nguyên bào sợi được tiến hành từ ngày thứ hai sau khi bị thương, đạt cao điểm ở ngày thứ năm, thứ bảy sau khi bị thương. Quá trình mô hoá ở lớp biểu bì hoặc ở lớp niêm mạc hoàn thành trong 6 đến 8 ngày, như vậy vết thương liền ngay ở kỳ đầu. Mức độ liền chắc của 2 mép và vết thương cũng đạt kết quả cao ở ngày thứ 5, thứ 7.

Khi vết thương tổn thương nhiều tổ chức, hai bờ miệng vết thương cách xa nhau, bị nhiễm khuẩn thì quá trình liền vết thương sẽ diễn biến dài hơn, nếu thể tích thương tổn lớn thì cơ thể phải huy động các nguồn dự trữ đến để bảo vệ và tái tạo vết thương. Quá trình này trải qua 3 giai đoạn sinh học.

3.1. Giai đoạn viêm (Giai đoạn tự tiêu, giai đoạn dị hoá, giai đoạn tiềm):

– mô tả: “đỏ, nóng, xưng, đau”. Về sinh bệnh học thể hiện bằng: rối loạn cục bộ tuần hoàn máu do các kích thích gây ra từ vết thương. Vài giờ sau khi bị thương có sự thâm nhập các bạch cầu đa nhân, các đại thực bào (bạch cầu đơn nhân và các tế bào thuộc hệ thống lưới nội mô).

– Chúng tiết ra các men phân hủy các tế bào bị thương tổn thành các phân tử lớn rồi tiêu hoá chúng. Các đại thực bào bài tiết chất lactat và các yếu tố điều chỉnh sự tăng sinh và khả năng tổng hợp của các nguyên bào sợi, các nguyên bào sợi di chuyển tới từ 1 đến 3 ngày sau khi bị thương, sự phân chia nguyên bào sợi từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 6 sau khi bị thương.

– Trong giai đoạn viêm này các tế bào bị thương tổn tiết ra những chất sinh học: leukotoxin (làm tăng tính thấm thành mạch, làm bạch cầu chuyển động qua thành mạch), necrosin (men tiêu các mô hoại tử), các yếu tố kích đông bạch cầu… Các tế bào chuyên biệt còn tiết ra fibronectin có ảnh hưởng đến cơ chế kháng tại chỗ của vết thương đối với các tế bào bị tiêu hủy và các chất ngoại lai. Có sự tăng nồng độ histamin do các tế bào bón và các tế bào ái kiềm tiết ra. Trong giai đoạn này, môi trường vết thương toan hoá, pH: 5,4 – 7. Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 4 xuất hiện hiện tượng tân tạo mạch máu.

3.2. Giai đoạn tăng sinh (Giai đoạn đồng hoá, giai đoạn collagen):

3.2.1. Về mặt sinh học:

Các mầm mao mạch được mọc lên thành các quai mao mạch có nội mạc tương đối dày, phát triển mọc thẳng lên và song song với nhau từ các tế bào liên kết trẻ, đa số là nguyên mô bào và mô bào (histioblast, histiocyt) rồi đến các bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, các tương bào, các nguyên bào sợi. Giữa các tế bào liên kết và các quai mao mạch có các sợi keo và các chất căn bản (dịch quánh gồm nước 80 – 90%, chất đạm 7 – 15%, chất mucopolysaccarit 3%).

Gồm các tế bào liên kết non mới được phân chia, các tơ, sợi liên kết và chất cơ bản (có chứa nhiều glucoaminoglycan).

– Các thành phần của mô liên kết đều có nhiệm vụ sinh học trong việc tái tạo tổ chức, tỷ lệ tăng sinh các đại thực bào và nguyên bào sợi là sự phản ánh của sức đề kháng và khả năng tái tạo thuận lợi của vết thương. Việc ngừng tăng sinh của nguyên bào sợi là do mật độ của chúng ở trong vết thương quyết định; mật độ của chúng cao nhất ở tuần lễ thứ tư.

+ Lớp nông: xếp dọc thẳng đứng so với nền vết thương.

+ Lớp sâu: xếp song song với nền vết thương. Khi đã định hướng xong vị trí, các tơ collagen phát triển và hợp với nhau thành các sợi collagen nhờ các mucopolysaccarit của chất căn bản trở thành bền dai và không hoà tan. Tùy theo tính chất mô bị thương tổn mà có một sự chuyên biệt hoá các nguyên bào sợi: nguyên bào sợi cơ (myofibroblast), nguyên bào sụn (chondroblast), nguyên bào xương (osteoblast), sự sắp xếp các tơ và sợi collagen cũng phụ thuộc vào tính chất mô. Sự tổng hợp chất collagen của nguyên bào sợi đòi hỏi các điều kiện sau: môi trường hơi axit và có chất khử và có phân áp oxy 10 – 20 torre. Sự tổng hợp các chất glycoaminoglycan được tiến hành tại vết thương cùng với sự tổng hợp chất collagen từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 16 sau khi bị thương.

