Xu Hướng 3/2024 # Cảm Nhận Của Nhiều Người Về Đà Nẵng Tựa Như Singapo Thu Nhỏ # Top 12 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cảm Nhận Của Nhiều Người Về Đà Nẵng Tựa Như Singapo Thu Nhỏ được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

MỤC LỤC

CẢM XÚC BAN ĐẦU KHI ĐẾN VỚI ĐÀ NẴNG Danh tiếng của Đà Nẵng hư hay thực?

Nhớ lại năm 2007 lần đầu tiên tôi đặt chân đến nơi đây, cũng là năm đầu tiên tôi học cách đi xa nhà để đến với thành phố luôn được mệnh danh là ” Thành Phố Đáng Sống Nhất VIỆT NAM ”

Bức tượng cá chép hóa rồng luôn thu hút được sự quan tâm của du khách

Mặc dù quê tôi Ninh Bình cũng có rất nhiều những địa danh thắng cảnh nổi tiếng và theo tôi mỗi người đều có cảm nhận riêng về vẻ đẹp của mỗi vùng miền. Nhưng với cá nhân tôi phải công nhận Đà Nẵng đẹp. Con người hiền hoà thân thiện, không khí trong lành,.. nó khiến một người khó tính như tôi cũng phải mở lòng và thốt lên Đà Nẵng – Thành phố mãi trong tôi.

Cảm nhận khi tiếp xúc với con người Đà Nẵng

Lần đầu đặt chân đến Đà Nẵng, lúc đó tôi mới chỉ là chàng trai 18 tuổi du lịch một mình không quen biết ai, không thông thạo đường xá tôi rất bỡ ngỡ không biết con người ở đây như thế nào. Nhưng khi bước xuống Ga tàu gặp được bác xe ôm rất vui tính và nhiệt tình, bác giúp tôi đi kiếm những khách sạn, nhà nghỉ với mức chi phí bình dân nhất và giúp xách hành lý lên tận phòng. Những ngày tôi ở Đà Nẵng, tôi thấy yêu mến rất nhiều con người cảnh vật và khí hậu nơi đây.

Con người Đà Nẵng quá thân thiện nhiệt tình và vui vẻ. Rất nhiều lần tôi nhầm đường về nhưng có nhiều người chỉ đường mãi tôi không hiểu vì giọng người miền Trung khó nghe. Sợ tôi lạc đường vì trời tối có chú còn dẫn tôi về tận đường mà tôi muốn tìm để về tới hotel mini tôi đang lưu trú.

Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng

Khi tôi chào và cám ơn chú còn dặn kỹ là nên đi những con phố quen thuộc tránh đi những đường khó tìm vì loanh quanh lại đi vào đường ngược chiều bị phạt tiền lại khổ cháu ạ. Tôi đã ngẩn ngơ đứng nhìn một người chỉ gặp lần đầu không biết có gặp lại lần thứ 2 không đợi đến khi chú ấy đi xa khỏi tầm mắt tôi mới đi tiếp. Có lẽ càng ở lâu tôi càng yêu cái thành phố này mất, nói thật tôi đã yêu cái thành phố này mất rồi…

KHÁM PHÁ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Cảnh quan thành phố, những điểm nổi bật của Đà Nẵng

Về phong cảnh và các địa điểm du lịch ở Đà Nẵng thì tôi cũng đã đi một vài nơi như Bà Nà Hills, Cù lao Chàm, phố cổ Hội An, Bán Đảo Sơn Trà… Và ở Đà Nẵng có rất nhiều Cầu nhưng có 4 cây cầu làm nên huyền thoại Đà Nẵng và được mệnh danh ” Tứ Đại Mỹ Cầu ” đó là Cầu Sông Hàn, Cầu Rồng, Cầu Trần Thị Lý, và Cầu Thuận Phước.

Cảnh chùa Linh Ứng Đà Nẵng

Thời tiết Đà Nẵng như thế nào?

Đà Nẵng là thành phố được ưu ái về thời tiết. Ở nơi đây, quanh năm khí hậu mát mẻ, nắng chan hòa, rất dễ chịu. Ở Đà Nẵng rất hiếm khi bắt gặp các tệ nạn xã hội, không đua xe, không ăn xin, không cướp bóc, không bạo hành, không có trẻ em cơ nhỡ, nếu xảy ra chuyện gì chỉ 3 phút là có cơ quan chức năng đến xử lý luôn.

Nắng chan hòa trên bãi Cát Vàng – bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng

Một không khí của thời tiết và cả của xã hội thật tuyệt vời!

Ẩm thực Đà Nẵng

Càng phát triển du lịch, người ta càng khám phá ra, Đà Nẵng là thiên đường ẩm thực. Với vô số những món đặc sản đặc trưng, rất ngon và dễ ăn như : Hải sản, Mỳ Quảng, bánh tráng thịt heo, Hủ tiếu, Bánh kẹp, Bánh xèo, Cao lầu … Đến với Đà Nẵng bạn tha hồ no căng dạ dày, ăn hoài không chán.

Những món ăn vặt ở Đà Nẵng

Đà Nẵng mặc dù tôi không được sinh ra và lớn lên ở đây và cũng sắp phải rời xa nơi này. Tôi chợt lâng lâng và ước gì sẽ có vài lần được trở lại thêm những lần tiếp theo nữa, tôi vẫn giữ liên lạc với những người bạn tôi quen và giờ một trong những người đó chạy xe tự lái để chở những du khách đến những điểm du lịch để hỗ trợ thời gian và tiếp kiệm chi phí.

Hình ảnh : Phố cổ Hội An về ĐÊM

Đăng bởi: Trịnh Yến

Từ khoá: Cảm nhận của nhiều người về Đà Nẵng tựa như Singapo thu nhỏ

4 Bài Cảm Nhận Về Ngày Thương Binh

Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 3)

Ngày 27/7/1947 – 27/7/20XX tròn YY năm kỷ niệm, chúng ta mỗi người dân Việt Nam kính cẩn nghiêng mình để tưởng nhớ linh hồn các bậc tiền bối, anh hùng liệt sỹ, những người con ưu tú của Tổ quốc đã anh dũng ngã xuống, đánh đổi xương máu của mình cho nền độc lập, tự do và sự thống nhất, phồn vinh của Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa ngày hôm nay.

Hằng năm cứ đến ngày này, thế hệ trẻ hôm nay lại có nhiều nghĩa cử cao đẹp để thể hiện tấm lòng thành kính của mình đối với những người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống trong nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt. Họ là những người con của Tổ quốc Việt Nam thân yêu, dám hi sinh cả tuổi thanh xuân của mình cho dân tộc. Sự cống hiến, hi sinh của họ thể hiện rõ lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, của truyền thống bốn nghìn năm lịch sử giữ nước và dựng nước của cha ông ta. Chúng ta có quyền tự hào về những người con ưu tú đó của dân tộc Việt Nam.

Dù rằng chiến tranh đã đi qua, song những di chứng của chiến tranh vẫn còn hiện hữu. Nó để lại cho mỗi người, mỗi gia đình, bạn bè và người thân các thương binh, liệt sỹ. Những người mẹ mất con, những người vợ mất chồng,… để giờ đây những nghĩa trang Trường Sơn, Đường 9,… bạt ngàn những ngôi mộ, biết bao làng không chồng, trại thương binh và rất rất nhiều những hài nhi bé nhỏ dị tật được sinh ra trên đất nước. Đó là bằng chứng của tội ác chiến tranh, là những tiếng bi ai rung động đất trời. Ngoài những mất mát, hi sinh mà các anh đã vinh viễn mất đi ở chiến trường thì vẫn còn đó những di chứng, thương tật mà các anh còn để lại trên cơ thể của mình cũng như để lại cho thế hệ con cháu về sau này. Đó là các nạn nhân của chất độc màu da cam, đó là những đứa trẻ bị di chứng của chiến tranh do bố mẹ tham gia chiến trường…. Những nỗi đau đó vẫn còn hiện hữu, chưa thể nguôi ngoai trong nhiều gia đình, dòng họ. Thấy rõ được điều này, chúng ta càng cảm thông, chia sẻ hơn nữa cho hoàn cảnh của họ, đồng thời càng căm thù hơn đối với kẻ thù đã gieo rắc nên tội ác này.

Ăn quả phải nhớ người trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” là truyền thống đạo lý nhân ái có từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống tốt đẹp này đã và đang được nhân dân ta phát huy từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu nhất.

Trước những mất mát, hi sinh của các thương binh, liệt sỹ cho dân tộc Việt Nam, trong suốt thời gian dài từ trước đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, của các thế hệ đối với liệt sỹ, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng. Sự cống hiến, hy sinh của họ cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân là vô giá, không chỉ cho ngày hôm qua, hôm nay mà còn cho muôn đời con, cháu mai sau.

Bởi vậy, việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công là nghĩa vụ, trách nhiệm và niềm vinh dự của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay. Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn ”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, nhân dịp kỷ niệm ngày thương binh liệt sỹ, chúng ta những người dân Việt Nam một lần nữa xin được kính cẩn nghiêng mình dâng lên các Anh hùng liệt sỹ ngọn nến tri ân, những vòng hoa tươi thắm, thắp nén tâm nhang xin bày tỏ lòng thành kính, thể hiện lòng biết ơn vô hạn đến các anh – những người con bất tử, đã hi sinh cho Tổ quốc. Vinh quang của dân tộc Việt Nam ngày hôm nay không ai khác chính các anh là những người đã tạo nên. Tổ quốc, nhân dân Việt Nam tự hào về các anh – những người anh hùng của dân tộc Việt Nam!

XX mùa thu đi qua là XX mùa tri ân, ngày 27/7 trở thành ngày mà những người còn sống mãi mãi không được quên, không thể quên. Mặt khác, phải thể hiện lòng tri ân một cách thiết thực, hiệu quả thường xuyên, coi việc mình làm cho thân nhân liệt sĩ, thương binh là làm thay những người con ưu tú đã hi sinh vì Tổ quốc, vì mình, vì cả dân tộc Việt Nam. Mỗi một người trẻ hôm nay hãy sống sao cho xứng đáng với sự ra đi của các anh, hãy tự răn mình bằng những việc làm hữu ích cho non sông đất nước.

Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 3)

Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 4)

Có lẽ hiếm nơi nào trên thế giới mà di chứng chiến tranh để lại nhiều như ở Việt Nam. Dù bất cứ nơi đâu, từ phố phường chật hẹp đến làng quê “cò bay thẳng cánh” đều có những nghĩa trang liệt sỹ ken dày mộ chí. Phần lớn trong số những người ngã xuống mới mười tám đôi mươi, lứa tuổi đẹp nhất cuộc đời. Họ bước vào cuộc chiến với tâm thế của những anh hùng, họ biết đặt cái khát khao giành độc lập, tự do lên trên sinh mạng của chính mình. Nhờ thế, đất nước Việt Nam được định hình trên bản đồ thế giới cũng từ tinh thần hy sinh cao cả ấy.

Chính vì vậy việc tri ân đối với những người, những gia đình có công với cách mạng không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân chúng ta, những con người đang được sống trong một đất nước hòa bình nhờ công sức, xương máu cha, anh đổ xuống, mà đó còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Đó là thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta đã có rất nhiều câu nói, bài viết và dành những tình cảm đặc biệt đối với những thương binh, bệnh binh, anh hùng, liệt sĩ một trong những bài nói bài viết có thể kể đến: Trong thư gửi cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh nhân ngày Thương binh tử sĩ 27-7-1952, khi nói về trách nhiệm của nhân dân đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết: “…Nên coi đó là một nghĩa vụ của nhân dân đối với những chiến sĩ bị thương, bị bệnh; không nên coi đó là một việc “làm phúc”.

Quán triệt quan điểm đó của bác, Đảng và Nhà nước ta và rất nhiều tổ chức, cá nhân đã cùng chung tay trong các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đối với những người, những gia đình có công với cách mạng, được thể hiện qua những hoạt động cụ thể, thiết thực như: phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam Anh Hùng, hỗ trợ gia đình thương bình, liệt sỹ, tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang liệt sỹ, công trình tưởng niệm… Những việc làm ấy, nó không chỉ thể hiện tấm lòng biết ơn đối với những người đã dâng hiến trọn tuổi thanh xuân cho đất nước, mà còn đề cao truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam ta.

Hướng về kỷ niệm XX năm ngày thương binh liệt sĩ, mỗi một con người Việt Nam chúng ta chắc hẳn đều bộc lộ cảm xúc của mình khác nhau song tất cả đều cùng một mục đích đó là biết ơn những người con đã cống hiến, chiến đấu để cho chúng ta có được hòa bình độc lập hôm nay. Chúng ta tin tưởng và quyết tâm giữ vững nền tự do độc lập ấy.

Là tuổi trẻ…., chúng ta phải kiên định chủ nghĩa mác lênin, tư tưởng hồ chí minh, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cộng sản mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, luôn tin tưởng và chấp hành nghiêm những đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Quyết tâm cao nhất trong nỗ lực học tập, rèn luyện, lao động, đóng góp trí tuệ, sức lực, tài năng cho sự phát triển nhanh, mạnh mẽ, bền vững của đất nước, xứng đáng với sự hy sinh và kỳ vọng của các anh hùng, liệt sĩ, các thế hệ cha anh đi trước. Năng động, sáng tạo, luôn là lực lượng xung kích đi đầu trong thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị theo tinh thần của “tuổi trẻ sáng tạo”. Có tinh thần hỗ trợ nhau trong công tác cũng như cuộc sống hàng ngày, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Thế hệ trẻ chúng ta hôm nay có quyền tự hào về thế hệ cha anh đi tr­ước. Chúng ta hãy noi g­ương các anh hùng liệt sỹ – những ng­ười đã hiến trọn đời mình cho tổ quốc, bằng những hành động cụ thể hãy cống hiến hết sức mình cho tổ quốc, xây dựng đất n­ước ta “ngày càng to đẹp hơn” sánh vai với các c­ường quốc trên thế giới như­ lời chủ tịch hồ chí minh đã căn dặn.

Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 1)

Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 4)Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 4)

“ Tôi lớn lên, khi đất nước không còn chia Bắc Nam, Chẳng biết chiến tranh là gì, chỉ còn lại trong những câu chuyện của cha…”

Đó chỉ là một câu hát vu vơ mà tôi vẫn thường hay nghe, song có lẽ nó là đại diện cho cả một thế hệ trẻ. Tại sao ư? Vì chúng ta đâu được chứng kiến sự tàn nhẫn của chiến tranh, sự khó khăn của những người lính bất đắc dĩ phải cầm súng và cả sự khổ cực của hậu phương,… Chúng tôi cũng đâu cảm nhận được chiến tranh, chẳng thấy được cái gọi là xót thương đối với những bà mẹ mất con, những đứa con mất cha và tất nhiên cũng không thể thấy được niềm vinh quang, hãnh diện khi cả đất nước hân hoan giải phóng, thống nhất bởi lúc đó chúng tôi đâu đã được ra đời!

XX năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều thế hệ cha anh đã không tiếc máu xương của mình để giành lấy độc lập tự do cho Tổ quốc. Để hôm nay của chúng ta được sống trong hòa bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà.

Chúng ta nhớ về những ngày tháng đất nước còn trong khói lửa chiến tranh, trên đất nước luôn chỉ muốn hòa bình. Để giữ lấy nền độc lập thiêng liêng ấy của Tổ quốc, hàng triệu thanh niên Việt Nam với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, ra đi với tình yêu cho quê hương đất nước vô cùng mãnh liệt, thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Những người con anh dũng của Tổ quốc, có người còn sống nhưng cũng có người đã nằm lại với đất mẹ thân yêu. Thế nhưng những chiến công và tên tuổi của các anh đã trở thành bất tử, khắc ghi vào lịch sử dân tộc và mãi mãi được thế hệ những người Việt Nam tưởng nhớ.

Cùng đồng bào cả nước, Ban lãnh đạo XX luôn ghi nhận và tri ân tới những anh hùng, liệt sỹ đã ngã xuống vì Tổ quốc nói chung và cha mẹ đẻ của cán bộ công nhân viên trong Tập đoàn là thương binh, liệt sỹ nói riêng bằng cách gửi những món quà ý nghĩa bằng tinh thần và vật chất để động viên tới những thương binh, liệt sỹ và gia đình của họ.

Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 1)Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 1)

Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 2)

Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 1)Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 1)

Kính thưa:….

Được sự cho phép của ban tổ chức lễ kỷ niệm ngày 27/7 ngày thương binh liệt sỹ huyện, tôi tất vinh dự và xúc động được nhân danh cá nhân và xin phép được thay mặt cho các đối tượng thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sỹ và người có công tiêu biểu huyện nhà có những cảm nghĩ xin được chia sẻ tâm sự với các đồng chí lãnh đạo huyện, các vị đại biểu và tất cả các đại biểu tại buổi lễ hôm nay.

Chúng tôi là những người hôm nay rất may mắn được dự ngày lễ tri ân đầy ý nghĩa này mặc dù trong chúng tôi nhiều người còn đó những thương tích, bệnh tật, những mất mát hy sinh, những người thân do chiến tranh để lại, cảm nhận được sự quan tâm, tri ân của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với chúng tôi với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc mà Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Đời đời biết ơn các anh hùng liệt sỹ đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc”, các thương binh, bệnh binh đã cống hiến máu xương, sức lực cho dân tộc.