– Mô hạt là hàng rào đề kháng; các tế bào liên kết giữ vai trò đội quân diệt các vi khuẩn.

– Hiện tượng biểu mô hoá từ các tế bào biểu mô của lớp biểu bì tăng sinh sẽ lan phủ, che kín diện mô hạt và vết thương thành sẹo. Nếu mô hạt không được che phủ bởi lớp biểu mô thì việc tiến triển liền sẹo của vết thương sẽ không thuận lợi, kéo dài, mô hạt sẽ già, trở thành một khối xơ chắc (fibrocyte), các quai mạch máu giảm dần, các sợi collagen xơ hoá.

Là quá trình tái tạo tổ chức sẹo mới hình thành trong đó có sự tái lập và sự giảm bớt mô tạo keo, sự tạo lại mô xơ thành lớp đệm mỡ.

– Chất collagen được tái xây dựng bằng các quá trình phân nhỏ ở mức độ cao nhất vào thời gian 40 – 60 ngày sau khi bị thương được sắp xếp một cách có thứ tự, định hướng và kết hợp chặt chẽ với chất glycoaminoglycan để thành các bó mô tạo keo và sẽ giảm dần trong tổ chức sẹo.

– Dần dần các quai mao mạch trong sẹo giảm về số lượng, có sự tạo lại mô xơ với sự xuất hiện tổ chức mỡ trong sẹo, các nguyên bào sợi còn rất ít, các bó xơ trở nên dẹt và mỏng. Thời kỳ này tương ứng với trạng thái sẹo không co nữa khi theo dõi lâm sàng. Lớp đệm mỡ được hình thành; tính đàn hồi được phục hồi, sẹo trở thành mềm mại di động được. Quá trình phục hồi cảm giác theo thời gian: từ 3 tháng trở đi có xu hướng phục hồi xúc giác. Trong năm đầu có thể phục hồi 95% cảm giác đau. Cuối năm thứ hai phục hồi cảm giác nhiệt. Sau 6 tháng đến 1 năm sẹo sẽ tiến triển theo hướng ổn định hoặc hướng bệnh lý.

– Sẹo ổn định: các bó sợi collagen được phân bố có trật tự sắp xếp theo các hướng dọc, nghiêng nhất định có sự phát triển của các tế bào mỡ xen kẽ giữa các bó sợi, làm cho tính di động và tính bền cơ học của sẹo được hình thành.

– Sẹo lồi: do sự phát triển không ổn định, không bình thường của chất tạo keo và mô xơ. Sẹo lồi phát triển to, dày, chắc, căng máu, tím đỏ, ngứa, có khi đau, không thể tự khỏi, khi phát triển thì có tính chất lan sang các tổ chức da lân cận. Trên cơ thể đã có sẹo lồi thì các nơi có sẹo đều phát triển thành sẹo lồi (bệnh sẹo lồi). Nguyên nhân gây sẹo lồi đến nay vẫn chưa xác định được rõ rệt. Về tiến triển, sẹo lồi không tự khỏi mà có su hướng phát triển, tỷ lệ tái phát cao sau mổ và điều trị (tới trên 40 – 50%).

– Sẹo bị loét lâu liền: do quá trình biểu mô hoá không hoàn chỉnh, từ các đám mô hạt không được phủ kín, hoặc từ các sẹo bỏng đã liền nhưng bị chấn thương phụ, bị căng nứt. Tiến triển của loét kéo dài nhiều năm có thể bị thoái hoá ung thư.

– Sẹo co kéo: do quá trình tăng sinh các nguyên bào sợi cơ, các sợi tạo keo, dẫn tới một quá trình giảm các thớ cơ, hình thành các dải xơ ở dưới sẹo, dưới lớp cân. Quá trình co kéo có thể chỉ do sẹo da đơn thuần hoặc có thể co kéo cả lớp cân, gân, cơ, bao khớp, dây chằng, do các dải xơ dưới sẹo gây nên. Sẹo co kéo không hồi phục lại được.

– Sẹo dính: khi có một diện mô hạt rộng ở các phần của cơ thể tiếp giáp nhau, khi thay băng không để tách nhau ra, mà cứ để thành một khối. Diện mô hạt phát triển thành một khối chung và được biểu mô che phủ khi hình thành sẹo, nên các phần cơ thể này dính vào nhau.

– Xử trí vết thương kỳ đầu: nhằm cầm máu, chống nhiễm khuẩn, giảm đau, dự phòng và điều trị các biến chứng cấp tính do các vết thương gây ra.