Thấm nhuần đạo lý và lời dạy ấy những năm qua suốt 70 năm Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã giành hết tinh thần, vật chất, tình cảm cho việc chăm sóc, hỗ trợ và quan tâm mọi mặt, mọi lúc, mọi nơi đối với các đối tượng chính sách và người có công ngay cả khi đất nước còn chiến tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước và ngày nay mặc dù chưa đền đáp trọn vẹn, đầy đủ cho sự hy sinh anh dũng đó nhưng cũng đã phần lớn làm ấm lòng, vơi bớt đi sự mất mát, đau thương, sưởi ấm lòng tin của Đảng ta.Đảng, Nhà nước và nhân dân nhớ ơn và đền đáp bao nhiêu đối với thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sỹ người có công thì chúng tôi càng thấm thía, biết ơn Đảng và nhân dân ta đã dành nhiều ưu ái, nhiều sự quan tâm đối với chúng tôi, động viên khích lệ chúng tôi vượt qua khó khăn, thắng bệnh tật đau nhức do thương tích và mất người thân để vươn lên trong cuộc sống với tinh thần “Thương binh tàn mà không phế” mà Bác Hồ lúc sinh thời đã căn dặn.Trên quê hương…ngày nay, tuy cuộc sống của nhân dân còn không ít khó khăn, song dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cát Tiên những năm qua đã đổi mới và tiến bộ hàng ngày, đời sống dần ổn định và đi vào phát triển đi lên bền vững.Lãnh đạo các cấp một mặt tích cực lãnh đạo nhân dân hoàn thành các mục tiêu kinh tế – xã hội, một mặc dành sự quan tâm ưu ái cho nhiệm vụ đền ơn đáp nghĩa. Vì vậy các đối tượng chính sách chúng tôi hiện nay phần lớn đã có mức sống đạt từ trung bình đến trên mức sống trung bình của địa phương.Nhiều đối tượng đã thực sự gương mẫu, đã thực sự vươn lên làm kinh tế – hoạt động xã hội tích cực và tiêu biểu để cống hiến cho xã hội và thiết thực nâng cao đời sống cho bản thân để giảm bớt gánh nặng cho Đảng bộ và nhân dân ta, nhiều lắm những tấm gương ấy nhưng hôm nay chúng tôi chỉ là một trong nhiều những đối tượng như vậy được dự.Với tinh thần và mục tiêu “Xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, đô thi văn minh” giai đoạn 20XX-20YY mà các cấp lãnh đạo đã phát động, các đối tượng chính sách chúng tôi quyết tâm hưởng ứng, thực hiện để biến chủ trương đó thành hiện thực, để có đời sống ấm no, hạnh phúc, văn minh cho nhân dân trong đó có chúng tôi. Chúng tôi quyết tâm “ Tàn mà không phế” để đáp lại lời Bác, lời non sông.Tuy nhiên cũng xin đề nghị lãnh đạo các cấp cần quan tâm, chăm lo hơn nữa đối với các gia đình liệt sỹ, bà mẹ Việt Nam anh hùng và một số đối tượng còn không ít khó khăn trong cuộc sống và nhất là còn một số thực sự là người có công mà chưa được hướng chế độ để tất cả đều hòa chung với sự quan tâm của Đảng và nhân dân ta.

Xin kính chúc lãnh đạo huyện, quý vị đại biểu và hội nghị luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 2)Bài cảm nhận về ngày thương binh liệt sỹ 27/7 (số 2)

Đăng bởi: Phạm Thành Hiệp

Từ khoá: 4 Bài cảm nhận về ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7 hay và ý nghĩa nhất

Văn Mẫu Lớp 12: Cảm Nhận Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà Trong Cảnh Vượt Thác Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà

TOP 14 bài hình tượng người lái đò sông Đà trong cảnh vượt thác

Dàn ý hình tượng người lái đò sông Đà trong cảnh vượt thác

Sơ đồ tư duy hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác

Hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác hay nhất 

Cảm nhận hình tượng người lái đò sông Đà qua 3 trùng vi thạch trận

Cảm nhận về hình tượng người lái đò sông Đà trong cảnh vượt thác

Hình tượng người lái đò sông Đà qua 3 trùng vi thạch trận

Dàn ý hình tượng người lái đò sông Đà trong cảnh vượt thác

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, tùy bút Người lái đò sông Đà.

– Giới thiệu về hình tượng ông lái đò.

II. Thân bài

1. Người lái đò giỏi giang, dũng cảm

– Cuộc chiến giữa con người và thiên nhiên:

Con người nhỏ bé, đơn độc.

Con sông Đà hung tợn, khắc nghiệt với gió, nước, đá.

2. Người lái đò con người tài hoa

– Khả năng điều khiển con thuyền điêu luyện, chính xác nhờ sự am hiểu con sông Đà.

– Thuần thục các kỹ năng cần thiết để vượt qua những con sóng, thác ghềnh.

3. Người lái đò khiêm tốn, bình dị

– Sau “trận chiến” họ ăn uống và không nhắc đến những khó khăn, hiểm nguy đã trải qua.

– Vượt qua khó khăn, thử thách từ con sông Đà như một công việc thường ngày của những con người nơi này.

4. Nghệ thuật

– Ngôn ngữ đa dạng không chỉ miêu tả bằng thị giác mà còn có xúc giác, so sánh…

– Nhịp điệu nhanh, gấp gáp, căng thẳng như một cuộc chiến thật sự.

– Lãng mạn, tài hoa đôi khi cả sự mơ mộng từ chính tác giả.

III. Kết bài

– Khẳng định vẻ đẹp của ông lái đò trong cảnh vượt thác.

Sơ đồ tư duy hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác

Hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác hay nhất

“Cảnh vượt thác” là cảnh tượng người lái đò vượt qua ba trùng vi thạch trận với bao tướng dữ quân tợn. Bằng một quan niệm độc đáo về cái đẹp, đi cùng ngòi bút tài hoa, Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng người lái đò sông Đà – một hình tượng nghệ thuật độc đáo hấp dẫn.

Hình tượng Người lái đò mang vẻ đẹp của người lao động, vừa rắn rỏi, vừa rất điêu luyện với nghề của mình. Ông lái đò được khắc họa đậm nét qua ngoại hình và tính cách. Mặc dù ông tuổi đã ngoài 70, nhưng thân hình ông vẫn rất rắn chắc như người con đích thực của vùng sông nước hùng vĩ: ngực ông đầy những củ nâu – thương tích trên chiến trường Sông Đà mà Nguyễn Tuân ưu ái gọi đó là “huân chương lao động siêu hạng”, tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông khuỳnh khuỳnh; nhỡn giới ông cao vời vợi, giọng ông ồ ồ như tiếng thác trước ghềnh. Tất cả là 1 vẻ đẹp của con người lao động gắn bó lâu năm với vùng sông nước mênh mông.

Không chỉ mang nét đẹp sương gió ở ngoại hình, người lái đò còn nổi bật bởi tính cách và trí thông minh. Đối với ông, sông Đà như một thiên anh hùng ca và ông thuộc lòng sông Đà, thuộc tất cả luồng lạch; nắm được binh pháp của thần sông thần đá. Chính vì vậy trong trận thủy chiến đầy binh hùng tướng mạnh, phần thắng vẫn thuộc về con người trí dũng và tài hoa ấy.

Chỉ với ba trùng vi thạch trận, người lái đò sông Đà như người nghệ sĩ đang biểu diễn bằng tất cả sức lực và tài năng. Trận thủy chiến với con sông Đà là cuộc đấu trí giữa con người và thiên nhiên một cách ngoạn mục.

Ở trùng vi thạch trận đầu tiên, thác đá sông Đà đã chuẩn bị dàn trận địa sẵn, đó là trận địa với bốn cửa tử, một cửa sinh. Ở đây nước phối hợp với đá reo hò làm thanh viện; những hòn đá bệ vệ, oai phong lẫm liệt; một hòn ấy trông như đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. Bằng các từ ngữ: reo hò, bệ vệ, oai phong lẫm liệt, hất hàm hỏi, thách thức… người đọc cảm nhận được không khí trận chiến nóng bỏng gay cấn hồi hộp, đầy kịch tính.

Sự khôn ngoan của thác đá sông Đà khiến người đọc phải trầm trồ: chúng không chỉ đánh trên mặt trận giáp lá cà mà còn đánh bằng cả nghệ thuật tâm lý chiến. Trước đó chúng đã dùng âm thanh của thác khiêu khích “giọng gằn mà chế nhạo”. Còn giờ đây chúng lại nhờ “nước thác làm thanh viện cho đá”. Với bản tính hung hãn như một loài thủy quái, sông Đà cậy thế quân đông tướng mạnh nên đã “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”, “liều mạng vào sát nách mà đá trái”, “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, có lúc chúng “đội cả thuyền lên”. Một loạt động từ được Nguyễn Tuấn huy động để miêu tả cách đánh của sông Đà làm người đọc không khỏi rùng mình trước sự hung bạo của thiên nhiên: ùa vào, bẻ gãy, đá trái, thúc gối, đội,… Bị tấn công bất ngờ nhưng người lái đò vẫn bình tĩnh, điều này càng làm ta thêm thán phục sự dũng cảm và chuyên nghiệp của người lái đò. Với chiến thuật phòng ngự để dưỡng sức cho những trùng vi sắp tới, “ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng”; lúc này sông Đà lại chuyển thế bám lấy thuyền và sử dụng đòn vật “túm lấy thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa mình ra”. Không để cho ông đò có cơ hội xoay xở, sông Đà lại chuyển thể đánh miếng đòn hiểm độc nhất “cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò”. Dính miếng đòn hiểm, mắt ông hoa lên, tưởng như “một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống châm lửa lên đầu sóng”. Đòn đau khiến ông đò “mặt méo bệch đi”. Đó là cái méo bệch vốn do cái lạnh của nước làm nhăn nheo lại thêm miếng đòn đau làm ông khách sông Đà mặt như tím tái, ngây dại. Phép điệp động từ “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm” gợi lên cơn đau dồn dập, hành hạ người lái đò. Nhưng ông đò nén đau, giọng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo, sắc lạnh chỉ huy sáu bơi chèo còn lại vượt cửa tử vào cửa sinh.

Nếu đoạn văn thứ nhất, Nguyễn Tuân tập trung miêu tả thế trận một chiều từ sông Đà thì ở đoạn văn tiếp theo nhà văn tập trung miêu tả thế trận của ông khách sông Đà ở sự thông minh, linh hoạt và tài nghệ vượt thác dũng mãnh, phi thường. Chuyển từ thế trận phòng ngự, ông lái đò chuyển thế chủ động tấn công. Ở trùng vi thạch trận thứ hai này, sông Đà tăng cường một “tập đoàn cửa tử” và cửa sinh bố trí lệch qua bờ hữu ngạn. So với trùng vi một thì trùng vi này khó khăn hơn. Nhưng không vì thế mà ông đò nao núng. Với kinh nghiệm mười năm chiến trường sông nước, người lái đò đã “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá”. Ông đò cũng tự triết lý với mình “cưỡi lên thác sông Đà là cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”, vì thế “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật”. Ở trận này ông đò đánh phủ đầu với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh. Như một vận động viên đua ngựa, ông đò “nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái”, ông “phóng nhanh”, “lái miết”… tốc độ di chuyển mau lẹ. Nhưng sông Đà cũng không phải dạng vừa. Chúng xô ra định níu chiếc thuyền vào tập đoàn cửa tử. Ông đò đã cảnh giác sẵn nên “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo”, “đứa thì đè sấn lên chặt đôi ra để mở đường tiến”. hàng loạt động từ được huy động như một đội quân ngôn ngữ hùng hậu hò reo theo từng nhịp tiến của ông lái đò: nắm, ghì, phóng, lái, tránh, rảo, đè, chặt…Chính nhờ sự mưu trí của mình, ông lái đò đã vượt qua hết các cửa tử. Một trùng vi với bao cửa tử, cửa sinh mà chỉ vài ngón đòn ông lái đò đã đánh sập vòng vây của lũ đá, đồng thời làm cho bọn đá phải thua cuộc với bộ mặt “tiu nghỉu, xanh lè thất vọng”.

Ở trùng vi thứ ba, sông Đà còn một cơ hội cuối để thử thách người lái đò. Trùng vi này ít cửa hơn mà bên trái bên phải đều là luồng chết cả, luồng sống thì lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ. Có thể nói trận chiến này sông Đà đã dùng thế “trên đe dưới búa” làm cho người lái đò phải đối mặt với thế “tiến thoái lưỡng nan” nhưng vào “cái khó lại ló cái khôn” – ông lái đò đã biến chiếc thuyền sáu bơi chèo thành một mũi tên còn ông giống như một cung thủ đã “phóng thẳng thuyền chọc thủng cửa giữa. Thuyền vút qua cửa đá cánh mở, cánh khép, vút vút, cửa ngoài, cửa trong lại cửa trong cùng. Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được. Thế là hết thác”. Một loạt các động từ lại được Nguyễn Tuân huy động để miêu tả cách đánh của ông đò: Phóng, chọc thủng, xuyên qua, xuyên nhanh, lái được, lượn được… sự thần tốc trong cách đánh và cách đánh nhanh thắng nhanh đã giúp người lái đò vượt trùng vi đầy phi thường. Quả là “Đọc Người lái đò sông Đà, ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự do của một tài năng, của một đấng hóa công thực sự trong nghệ thuật ngôn từ” (Phan Huy Đông). Nghệ thuật lái thuyền đến đây khiến người đọc hoàn toàn tâm phục, khẩu phục. Đúng là ông lái đò đã đạt đến mức nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình.

Trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, ông lái đò là một con người phi thường, tài hoa. Một nghệ sĩ có phong thái ung dung, nhàn nhã, khiêm tốn. Ông chính là hình tượng đẹp đẽ của con người lao động Việt Nam. Nguyễn Tuân đích thực là một nghệ sĩ tài hoa bậc thầy trong việc ngợi ca những con người lao động trong gian lao nguy hiểm nhưng đầy vinh quang!

Cảm nhận về hình tượng người lái đò sông Đà trong cảnh vượt thác Bài làm mẫu 1

Sinh thời, Nguyễn Tuân rất ham mê “xê dịch” bởi theo ông, “xê dịch” đã giúp ông thay đổi thực đơn cho giác quan. Vì vậy, những gì gắn với sông, nước, thuyền, bè hoặc đường xá, cầu cống thường có cảm hứng mãnh liệt đối với ông. Nét tài hoa của Nguyễn Tuân là ở chỗ ông coi nghệ thuật đặc biệt có cảm hứng trước những gì thật dữ dội, phi thường, hoặc thật thơ mộng, tình tứ. Và có lẽ vì thế, đoạn văn miêu tả thác nước, “thạch trận” mà ông lái đò phải vượt qua trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” hiện lên dưới ngòi bút Nguyễn Tuân như một bằng chứng thuyết phục về phong cách độc đáo của nhà văn tài hoa này.

Không phải ngẫu nhiên khi miêu tả về “Người lái đò sông Đà” – ông lái đò Lai Châu – Nguyễn Tuân lại tập trung miêu tả một số chi tiết ngoại hình: “Tay ông lêu nghêu như cái xào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng. Giọng ông ồn ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong đợi một cái bến xa nào đó trong sương mù”. Cái nghề nghiệp trên sông nước cũng đã tạo nên ở ông đặc điểm rất riêng từ dáng vẻ đến cái giọng “ăn sóng nói gió” mạnh mẽ, dữ dội, át cả tiếng thác nước sông Đà cùng với “cái đầu quắc thước ấy đặt trên một thân hình cao, to và gọn quánh như chất sừng chất mun”. Vẻ đẹp của người lao động được tôi luyện, thử thách có thể chiến thắng được thiên nhiên hung bạo là một chi tiết tưởng như rất tự nhiên nhưng thực ra nó thể hiện sự quan sát tinh tế như những lời ngợi ca bất tuyệt dành cho ông đò: “Ngực, vú, bả vai người lái đò chống sào vượt thác hay bầm lên một khoanh củ nâu… Cái đồng tiền tụ máu cũng là hình ảnh quý giá của một thứ huân chương lao động siêu hạng tặng cho người lái đò”.

Chở đò là một nghệ thuật cao cường đòi hỏi sự thông minh, khôn khéo và trí dũng, tài ba. Ở đây, ông đò hiện lên dưới ngòi bút Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ trong nghệ thuật leo ghềnh, vượt thác, với “tay lái ra hoa”. Để làm nổi bật tài nghệ ấy ở ông đò, Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một cuộc vượt thác: Ông đò là người cầm lái chỉ huy sáu bơi chèo để chiến thắng được thác nước và đá ngầm mà sông Đà bày thạch trận trên sông như một trận đò bát quái văng ra hết lớp này đến lớp khác. Ông đò đã bình tĩnh, thông minh, khôn khéo, cái bản lĩnh của một viên chiến tướng bởi chỉ cần một phút mất bình tĩnh, lóa mắt, lỡ tay là phải trả giá bằng sinh mạng của cả nhà đò. Tài nghệ của ông được bộc lộ trong cuộc vượt thác phá ba trùng vi thạch trận mà với vốn hiểu biết phong phú, vốn từ ngữ chính xác, sắc sảo về quân sự và võ thuật. Nguyễn Tuân đã thể hiện một cuộc quyết đấu thật sinh động.

Ở vi thạch trận thứ nhất, sông Đà mở ra cửa trận, có bốn cửa tử và một cửa sinh nằm “lập lờ phía tả ngạn”. Sóng nước có cái hung hăng của kẻ bắt đầu xung trận: “sóng nước như thể quân liều mạng. mà đá trái, mà thúc gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên”. Thậm chí nó còn nham hiểm, thủ đoạn “đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất hòng tiêu diệt đối phương ngay tại trận”. Nhưng ông đò cố nén vết thương, mặt “méo bệch đi”. Chỉ cần một từ ghép “méo bệch” mà Nguyễn Tuân đã thể hiện được hai tâm trạng của ông đò. Đó là nỗi đau đớn ghê gớm làm biến dạng khuôn mặt người méo xệch và sóng nước đang tung thẳng vào người làm nhợt nhạt cả sắc mặt người khiến khuôn mặt trắng bệch ra. Dẫu như thế, ông đò vẫn tỉnh táo chỉ huy “sáu bơi chèo” để phá tan cái trùng vi thạch trận thứ nhất.

Ở trùng vi thạch trận thứ hai, sông Đà với bản chất ngoan cố và xảo quyệt đã đổi luôn chiến thuật. Nó “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào và cửa sinh bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn… Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”. Cái “hồng hộc” của kẻ say máu đang quyết đấu một phen nhưng nó lại gặp phải một đối thủ không vừa. Ông đò với bản lĩnh của con người không chịu khuất phục, của một vị tướng quyết đấu đến cùng đã “cưỡi lên thác sông Đà. nắm chặt lấy được cái bờm sóng. đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Trước sự chiến đấu dũng mãnh, phi thường của ông đò thì “cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng”. Hình tượng tảng đá lớn, rêu phủ xanh dưới ngòi bút Nguyễn Tuân lại trở thành một sinh thể có hồn với vẻ mặt xanh lì – mặt cắt không còn hạt máu – với nỗi sợ hãi khủng khiếp vì không ngờ gặp phải đối thủ đáng gờm như thế. Và trùng vi thạch trận thứ hai đã được ông đò phá xong.