– Sơ cứu vết thương: băng bó, cầm máu, cố định, vận chuyển về tuyến điều trị.

– Tùy theo tính chất, vị trí và mức độ tổn thương mà đề ra chiến thuật và kỹ thuật xử trí khác nhau.

– Khi vết thương đã hết giai đoạn viêm nhiễm và đã loại bỏ sạch các tổ chức hoại tử, tùy theo kích thước và tính chất của giai đoạn tái tạo tổ chức mà quyết định khép kín miệng vết thương bằng khâu kín kỳ hai hoặc ghép da các loại.

NGUỒN

ĐẠI HỌC Y KHOA HÀ NỘI

Email : [email protected], [email protected]

Điện thoại : 0973.910.357

Doctor SAMAN

Cách Viết Mẫu Bản Cam Kết, Giấy Cam Kết Chuẩn, Mới Nhất Năm 2023

Khi mà những giao dịch ngày càng trở nên được phổ biến hơn, các trao đổi hàng hóa, thông tin giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, giữa cá nhân này với cá nhân khác đều trở thành một phần của cuộc sống. Chính vì vậy mà mẫu bản cam kết nó cũng là một loại giấy tờ quan trọng, bất cứ ai cũng cần khi giao dịch hay trao đổi. 

Mẫu bản cam kết là gì

1. Bản cam kết là gì?

Cam kết được xem như là một hành động sẽ thực hiện với những lời hứa đã được thống nhất với một bên tham gia nào đó, nếu như trong trường hợp mà bạn không thực hiện được đúng theo như cam kết thì sẽ phải chịu về toàn bộ trách nhiệm trước luật pháp. Trong một số trường hợp cụ thể , người ta  sử dụng giấy cam kết, ví dụ như cam kết thực hiện các hợp đồng, cam kết trả nợ ngân hàng, cam kết thực hiện đóng thuế… 

Thông thường trong nội dung của những mẫu bản cam kết sẽ thường là những phần thuộc vào trách nhiệm của mỗi cá nhân. Và trong các trường hợp không soạn thảo văn bản có mẫu biên bản cam kết thực hiện công việc thì các cá nhân đó cũng sẽ phải bắt buộc thực hiện. Tuy nhiên việc để soạn thảo nên các văn bản có cam kết thường là với những mục đích nhắc nhở về việc nhận thức rõ về trách nhiệm của bản thân cũng như phải chỉ rõ về những hậu quả nếu trong những trường hợp cá nhân không thực hiện được theo như đúng cam kết đã được thống nhất trước đó.

Mẫu bản cam kết sẽ là một biểu mẫu văn bản, nó mang giá trị pháp lý và pháp luật cực rất cao, những nội dung cam kết đó đã được các bên tham gia thống nhất và trực tiếp tiến hành kỹ kết. Ở trong những trường hợp nếu có bất kỳ bên tham gia nào làm vi phạm những điều khoản và quy định có trong các bản cam kết thì họ sẽ phải chịu hoàn toàn các trách nhiệm trước pháp luật. Những biểu mẫu giấy cam kết đó chỉ thực sự có hiệu lực trong các trường hợp có đầy đủ chữ ký của những bên tham gia cam kết cũng như phải có dấu xác thực hay công chứng của những cơ quan pháp luật có thẩm quyền. Các mẫu cam kết ấy là một biểu mẫu văn bản mang tính pháp lý cao, và được sử dụng trong các trường hợp xảy ra tranh chấp và những xung đột giữa các bên tham gia đã thực hiện ký kết các mẫu biên bản cam kết thực hiện công việc . Chính vì thế mà những mẫu bản cam kết sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với cả hai bên tham gia thực hiện ký cam kết.

2. Khi nào cần sử dụng bản cam kết

Các mẫu bản cam kết đang được sử dụng phổ biến hiện nay và bạn cũng có thể bắt gặp các mẫu cam kết ở trong bất cứ lĩnh vực kinh tế hay đời sống nào đó. 

Ngày nay, các mẫu bản cam kết được soạn thảo và đang sử dụng trong các trường hợp cụ thể sau đây:

Đối với những doanh nghiệp có ủy quyền hay cử người lao động đi sang bên nước ngoài để tu nghiệp hay học tập nhằm nâng cao các kiến thức về bản thân, có yêu cầu những người lao động đó cần phải làm mẫu bản cam kết sau để khi hoàn thành khóa học tại nước ngoài họ sẽ phải tiếp tục làm việc cũng như hoạt động tại doanh nghiệp này.

Đối với những trường hợp người lao động được tuyển dụng tại nhiều vị trí công việc ở trong bất cứ doanh nghiệp hoặc công ty nào đó, phải ký cam kết về việc thực hiện đúng theo các quy định, nội quy của phía công ty và doanh nghiệp đặt ra.

Đối với những doanh nghiệp có tuyển dụng người lao động vào để họ tiến hành đào tạo và dạy nghề, cũng có yêu cầu người lao động phải kí mẫu biên bản cam kết thực hiện công việc về việc sau khi đã hoàn thành các khóa học đào tạo nghề để sẽ làm việc ngay tại doanh nghiệp đó.

Đối với những trường hợp người thi tuyển và xét tuyển vào vị trí công việc tại nhiều đơn vị sẽ mẫu bản cam kết làm việc và trực tiếp phục vụ tại đơn vị đó một thời gian lâu dài, trong những trường hợp vi phạm cam kết sẽ phải tự động làm đơn xin nghỉ việc.

Bố cục mẫu bản cam kết thông dụng

1. Thông tin của người làm giấy cam kết

Người đọc mẫu bản cam kết sẽ không thể biết được người làm mẫu bản cam kết này đó là ai trong trường hợp các thông tin trên khi không được kê khai một cách đầy đủ và chính xác nhất. Trong trường hợp này, mẫu bản cam kết cũng sẽ không được chấp nhận, vì vậy mà cần phải quan tâm đến các thông tin của người làm mẫu bản cam kết để không xảy ra những tình huống sai sót không mong muốn.

2. Nội dung của giấy cam kết

Nội dung của các mẫu bản cam kếtrất đa dạng ở mỗi lĩnh vực khác nhau. Chính vì vậy mà người soạn thảo giấy cam kết phải linh hoạt dựa vào những nội dung cụ thể cần có để viết mẫu bản cam kết sao cho phù hợp và nó đúng chuẩn nhất. Các nội dung ở trong mẫu bản cam kết đều cần được trình bày rõ ràng và đánh theo số thứ tự từ một, hai, ba… để giúp cho việc đọc trở nên thật dễ dàng và nhanh chóng hơn. Bên cạnh đó thì các nội dung trong mẫu bản cam kết đều cần phải được trình bày một cách gọn gàng, ngắn gọn, xúc tích và phải mang tính chính xác cao. Ví dụ như ở trong mẫu bản cam kết đã được thực hiện nội quy lao động thì những người viết giấy cần phải ghi đầy đủ lại cam kết của mình như: sẽ hoàn thành xuất sắc các công việc mà được cấp trên giao phó, chấp hành theo mọi quy định làm việc của các công ty đó, có thời gian để làm việc ở tại đơn vị ít nhất là 1 năm.

Đối với những người viết mẫu bản cam kết thì họ cần phải nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản đã ghi rõ trong giấy cam kết. 

Ví dụ như mẫu bản cam kết về tiến độ xây dựng, yêu cầu phía nhà thầu sẽ cần phải thực hiện đúng tiến các độ thi công công trình đúng thời hạn đã được đề ra nhưng vẫn cần phải đảm bảo cả về mặt chất lượng. Trong những trường hợp không thực hiện đúng theo như mẫu bản cam kết thì đơn vị đó sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. Việc đưa ra các điều khoản này trong bản cam kết sẽ giúp cho phía nhà thầu thực hiện công việc có trách nhiệm hơn. Mục đích khi sử dụng những mẫu bản cam kết là nhằm để tạo ra niềm tin giữa những bên cùng tham gia làm việc và bên ký cam kết cũng sẽ phải có trách nhiệm cao hơn đối với các công việc đã hứa, cam kết để thực hiện đúng và đủ các điều khoản đã ký kết.

Bên cạnh đó, bên đưa ra những cam kết sẽ cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều, cũng như sẽ có sự tin tưởng hơn khi mà cả hai bên đều có sự thống nhất và cam kết với nhau.

Hướng dẫn viết mẫu bản cam kết chịu trách nhiệm chuẩn chỉnh

Cách viết những mẫu bản cam kết chịu trách nhiệm đúng chuẩn và chính xác nhất:

Bước 1: đầu tiên là bạn cần phải đọc giấy cam kết và xem xem có phần nội dung nào trong giấy cam kết đã hợp lệ hay chưa và có sai sót gì hay không.

Bước 2: ghi đầy đủ những thông tin cá nhân và những thông tin khác một cách chính xác và rõ ràng như: họ tên, mã số thuế, chứng minh thư, số điện thoại, đơn vị công tác…

Bước 3: ghi rõ những nội dung cam kết của hai bên cũng như trường hợp mà vi phạm sẽ giải quyết như thế nào.

Bước 4: kiểm tra lại những phần nội dung và thông tin vừa mới điền vào giấy cam kết. Thống nhất về các điều khoản giữa hai bên và tiến hành ký xác nhận với cả hai bên tham gia cam kết.