Ở trùng vi thạch trận thứ ba, hình ảnh của một con thú giãy chết lại được thể hiện khi con sông Đà: bên phải, bên trái đều là luồng chết còn luồng sống lại ở ngay chính giữa để quyết tiêu diệt đối phương. Thác nước ầm ầm, hơi nước mù mịt nhưng ông đò vẫn nhận ra được chiến thuật của sông Đà, ông đổi ngay cách đánh, cứ phóng thuyền “vút, vút.” như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước. thế là hết thác.

Không biết đến bao giờ tôi mới thôi ngạc nhiên và thích thú trước hình ảnh không hiểu làm sao mà Nguyễn Tuân có thể nghĩ ra về sự “tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng” của thằng đá tướng khi bị cái thuyền đánh trúng cửa sinh, đè sấn lên, chặt đôi sóng ra để mở đường tiến qua ải nước. Nhưng để lại dấu ấn rõ nét hơn cả trong tôi lại là những câu văn về dòng sông khi vừa hết thác: “vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Nhà văn đã mượn cho kí ức con người vẻ đẹp thênh thang của bờ cát bên sông. Và những người lái thuyền trong đêm ấy đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và chỉ toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh. Nhà văn làm cho ta thấy họ còn lớn hơn bậc nữa vì họ hồn nhiên quên đi cái lớn của mình. Hay nói đúng hơn họ không hề cho là lớn lao, cái mà chúng ta thấy rõ ràng rằng vĩ đại.

Người lái đò của Nguyễn Tuân không có phép màu để so sánh với sức lực của Thủy Tinh nhưng ông “đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”. Và cái kinh nghiệm đò giang sông nước, lên thác xuống ghềnh đã khiến ông đò dù trong tay chỉ có cây chèo vẫn có thể phá thành, vượt ải như một chiến trường bách thắng trong sự nghiệp đấu tranh chống lại thiên nhiên khắc nghiệt.

Một cảm hứng hào hùng đã khiến ngòi bút của Nguyễn Tuân miêu tả cuộc vượt thác sông Đà vẫn diễn ra thường nhật thành một trận đánh biến ảo, hấp dẫn, một khúc hát ca ngợi chiến công của một bậc anh hùng, có quá lớn, có đáng ngạc nhiên chăng, nhất là ở một nhà văn vốn có tiếng là kêu bạc? Là một nhà văn vốn cầu kì, tỉ mỉ, tường tận trong quan sát và miêu tả sự vật hiện tượng, con người vậy mà ở đây Nguyễn Tuân chẳng có một dòng nào nói về tên tuổi, gia cảnh của ông đò. Thủ pháp vô danh hóa đã giúp nhà văn khẳng định: ở một đất nước lắm sông nhiều suối, lắm thác nhiều ghềnh thì những người lái đò tài hoa, nghệ sĩ như ông đò trên sông Đà là phổ biến. Ông ca ngợi lao động, ca ngợi c người theo cách riêng của mình làm cho hai tiếng “Con Người” vang lên kiêu hãnh biết bao!

Với “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân không chỉ thể hiện tài hoa ở thể loại tùy bút mà còn thể hiện nét mới trong phong cách nghệ thuật của ông: nhân vật tài hoa, nghệ sĩ không phải là những con người hiếm hoi, cô độc, lạc lõng giữa cuộc đời mà đó chính là nhân vật vô danh. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ có ở nơi chiến trường mà có ở ngay trong những người dân bình thường hằng ngày phải vật lộn với thiên nhiên hung dữ để mưu sinh. Chính họ đã viết nên thiên anh hùng ca của cuộc sống.

Bài làm mẫu 2

Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập sông Đà (1960). Viết tùy bút này, Nguyễn Tuân tự coi mình là người đi tìm cái thứ vàng mười của màu sắc núi sông Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa, được vui và vững bền. Chất vàng mười của con người ấy chính là người lái đò sông Đà. Điều đó được khắc hoạ thật ấn tượng mang cảm giác thật mãnh liệt qua cảnh vượt thác “có một không hai”.

Ông lái đò sinh ra và lớn lên bên bờ sông Đà, ngay ngã ba sông Đà nên con sông là máu thịt của quê hương đã ngấm vào trái tim, khối óc nên ông lái gắn bó, yêu thương và thấu hiểu tường tận, cặn kẽ dòng sông.

Khi Nguyễn Tuân có dịp kiến diện với người lái đò thì cũng là lúc người lái đò đã 70 tuổi, cái tuổi của buổi xế chiều. Ông làm nghề lái đò dọc sông Đà mười năm liền và đã nghỉ đôi chục năm. Ấy thế mà ông có ngoại hình thật đặc biệt «ông có thân hình quắc thước sánh như chất sừng, chất mun trông trẻ tráng quá ». Những nét ngoại hình ấy vì đâu mà có, phải chăng mười năm trong nghề, dấu ấn của công việc đã in đậm trên ngoại hình ông lão: Tay ông lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. Bả vai của ông có vết củ nâu tròn, dấu tích tì sào của nghề lái đò mười năm liền trên sông nước, vượt qua bao ghềnh thác mà Nguyễn Tuân đã ca ngợi là thứ huân chương siêu hạng.

Ông lái đò đã từng ngược xuôi trên ghềnh thác sông Đà nhiều năm trong cuộc đời nên ông nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, và thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước, để rồi từ đó mưu trí, dũng cảm vượt qua và chiến thắng thiên nhiên nghiệt ngã để tồn tại, lao động và sáng tạo. Ông lái đò hiện lên khác nào vị thần Thủy Tinh trong thần thoại VN, nhưng có điều ông không có phép tiên mà chỉ đơn thuần là con người lao động bình dị, đời thường tiêu biểu cho phẩm chất của người lao động mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mới ở miền Bắc.

Chỉ từng trải thôi chưa đủ, đối với con sông Đà, ai chế ngự được nó đòi hỏi phải có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào trong hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không sẽ phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà. Đó chính là cuộc vượt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một.

Vẻ đẹp trí dũng, tài hoa của người lái đò được thể hiện rõ nét nhất trong cuộc đối đầu với đám đá đang bày binh bố trận trên sông. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời. Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quảng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Với những từ ngữ : mai phục, vồ lấy thuyền khiến cho lũ đá nơi ải nước như những kẻ thù nham hiểm và hung ác. Chúng có thể bất thình lình tấn công con người bất cứ khi nào và tai họa sẽ ập đến mà không báo trước. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này. Nguyễn đã miêu tả lũ đá ở đây mỗi hòn mang một vẻ mặt khác nhau: hòn thì ngỗ ngược, hòn méo mó, hòn mặt xanh lè, hòn hất hàm như thách thức… mỗi hòn mỗi dáng vẻ, nhưng nhìn những bộ mặt ấy thì không có chút nào thiện cảm bởi vẻ lạnh lùng, hung ác và giữ tợn.

Người đọc như đang chứng kiến thạch trận đá trên sông Đà như bày ra một trận địa chiến đấu mà mỗi vị trí và nhiệm vụ được cân nhắc và tính toán kỹ lưỡng. Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng hòn chia làm ba hàng chắn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn. Có bọn đá tiền vệ, hậu vệ, đá cũng biết mai phục, biết đánh trận. Tất cả gợi lên sự hung tợn và dữ dội, quyết liệt của con sông Đà hung bạo này. Hàng tiền vệ : Có hai hòn cánh cửa thoạt nhìn tưởng chúng như sơ hở nhưng thực chất đang đóng vai trò dụ cái thuyền tiến sâu vào bên trong. Khi con thuyền đã bị dụ vào trong thì nước sóng luồng mới đánh khuýp quật vu hồi lại. Nhưng con thuyền của ông đò đã dễ dàng vượt qua nên tuyến thứ ba là các boongke chìm và pháo đài đá nổi là phải đánh tan con thuyền. Cùng với thạch trận đá là sự tiếp ứng, phối hợp của cả sóng nước biết tung ra bao đòn đánh hiểm độc : khuýp quật vu hồi, đưa ra những đòn độc : đá trái, thúc gối, đội thuyền, túm thắt lưng, bóp chặt hạ bộ người lái đò…rồi liên tiếp các đòn trùng điệp : đánh đòn tỉa, đòn âm, hồi lùng…

Nguyễn Tuân đã sử dụng hàng loạt những động từ mạnh để diễn tả hết sự hung hăng, dữ tợn và hiểm nguy của con sông Đà. Nhưng càng hung dữ bao nhiêu thì lại càng tôn lên vẻ đẹp của ông lái đò bấy nhiêu vì con sông coi như một hình ảnh làm nền cho người lái đò hiện lên anh dũng, kiên cường, đầy hiên ngang, kiêu hãnh, hào hoa tìm sự sống trên dòng sông chết. Hay chúng ta gọi là nghệ thuật vẽ mây nẩy trăng, lấy bóng mà lộ được hình.