Bước 5: đến những cơ quan chức năng có thẩm quyền để được xác thực và làm công chứng. Giấy cam kết đó chỉ thực sự có hiệu lực khi được công chứng bởi các cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Khi viết các mẫu bản cam kết chịu trách nhiệm cần thực hiện các công việc và các điều khoản đã thống nhất được giữa cả hai bên ,bạn cần phải lưu ý đến một số vấn đề sau đây:

Những nội dung có ghi trong mẫu bản cam kết đó cần được trình bày một cách khoa học nhất, ngắn gọn nhất, xúc tích và mang lại tính chính xác. Bên cạnh đó, không được tẩy xóa và có viết sai lỗi chính tả trong các văn bản cam kết.

Người viết mẫu bản cam kết chịu trách nhiệm cũng cần thể hiện rõ được những quan điểm của riêng mình. Ví dụ như cam kết về các vấn đề thời gian khi làm việc, thì người viết mẫu bản cam kết  đó cần phải ghi rõ những số năm cần phải công tác tại đơn vị, ở doanh nghiệp hay công ty. Thời gian làm công việc này còn tùy thuộc vào quy định hay cũng như về cơ chế hoạt động của từng một doanh nghiệp khác nhau.

Trong các mẫu bản cam kết chịu trách nhiệm này cần phải ghi rõ việc nếu như vi phạm bất cứ một trong những điều khoản nào thì sẽ phải chịu n trách nhiệm gì và phải thực hiện theo quy định nào của công ty.

1. Mẫu bản cam kết thông dụng nhất

Mẫu bản cam kết thông dụng nhất

Mẫu bản cam kết thông dụng nhất

2. Mẫu giấy cam kết chấp hành nội quy công ty

Mẫu giấy cam kết chấp hành nội quy công ty

Mẫu giấy cam kết chấp hành nội quy công ty

3. Mẫu cam kết giữa hai hộ gia đình về đảm bảo an toàn xây dựng nhà liền kề

Mẫu cam kết giữa hai hộ gia đình về đảm bảo an toàn xây dựng nhà liền kề

4. Giấy cam kết bảo lãnh nhân sự 

Giấy cam kết bảo lãnh nhân sự 

5. Bản cam kết  thực hiện nội quy học sinh 

Bản cam kết  thực hiện nội quy học sinh 

6. Mẫu bản cam kết chịu trách nhiệm về việc xây dựng, cải tạo nhà ở 

Mẫu bản cam kết chịu trách nhiệm về việc xây dựng, cải tạo nhà ở

7. Mẫu giấy cam kết không có tranh chấp về ranh giới thửa đất

Mẫu giấy cam kết không có tranh chấp về ranh giới thửa đất

8. Bản cam kết xin nghỉ việc 

Bản cam kết xin nghỉ việc

Pascal Là Gì? Tìm Hiểu Cách Viết Chương Trình Bằng Ngôn Ngữ Pascal

Ngay từ khi còn ngồi trên ghế trường THCS thì các bạn học sinh cũng đã được tiếp xúc cùng với ngôn ngữ lập trình Pascal, tuy nhiên không phải ai cũng hiểu rõ về ngôn ngữ lập trình này. 

Ngôn ngữ lập trình Pascal là gì?

Pascal chính là ngôn ngữ lập trình đặc biệt rất thích hợp với kiểu lập trình cấu trúc và cấu trúc dữ liệu, ngôn ngữ lập trình này còn được đặt theo tên của nhà toán học và triết gia, nhà vật lý người Pháp của Blaise Pascal. Pascal được phát triển đúng theo khuôn mẫu của ngôn ngữ lập trình ALGOL 60. Wirth cũng đã phát triển một vài cải tiến cho ngôn ngữ lập trình này như một phần của những đề xuất ALGOL X, tuy nhiên chúng không được chấp nhận do đó ngôn ngữ Pascal để được phát triển riêng biệt và phát hành trong năm 1970.

Ngữ pháp và ngữ nghĩa khá đơn giản và có tính logic.

Cấu trúc của chương trình rõ ràng, giao diện dễ hiểu.

Dễ dàng sửa chữa, cải tiến.

Mọi biến và hằng của kiểu dữ liệu nào cũng chỉ được gán những giá trị của đúng kiểu dữ liệu đó và không được tự do đem gán cho những giá trị của kiểu dữ liệu khác nhau.​

Việc định kiểu một cách chặt chẽ như vậy sẽ khiến cho nhiều người lập trình luôn luôn phải có những biểu thức tương thích với nhau về các kiểu dữ liệu.​

Dữ liệu đang được cấu trúc hóa: từ dữ liệu đơn giản hay có cấu trúc khá đơn giản người lập trình viên có thể xây dựng nhiều dữ liệu có cấu trúc khá phức tạp hơn.​

Mệnh lệnh được cấu trúc hóa : từ những lệnh chuẩn đã có, người lập trình cũng có thể nhóm chúng lại với nhau và đặt giữa hai từ khóa đó là: Begin và End khiến chúng trở thành một ngôn ngữ vô cùng phức tạp hơn gọi là lệnh hợp thành hoặc lệnh ghép.​

Chương trình được cấu trúc hóa: một chương trình có thể chia thành nhiều chương trình con tổ chức theo hình cây khi phân cấp. Mỗi chương trình con nhằm mục đích giải quyết một nhiệm vụ xác định cụ thể và điều này giúp cho người lập trình cũng có thể giải quyết từng phần một và từng khối một để có thể cho nhiều người tham gia lập trình, mỗi người phụ trách một vài khối.​

– Các chữ cái: có 26 chữ hoa (A, B, C, …, Z) và 26 chữ thường ( đó là: a, b, c, …, z).

– Những chữ số thập phân: 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9.

– Các dấu trong toán học thông dụng: +, -, *, /, =, , (  ).

– Dấu gạch nối _ ( sẽ khác với dấu trừ).

– Những ký hiệu đặc biệt đó là: .  ,  ;  !  ?  :  ‘  ”  {  }  [  ]  %  @  &  #  $  ^.

– Từ khóa chung: Program, Begin, End hay Procedure, Function …

– Từ khóa để khai báo: Const, Var, Record, Type, Array, String…

– Từ khóa trong lệnh lựa chọn: If … Then … Else, Case … Of

– Từ khóa của cặp lệnh lặp: For … To … Do, While … Do

– Từ khóa điều khiển: With, Goto, Exit

– Từ khoá toán tử: And, Or, Not, In, Div và Mod

Tên chính là một dãy ký tự được tạo thành từ nhiều chữ cái, chữ số và dấu nối (_) sử dụng để đặt tên cho những đại lượng trong chương trình như là: tên hằng, tên kiểu dữ liệu, tên biến, tên mảng, tên hàm và tên chương trình, …

Ký tự đầu tiên trong tên không được là chữ số.

Chiều dài của tên sẽ tối đa là 127 ký tự.

Tên không được trùng cùng với từ khoá.

Tên hằng chuẩn: FALSE, TRUE và MAXINT, …

Tên kiểu chuẩn: BOOLEAN, CHAR, REAL, BYTE, INTEGER, WORD, …

Tên hàm chuẩn: ABS, ARCTAN, EXP, LN, SQR, SQRT, CHR, COS, SIN,…

Tên thủ tục chuẩn: READ, READLN, WRITE, WRITELN, …

Một chương trình trong Pascal bao gồm những phần khai báo và sau đó là phần thân của chương trình.

Khai báo Program

Khai báo Uses

Khai báo Label

Khai báo Const

Khai báo Type

Khai báo Var

Khai báo những chương trình con (thủ tục hay hàm)

Thân của chương trình

Thân của chương trình còn được bắt đầu bằng từ khóa Begin và được kết thúc bằng từ khoá End, dấu chấm “.”. Giữa Begin và End. là những phát biểu.

Ví dụ:

Thông thường ở trong một chương trình Pascal, những khai báo Uses, Label, const, type, Function, Procedure có thể có hay không tùy theo bài, nếu không sử dụng biến thì cũng không cần phải khai báo Var (như là ví dụ ở bài 1), tuy nhiên hầu hết những chương trình đều sử dụng khai báo Program, var những biến và thân chương trình.

Các trường THCS áp dụng ngôn ngữ lập trình Pascal vào môn tin học

Nếu điều kiện true thì các biểu thức sẽ được thực hiện, còn nếu như điều kiện false thì biểu thức cũng sẽ không được thực hiện.

Câu lệnh if… then…. được sử dụng ở trong trường hợp để so sánh nhiều phép toán hay các phép toán có điều kiện.

Ví dụ: So sánh hai số a và b

Câu lệnh for…do… 

Biến có kiểu số nguyên là integer

Giá trị cuối phải lớn hơn về giá trị đầu và là kiểu số nguyên.

Câu lệnh cũng có thể là câu lệnh đơn (một lệnh) hoặc lệnh ghép (nhiều lệnh)

Trong Pascal thì câu lệnh lặp với số lần chưa biết trước là: while (điều kiện) do (Câu lệnh);

Quan trọng nhất trong khi viết chương trình thông qua ngôn ngữ lập trình Pascal đó là cần phải xác định rõ được phần cốt lõi của thân chương trình để có thể giải quyết thành công yêu cầu đề ra. Sau đó là phần nhập dữ liệu ở trong đầu chương trình và xuất kết quả ở cuối chương trình. Cuối cùng đó là thêm phần khai báo, cần sử dụng những biến nào khai báo trong phần Var, để đặt tên chương trình trong phần khai báo program.