Trong thạch trận ấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Mặt nước thì hò la vang dậy như muốn bẻ gãy cán chèo, vũ khí duy nhất có trên tay ông lái đò. Sóng nước chiến đấu như một kẻ liều mạng, không do dự mà xông thẳng vào người lái đò tiến sát nách mà đá trái, thúc gối vào bụng và hông thuyền. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lái đò vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Đặc biệt trên con thuyền có đến sáu bơi chèo vẫn nghe thấy tiếng chỉ huy ngắn gọn mà tỉnh táo của người cầm lái. “Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”. Trong trận đánh người lái đò đã hiện lên thật gan dạ, dũng cảm và đầy sức dẻo dai và một trí tuệ của người chỉ huy con thuyền sáng suốt.

Không một phút giây nghỉ tay, nghỉ mắt, người lái đò phải tiếp tục “phá luôn vòng vây thứ hai”. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Biết ở vòng vây thứ hai con sông đã bố trí tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại bố trí lệch qua bờ hữu ngạn. Với vòng vây thứ hai không phải chiến đấu với đá, sóng như cửa thứ nhất mà là đương đầu với dòng thác sông Đà. Bằng nghệ thuật liên tưởng độc đáo Nguyễn như thấy ông lái đò không phải chèo thuyền vượt thác mà là cưỡi lên thác nước sông Đà. Hơn nữa bằng nghệ thuật miêu tả đòn bẩy tác giả đã ví thác sông Đà như một con hổ hung bạo đã vào cuộc chiến sinh tử với người lái đò. Nên ông lái đã cưỡi lên thác thì phải cưỡi đến cùng như cưỡi hổ. Nhằm đúng con sóng mà lướt thì cũng như nắm được cái bờm của con hổ để có chỗ bám, chỗ ghì tay. Rồi ông đò ghì cương lái của con thuyền, chắc đôi bàn tay để bám chắc lấy luồng nước mà lái miết một đường vào cửa Sinh. Nhưng con sông thật nham hiểm bởi nó không để chút sơ hở cho con thuyền có lối thoát. Luồng nước chứa cửa sinh cũng là chỗ lũ đá đang mai phục. Không chỉ có thế, một bọn thủy quân đang chờ sẵn chỗ ải nước chỉ chờ con thuyền đến là xô ra để níu con thuyền vào cửa tử. Nhưng ông đò đã nhớ mặt từng đứa một, đứa thì ông tránh để bơi chèo nhanh, đứa thì ông đè sấn lên, chặt đôi ra để lấy đường tiến. Và cứ như vậy con thuyền đã bỏ qua hết những cửa tử, và chỉ nghe bên tai tiếng reo hò của sóng nước luồng sinh. Trong trận chiến thứ hai phẩm chất nổi bật của ông lái đò lại anh hùng, linh hoạt và chủ động đối phó với thác nước sông Đà.

Nếu trong hai trận chiến trên chúng ta có thể đã đủ để ngưỡng mộ người lái đò, nhưng với Nguyễn, tìm đến con người thì con người ấy phải được miêu tả đến tài hoa tột bậc, phải trở thành nghệ sĩ. Và Nguyễn đã phải tiếp tục miêu tả người lái đò trong cuộc chiến thứ ba với con sông Đà. Và cũng đến vòng vây thứ ba với nghệ thuật miêu tả sắc nét vô cùng thì ông lái hiện lên như một tay lái nở hoa, đạt đến mức độ nghệ sĩ trong nghề lái đò của mình. Đến vòng thứ bà, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động “tấn công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Khung cảnh giao tranh dù rất quyết liệt, một mất một còn nhưng Nguyễn đã miêu tả như một cuộc chiến của giới thần tiên. Màn hơi nước mờ trắng hư ảo, con thuyền không bơi trên sóng nước sông Đà mà nó như đang bay trên dòng sông hư ảo ấy. Con thuyền như mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước. Còn người lái đò như một tiên ông với phép lạ, chỉ vẩy tay chèo mà con thuyền vút vút xuyên đi như có một mãnh lực siêu hình. Phải chăng đó là tuyệt tài của một tay lái nở hoa. Thế là kết thúc.

Nổi bật trong trang văn của Nguyễn là nhân vật luôn được nhà văn miêu tả ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ. Nếu trước CMT8 -1945, Nguyễn Tuân chỉ tập trung vào lớp nhà nho quá vãng thì nay sau CM, tác giả đã tìm thấy và khẳng định cái đẹp ở ngay trong cuộc sống hàng ngày của người dân lao động. Cuộc đời của người lái đò vô danh, không tên tuổi, nơi có những ngọn thác hoang vu, khuất nẻo kia là cả một thiên anh hùng ca, một pho nghệ thuật tuyệt vời. Nếu như thiên nhiên sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân là “kẻ thù số một” của con người, thì cũng chính thiên nhiên, qua ngòi bút của nhà văn là nơi đã tôn vinh giá trị con người vào lao động.

Bài làm mẫu 3

Để làm nổi bật phẩm chất của người lái đò, Nguyễn Tuân đã đặt ông đò vào trong môi trường thác đá – nơi mà dòng sông Đà hung bạo nhất để làm nổi bật lên phẩm chất của ông. Một mình ông lái đò chống chọi với muôn vàn tướng đá, lính đá, vượt qua cả một “thạch trận” khổng lồ giữa dòng sông Đà khắc nghiệt với những “boongke chim, pháo đài nổi”, với những cửa sinh cửa từ và những luồng nước chết. Người lái đò và con thuyền của mình giữa “dòng thác hùm beo trở nên thật nhỏ bé, mong manh. Hành trình vượt thác của người lái đò trở thành cuộc hành trình kiếm tìm sự sống từ những con thác dữ. Vậy nên, ông đò, để vượt thác thành công, không chỉ phải có sự am hiểu thiên nhiên, lòng dũng cảm mà còn cả bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ nữa.

Trước hết, ta cảm nhận được ở ông đò là một người am hiểu thiên nhiên, am hiểu về đối tượng mà mình chiến đấu mà ở đây chính là dòng thác đá sông Đà. Sau những lần chiến đấu với đầy thách thức, ông đò đã nắm được quy luật của thác đá. Nếu sông Đà là một thạch trận khổng lồ thì ông đò lại nắm được “binh pháp của thần sông thần đá”. Ông cũng thuộc lòng những “quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”.Thậm chí, người lái đò ấy còn nắm được cả những cửa sinh cửa tử trên dòng thác hung dữ ấy. Ở vòng đầu, nó “mở ra bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông”, vòng thứ hai “cửa sinh bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn”, vòng ba “cửa sinh nằm giữa bọn đá hậu vệ bao vây bởi những luồng nước chết”. Có thể nhận thấy, ông đò có một trí nhớ thật siêu phàm được tôi luyện qua những cuộc đấu sinh tử với dòng thác hung bạo này. Vì vậy, khi đối mặt với lần vượt thác, ông lái đò có thể tự tin mà đối phó linh hoạt với thiên nhiên. Ông “đổi thay chiến lược” hay “ông tránh mà rảo bơi chèo lên”, …tất cả được đúc kết từ những lần vượt thác, được ghi nhớ trong trí nhớ của ông.

Thế nhưng, thác đá sông Đà hung bạo là thế, vượt qua nó, không chỉ cần kiến thức mà hơn cả là phải có lòng can đảm hơn người. Để làm nổi bật lên sự dũng cảm của người lái đò, Nguyễn Tuân đã đặt ông vào trong tình thế ngặt nghèo nhất, đó là khi “sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất” và luồng nước dữ đã “bóp chặt hạ bộ của người lái đò”. Con sóng thác đã làm người lái đò phải đau đớn, “mặt méo bệch đi”. Trong tình thế ấy, người lái đò chỉ cần lơ là là có thể sơ sẩy ngay, thế nhưng với kinh nghiệm của mình, ông đủ hiểu rằng chỉ một phút lơi tay thì sẽ phải trả giá bằng cả tính mạng của mình. Chính vì thế vượt lên trên nỗi đau, ông đồ “cố nén vết thương”, dùng tinh thần chế ngự nỗi đau thể xác mà “kẹp chặt lấy cuống lái” đưa con thuyền vào đúng cửa sinh. Trong tình huống nguy hiểm nhất cũng là lúc ông đò bộc lộ tất cả sự dũng cảm của mình, sự bình tĩnh, kiên trung, tỉnh táo và gan góc. Phẩm chất đó đã làm ông đò trở thành một vị anh hùng trên sông nước.

Và để chiến thắng dòng thác dữ của sông Đà, ông lái đò còn phải có bàn tay khéo léo tài hoa, nơi phô diễn tất cả cái đẹp của nghệ thuật vượt thác. Nguyễn Tuân đã đặt ông vào trong tình cảnh đặc biệt, đó là khi phải đối phó “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”. Dòng sông hung bạo như loài mãnh thú, muốn cuốn phăng tất cả và ông lái đò như một người nghệ sĩ thực thụ mà thuần phục con mãnh thú ấy. Ông “cưỡi lên thác sông Đà”, “phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. Ông nắm lấy cái “bờm sóng” rồi “ghì cương lái, lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy”. Hai chữ “lái miết” cho thấy một đường lái căng, chính xác đến tuyệt vời. Đó là điều làm nên tài hoa trong nghệ thuật vượt thác mà ông đã rèn luyện qua bao lần sinh tử cùng con sông.

Giữa những dòng thác đang gào thét, con thuyền của ông lái đò vẫn lướt đi ‘vút! Vút!…

” vượt qua tất cả “trùng vi thạch trận” trên sông với những đường lái chính xác. Nhìn con thuyền băng băng trên thác đá, người ta có cảm nhận rằng con thuyền ấy dường như tự “lái được lượn được”. Con thuyền đã trở thành một sinh thể sống mà chính ông lái đò là người truyền cho nó sự sống đó. Nó và ông đò đã trở thành một khối thống nhất để ông có thể điều khiển nó như một phần thân thể của mình.

Nguyễn Tuân tiếp cận con người trên phương diện thẩm mỹ, thế nên có thể thấy những người lao động bình dị cũng mang những phẩm chất anh hùng và vẻ tài hoa của một người nghệ sĩ. Là những người anh hùng, những người nghệ sĩ nhưng họ cũng vẫn chỉ là những con người nơi đời thường chất phác và bình dị. Người lái đò sau khi vượt thác trở về với đời thường, “đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam”, nói những câu chuyện phiếm về “cá an vũ, cá xanh”, … Trong những câu chuyện phiếm ấy là gửi gắm bao nhiêu ước mơ, khát vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Cuộc vượt thác với họ cũng chỉ là cuộc sống thường ngày bởi “ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội” và “giành lấy sự sống từ tay những cái thác”. Những suy nghĩ ấy càng làm tôn lên vẻ đẹp của người lao động bình dị và những cống hiến lặng thầm của họ.

Nguyễn Tuân đã xây dựng hình tượng người lái đò sông Đà bằng cảm hứng lãng mạn cũng như với tất cả niềm tự hào, trân trọng, tôn vinh. Nghệ thuật đòn bẩy, thủ pháp tương phản và cường điệu đã giúp Nguyễn Tuân xây dựng hình ảnh ông đò không hề bé nhỏ trước thiên nhiên mà như một người hùng, một người nghệ sĩ tài hoa. Quan niệm độc đáo về cái đẹp đã khiến hình ảnh một ông đò thật khó quên trong lòng bạn đọc.

Bài làm mẫu 4

Vũ Ngọc Phan đã từng viết như thế này về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: “Chỉ người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân không phải là thứ văn để người nông nổi thưởng thức.” Quả thực, ngòi bút tài hoa của người nghệ sĩ ấy luôn hướng đến những gì là tuyệt mỹ nhất của cuộc đời. Tùy bút “Người lái đò sông Đà” – những thước phim đẹp đẽ nhất về thiên nhiên hùng vĩ và con người tài hoa. Đặc biệt, hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác ấy có lẽ chính là bức tranh tuyệt mỹ nhất, một hình tượng đặc sắc nhất mà Nguyễn Tuân đã tạo nên. Chỉ qua đó thôi cũng đủ để người đọc thấy được nét tài hoa trong ngòi bút của người nghệ sĩ “suốt đời đi tìm cái đẹp ấy”.

Trước năm 1945, Nguyễn Tuân thường say mê miêu tả vẻ đẹp tài hoa của những người nghệ sĩ, những vẻ đẹp mà người ta vẫn gọi là “vang bóng một thời” để bày tỏ sự ngưỡng mộ và cả những nỗi niềm tiếc nuối. Sau năm 1945, quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Tuân đã có những thay đổi, ông hướng ngòi bút của mình đến vẻ đẹp tài hoa của những con người lao động bình thường trong cuộc sống đời thường. Tùy bút “Người lái đò sông Đà” sáng tác năm 1960, là kết quả của chuyến đi thực tế lên Tây Bắc để khám phá cảnh sắc thiên nhiên cũng như tìm kiếm “thứ vàng mười” trong cảnh và con người nơi đây. Qua tùy bút, hình tượng người lái đò hiện lên đầy ấn tượng giữa cái hung bạo của con sông Đà. Trong đó, ắt hẳn người đọc không thể quên khung cảnh vượt thác đầy điêu luyện và tài hoa của ông lái đò, một cảnh tượng mà Nguyễn Tuân gọi là có một không hai, “trước nay chưa từng có”.

Ông lái đò hiện lên là một ông lão đã 70 tuổi với ngoại hình thật đặc biệt: Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. Nguyễn Tuân chỉ bằng vài nét cũng cũng đủ để để chạm khắc vào tiềm thức của bạn đọc về một hình ảnh người lái đò gần gũi, một con người sinh ra và lao động trên sông nước, một con người suốt đời chiến đấu với thác, đá, sóng, nước của sông Đà để tồn tồn tại và xây dựng quê hương Tây Bắc. Giữa khung cảnh thiên nhiên sông Đà hùng vĩ, đầy nguy hiểm và hung bạo ấy, Nguyễn Tuân đã tô đậm vẻ đẹp tài hoa trí dũng của ông lái đò qua cuộc vượt thác đầy nguy hiểm, một trận chiến dữ dội giữa con người và thiên nhiên. Người lái đò nhỏ bé cùng chiếc thuyền mỏng manh đối chọi với thiên nhiên sông nước hung bạo, một cuộc chiến không cân sức nhưng con người trí dũng ngoan cường, tỉnh táo, khôn ngoan, khéo léo đã có thể đưa con thuyền an toàn vượt qua những trùng vi thạch trận trên dòng sông một cách đầy ngoạn mục.

Ở vòng vây thứ nhất, con sông Đà bày ra thạch trận với bốn cửa tử và một cửa sinh. Ở đây nước phối hợp với đá reo hò làm thanh viện; những hòn đá bệ vệ, oai phong lẫm liệt; một hòn ấy trông như đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. Khi “thạch trận dàn bày vừa xong thì cũng là lúc con thuyền tới”. Người lái đò không hề run sợ, tiến đề với trùng vi thạch trận thứ nhất với tâm thế sẵn sàng nhất. Con sông Đà khôn ngoan, nó không đánh trực diện với người lái đò mà đánh bằng nghệ thuật tâm lý chiến. Trước đó, nó dùng âm thanh của thác để khiêu khích “giọng gằn mà chế nhạo”, còn giờ đây nó lại nhờ đến “nước thác làm thanh viện cho đá”. Sông Đà quả thực hiểm ác, nó xông tới “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”, “liều mạng vào sát nách mà đá trái”, “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, có lúc lại “đội cả thuyền lên”. Sông Đà khôn ngoan và hiểm ác là thế, nhưng ông lái đò không hề hoảng sợ “ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất tung lên khỏi sóng”. Lúc này con sông Đà lại chuyển thế bám lấy thuyền và sử dụng đòn vật “túm lấy thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa thuyền ra”. Không để cho ông đò có cơ hội xoay xở, sông Đà lại chuyển thế đánh miếng đòn hiểm độc nhất “cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò”. Khi sóng thác đánh miếng đòn độc hiểm nhất, ông đò mặt “méo bệch” đi. Khuôn mặt ấy của ông lái đò hiện ra không chỉ là gương mặt biến dạng, trắng bệch vì đau đớn mà còn nhợt nhạt vì phải dầm lâu trong nước lạnh. Sự đau đớn của ông đò còn được gián tiếp miêu tả trong một cảm nhận của thị giác và xúc giác “mặt sông trong tích tắc lòa sáng như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng”. Đó là một trận chiến không cân sức, con sông Đà hùng vĩ và hung bạo vô cùng, người lái đò hiện lên nhỏ bé, với chiếc mái chèo nhưng với sức mạnh thật lớn lao. Qua cách miêu tả tiếng hô chỉ huy ngắn gọn, tỉnh táo của người cầm lái, Nguyễn Tuân đã không giấu được lòng ngưỡng mộ và cảm phục trước bản lĩnh kiên cường, sự dũng mãnh, bình thản của người lái đò.

Tới vòng vây thứ hai của thạch trận, ông đò không chỉ dũng mãnh, kiên cường mà còn thể hiện sự thông minh của một người lái đò dày dặn kinh nghiệm – người nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, người đã “thuộc quy luật” của dòng sông, thác đá. Đến với trùng vi này, con sông Đà tăng thêm nhiều cửa tử hơn, cửa sinh lại bố trí lệch qua bờ phía hữu ngạn. Ở trận đánh này ông đò đánh phủ đầu với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh. Ông đò “nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông ghì cương lái”, ông “phóng nhanh”, “lái miết”, tốc độ nhanh vô cùng. Nhưng sông Đà nào đâu phải dạng vừa, chúng xô ra, níu chiếc thuyền vào tập đoàn cửa tử. Ông đò đã cảnh giác sẵn “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo”, “đứa thì đè sấn lên chặt đôi ra để mở đường tiến lên”. Nguyễn Tuân quả thực là bậc thầy của ngôn ngữ, ông huy động hàng loạt các động từ, hò reo theo từng nhịp lái chèo của ông lão lái đò: nắm, ghì, phóng, lái, rảo, đè,… Ông lái đò như một dũng tướng tài ba điều khiển thuần phục con ngựa bất kham của sóng thác sông Đà. Chính bằng sự mưu trí và tài năng của mình, ông lão đã vượt qua hết các cửa tử, làm cho bọn đá thua cuộc phải bày bộ mặt “tiu nghỉu, xanh lè thất vọng”. Thiên nhiên, thác đá sông Đà hung bạo hiểm độc là thế cũng không thể chiến thắng được sức mạnh phi thường của ông lái đò – một tay lái ra hoa, trí tuệ, một tướng lĩnh thực thụ đã chiến thắng cả thần sông, thần đá.