Ví dụ: Để giải phương trình bậc nhất đó là phát biểu If với điều kiện là những trường hợp a bằng hoặc khác 0, b bằng hoặc khác 0. Trong phần lõi thường sẽ không có nhập xuất.

Tóm lại: Khi viết một chương trình thì việc đầu tiên đừng nghĩ tên chương trình là gì, cách sử dụng những biến như nào, khoan nghĩ đến việc phải nhập xuất dữ liệu như thế nào sao cho đẹp mắt, mà cần phải tập trung trước tiên vào việc viết phần lõi của chương trình sao cho nó thể hiện được chính xác qua giải thuật.

Phương Trình Điện Li Cách Viết Và Các Dạng Bài Tập Lớp 11

I. Nguyên tắc khi viết phương trình điện li 1. Chất điện li mạnh

+) Axit: HCl, H2SO4 , HNO3 …

HCl → H+ + Cl-

H2SO4 → 2H+ + SO4

+) Bazo: NaOH, Ca(OH)2 …

NaOH → Na+ + OH-

Ca(OH)2 → Ca2+ + 2OH-

+) Muối: NaCl, CaCl2 , Al2(SO4)3

NaCl → Na+ + Cl-

CaCl2 → Ca2+ + 2Cl-

Al2(SO4)2 → 2Al3+ + 3SO4

2. Chất điện li yếu

Chất điện li yếu là chất mà khi chúng được hòa tan trong nước, sẽ có một số ít phần từ hòa tan phân li ra ion, phần còn lại vẫn tồn tại dưới dạng phần tử trong dung dịch.Các chất điện li yếu thường gặp là: axit yếu, bazo yếu, các muối không tan, muối dễ bị phân hủy,..

II. Phương pháp giải bài tập phương trình điện li Dạng 1: Chất điện li mạnh

Bước 1: Viết phương trình điện li của chất điện li mạnh

Bước 2: Xác định nồng độ mol của ion

Tính số mol của chất điện li có trong dung dịch

Viết phương trình điện li chính xác, biểu diễn số mol lên các phương trình điện li đã biết

Tính nồng độ mol của ion

Dạng 2: Định luật bảo toàn điện tích

Bước 1: Phát biểu định luật

Trong một dung dịch chứa hoàn toàn các chất điện li, thì tổng số mol của điện tích âm luôn bằng tổng số mol của điện tích dương. (Luôn luôn bằng nhau)

Công thức chung :

Cách tính mol điện tích :

Khối lượng chất tan trong dung dịch

Dạng 3: Bài toán về chất điện li

Bước 1: Viết phương trình điện li

Như chúng ta đã tìm hiểu cách viết phương trình điện li rất chi tiết ở phía trên. Ở đây chúng ta không cần nêu lại nữa mà tiến hành sang bước 2 đó là …

Bước 2: xác định độ điện li

Áp dụng công thức độ điện li:

Sau đó xử dụng phương pháp 3 dòng thật hiệu quả:

Dạng 4: Tính độ PH dựa vào nồng độ H+

Bước 1: Tính độ Ph của Axit

Tính số mol axit điện li axit

Viết phương trình điện li axit

Tính nồng độ mol H+ sau đó suy ra nồng độ mol của PH bằng mối liên hệ giữa hai nồng độ này qua hàm log.

Bước 2: Xác định độ PH của bazo

Ta thực hiện theo các bước sau:

Tính số mol bazo của điện li

Viết phương trình điện li bazo

Tính nồng độ mol OH- rồi suy ra [H]+

Tính độ PH

Dạng 5: Xác định nồng độ mol dựa vào độ pH

Bài toán trải qua hai quá trình tính nồng độ mol của axit và nồng độ mol của bazo. Và lưu ý một số điểm như sau:

pH < 7 : môi trường axit .

Ph = 7 : môi trường trung tính .

Dạng 6: Axit, bazo và sự lưỡng tính theo hai lý thuyết

Đây là một dạng toán khá ít gặp tuy nhiên các em cần nắm vững hai lý thuyết A – rê – ni – ut về sự điện li và thuyết Bron – stêt về thuyết proton. Hai thuyết này có sự định nghĩa hoàn toàn khác nhau về thế nào là chất bazơ và thế nào là chất axit.

III. Bài tập về Phương trình điện li

Bài 1: Trộn 200 ml dung dịch chứa 12 gam MgSO4 với 300 ml dung dịch chứa 34,2 gam Al2(SO4)3 thu được dung dịch X. Nồng độ ion SO42- trong X là

A. 0,2M. B. 0,8M.

C. 0,6M. D. 0,4M.

Hướng dẫn giải chi tiết:

Ta có phương trình điện li:

MgSO4 → Mg2+ + SO42-

0,1 0,1 (mol)

Al2(SO4)3 → 2Al3+ + 3SO42-

0,1 0,3 (mol)

nSO42- = 0,4 mol ⇒ CM(SO42-) = n : V = 0,4/(0,2 + 0,3) = 0,8M

Đáp án B

Bài 2: Nồng độ mol/l của ion H+ trong dung dịch H2SO4 là 60% (D = 1,503 g/ml) là:

A. 12,4 M B. 14,4 M

C. 16,4 M D. 18,4 M

Hướng dẫn giải chi tiết:

Xét 100 gam dung dịch H2SO4 là 60%

mH2SO4 = m dd . C% = 100 . 0,6 = 60 gam

V = m dd : D = 100/1,503 = 66,5 ml

⇒ CM H2SO4 = 0,61/0,0665 = 9,2 M

Ta có: H2SO4 → 2H+ + SO42-

⇒ [H+] = 2 . CM H2SO4 = 18,4 M

Bài 3: Tính nồng độ mol của các ion CH3COOH, CH3COO–, H+ tại cân bằng trong dung dịch CH3COOH 0,1M có α= 1,32%.

Hướng dẫn giải chi tiết:

CH3COOH ↔ H+ + CH3COO- (1)

Ban đầu: Co 0 0

Phản ứng: Co. α Co . α Co . α

Cân bằng: Co.(1- α) Co . α Co . α

Vậy: [H+]= [CH3COO–] = a. Co = 0,1. 1,32.10-2M = 1,32.10-3M

[CH3COOH] = 0,1M – 0,00132M = 0,09868M

Bài 4: Tính độ điện li của axit HCOOH 0,007M trong dung dịch có [H+]=0,001M

Hướng dẫn giải chi tiết

HCOOH + H2O ↔ HCOO- + H3O+

Ban đầu: 0,007 0

Phản ứng: 0,007. α 0,007. α

Cân bằng: 0,007(1- α) 0,007. α

Theo phương trình ta có: [H+] = 0,007. α = 0,001

Bài 5: Dãy nào sau đây chỉ chứa các chất điện li mạnh:

A. NaNO3, HClO3, NaHSO4, Na2S, NH4Cl.

B. NaNO3, Ba(HCO3)2, HF, AgCl, NH4Cl.

C. NaNO3, HClO3, H2S, Mg3(PO4)2, NH4Cl.

D. NaNO3, HClO3, Na2S, NH4Cl, NH3.

Hướng dẫn giải chi tiết:

Khám Phá Thêm:

 

Mẫu đơn xin xác nhận dân sự mới nhất Giấy xác nhận dân sự

B sai do HF là chất điện li yếu

C loại do H2S là chất điện li yếu

D loại do NH3 là chất điện li yếu

Đáp án A

Bài 6: Chất nào sau đây không dẫn điện được ?

A. KCl rắn, khan.

B. CaCl2 nóng chảy.

C. NaOH nóng chảy.

D. HBr hòa tan trong nước.

Hướng dẫn giải chi tiết:

KCl rắn, khan không điện li ra ion nên không có khả năng dẫn điện.

Đáp án A

Bài 7: Câu nào sau đây đúng khi nói về sự điện li ?

A. Sự điện li là sự hòa tan một chất vào nước thành dung dịch.

B. Sự điện li là sự phân li một chất dưới tác dụng của dòng điện.

C. Sự điện li là sự phân li một chất thành ion dương và ion âm khi chất đó tan trong nước hay ở trạng thái nóng chảy.

D. Sự điện li thực chất là quá trình oxi hóa khử.

Hướng dẫn giải chi tiết:

Theo định nghĩa về sự điện li thì:

Sự điện li là sự phân li một chất thành ion dương và ion âm khi chất đó tan trong nước hay ở trạng thái nóng chảy.

Đáp án C.

Bài 8: Cho các chất : H2O, HCl, NaOH, NaCl, CuSO4, HCOOH. Các chất điện li yếu là :

A. H2O, HCOOH, CuSO4

B. HCOOH, CuSO4.

C. H2O, HCOOH.

D. H2O, NaCl, HCOOH, CuSO4.

Hướng dẫn giải chi tiết:

Trong dãy trên có chứa các chất điện li yếu là: H2O, HCOOH.

Đáp án C.

Bài 9: Các dung dịch sau đây có cùng nồng độ 0,10 mol/l, dung dịch nào dẫn điện kém nhất ?

A. HCl. B. HF.

C. HI. D. HBr.

Hướng dẫn giải chi tiết:

Đáp án B.

Cập nhật thông tin chi tiết về Cách Viết Bản Kiểm Điểm Quá Trình Công Tác trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!