Có lẽ tất cả sự hiểm ác nhất của con sông Đà tập trung hết cả ở trùng vi cuối cùng. Không những ít cửa hơn mà bên trái bên phải đều là luồng chết cả, luồng sống thì lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ. Bốn năm bọn thuỷ quân cửa ải nước bên bờ trái liên xô ra cảnh níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Con sông ngày càng mưu mẹo vào hiểm ác, muốn dồn con người đến chỗ chết. Sự hiểm ác của thác đá đã được nhà văn miêu tả trong hình ảnh ẩn dụ tài hoa về cổng đá cánh mở cánh khép – đó là cả một mặt trận đá trùng điệp trong đó bức tường phòng ngự vững chắc của lũ đá hậu vệ kết hợp với những mũi tấn công ào ạt, tới tấp không ngừng nghỉ của sóng dữ. Nhiệm vụ của ông đò là phải phóng thẳng thuyền, chọc thủng một luồng sinh duy nhất ở ngay giữa cửa bọn đá hậu vệ trấn giữ, trong khoảnh khắc cánh “cổng đá” mở giữa những đợt sóng thác dữ dội. Có lẽ ngay lúc này đây, tay lái chèo của ông lái đò thực sự là một tay lái ra hoa. Không bằng quá nhiều từ ngữ, câu văn, hình ảnh con thuyền lao vút qua khe hẹp được miêu tả trong những câu văn ngắn mà bản thân cách ngắt câu, sự kết hợp những động từ và danh từ nối tiếp: vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng… đã thể hiện sự điêu luyện khéo léo và sức mạnh của ông đò. Tốc độ phi thường của con thuyền dưới bàn tay vừa lái, vừa xuyên, vừa lượn của ông đò không chỉ như một mũi tên tre mà còn được gợi tả tinh tế qua làn hơi nước mà con thuyền xuyên qua, con thuyền không còn lướt trên mặt nước mà đã thực sự bay trong làn hơi nước trên mặt sóng. Tài năng của ông đò khi ấy đã bao hàm cả trí tuệ, sự trải nghiệm, sức mạnh thể lực, trình độ điêu luyện và bản lĩnh kiên cường – tất cả đều đạt tới mức phi phàm, kì diệu. Vậy là cuối cùng, bằng tất cả tài hoa, trí lực và sự dũng mãnh của mình, ông lái đò đã chiến thắng con sông Đà hiểm độc.

Cảnh vượt thác sông Đà có lẽ chính là một trong những kiệt tác nghệ thuật trong cuộc đời sáng tác của Nguyễn Tuân. Ông lái đò trí dũng, tài hoa đã chiến thắng con sông Đà hung bạo, hiểm ác một cách ngoạn mục. Khung cảnh vượt thác sông Đà có lẽ đã quá quen thuộc trong suốt hàng chục năm hành nghề của ông lái đò, nhưng dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân nó đã thực sự trở thành biểu tượng đẹp đẽ nhất nơi núi rừng Tây Bắc. Từng câu, từng chữ đều được Nguyễn Tuân chăm chút từng tí một, đến nỗi tưởng đầu người đọc đang được trên chính chuyến đò ấy, được tận mắt chứng kiến từng hành động, từng nước đi tài hoa của ông lái đò.

Viết về con người bình thường trong cuộc sống đời thường nhưng không hề tầm thường. Nguyễn Tuân luôn tìm đến và khắc họa những vẻ đẹp ấy bằng ngòi bút tài hoa nghệ sĩ nhất. Khung cảnh vượt thác của ông lái đò – một nhịp sống thường niên trong suốt cuộc đời ông lái đò, qua ngòi bút của Nguyễn Tuân cớ sao nó lại đẹp đẽ và tuyệt mĩ đến vậy. Người nghệ sĩ tài hoa ấy đã chạm đến tuyệt đích của cái đẹp, đã thực sự thành công trên con đường đi tìm cái đẹp ấy. Không giống như “Chữ người tử tù”, trong câu chuyện của “Người lái đò sông Đà” Nguyễn Tuân không đi tìm cái đẹp của một thời đã qua nữa mà cái đẹp mà ông khám phá ở ngay trước mắt, trong chính cuộc sống đời thường nhất, đúng như cái nghệ danh mà người đời đặt cho ông – “Một người nghệ sĩ suốt đời đi săn tìm cái đẹp”.

Nguyễn Tuân đã vẽ lên một khung cảnh cảnh vượt thác đầy gay cấn và khốc liệt. Nếu coi người lái đò là người nghệ sĩ điều khiển con thuyền đầy điêu luyện thì Nguyễn Tuân đích thực là người nghệ sĩ chèo lái con thuyền ngôn từ đầy tài hoa. Chỉ qua một một khung cảnh vượt thác thôi, nhưng Nguyễn Tuân đã điều động cả một đội quân từ ngữ để diễn tả sự cuồng nộ của sông Đà và cả sự tài hoa của người lái đò. Nguyễn Tuân đưa người đọc đi từ cảm xúc này sang cảm xúc khác, từ hồi hộp, căng thẳng đến thở phào nhẹ nhõm. Cứ từ trùng vi thạch trận này đến trùng vi thạch trận khác, người đọc chưa khỏi thở phào lại phải tiếp tục đến với một cuộc chiến mới gay cấn và khốc liệt vô cùng. Trong công cuộc đi tìm “chất vàng mười” của con người Tây Bắc nói riêng và người lao động Việt Nam nói chung trong thời kỳ mới, Nguyễn Tuân đã khai thác và khám phá một cách tỉ mỉ nhất, bằng con mắt và trái tim yêu thương nhất của người nghệ sĩ yêu thương và khát khao khám phá cái đẹp ở đời.

Khép lại những trang văn của “Người lái đò sông Đà”, người đọc sẽ mãi không bao giờ quên về hình ảnh một con sông Đà hiểm độc, hung bạo, về một người lái đò điều luyện và cả người nghệ sĩ tài hoa Nguyễn Tuân. Từng cảm xúc, từng hình ảnh vượt thác sông Đà đã trở thành một ấn tượng khó phai khi con người bước chân tới chân trời đầy màu sắc huyền bí riêng biệt, hấp dẫn và độc đáo. Đó là chân trời của cái đẹp, của tài hoa và sự uyên bác.

Bài làm mẫu 5

Đánh giá về Nguyễn Tuân, nhà văn Nguyễn Minh Châu thật có lí khi cho rằng: “Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ”. Nguyễn Tuân luôn tìm mọi cách để kiếm tìm và phát hiện cái mới lạ, độc đáo “xưa nay chưa từng có” trong hành trình sáng tạo. Tuỳ bút “Người lái đò Sông Đà” là kết quả của hành trình bền bỉ và sáng tạo về vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và con người Tây Bắc. Bằng sự tài hoa, uyên bác, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ một dấu ấn không thể mờ phai về con sông miền Tây Bắc vừa hung bạo vừa trữ tình và nổi lên trên thác dữ là vẻ đẹp của một chiến binh sông nước với “tay lái ra hoa” đã vượt bao trùng vi thạch trận như một người nghệ sĩ trên mặt trận vượt thác leo ghềnh. Điều đó được khắc hoạ thật ấn tượng mang cảm giác thật mãnh liệt qua cảnh vượt thác “có một không hai”.

Advertisement

“Cảnh vượt thác” là cảnh tượng người lái đò vượt qua ba trùng vi thạch trận với bao tướng dữ quân tợn. “Xưa nay chưa từng có” cảnh tượng hiếm gặp, trước sau chưa có. Thực chất của ý kiến là bàn đến tài nghệ vượt thác của ông lái đò và tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Tuân.

Bằng ngòi bút tài hoa và quan niệm duy mỹ về cái đẹp – Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng người lái đò sông Đà – một hình tượng nghệ thuật độc đáo hấp dẫn. Ông khách sông Đà tuổi ngoài bảy mươi tuổi nhưng thân hình rắn chắc như một bức tượng cẩm thạch: ngực ông đầy những củ nâu – thương tích trên chiến trường Sông Đà mà Nguyễn Tuân gọi đó là “huân chương lao động siêu hạng”, tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông khuỳnh khuỳnh; nhỡn giới ông cao vời vợi, giọng ông ồ ồ như tiếng thác trước ghềnh. Miêu tả người lái đò như vậy – Nguyễn Tuân đã phần nào khắc họa được vẻ đẹp của con người lao động gắn bó với chiến trường sông nước.

Hình tượng người lao động không chỉ khắc họa qua ngoại hình mà còn được khắc họa qua tính cách và trí thông minh. Ông xem sông Đà như một thiên anh hùng ca và thuộc lòng sông Đà, thuộc tất cả luồng lạch; nắm được binh pháp của thần sông thần đá. Chính vì vậy trong trận thủy chiến đầy binh hùng tướng mạnh, phần thắng vẫn thuộc về con người trí dũng và tài hoa. Trí và dũng của ông khách Sông Đà được Nguyễn Tuân khắc họa một cách đậm nét với ba trùng vi thạch trận. Trận thủy chiến này là một cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”.

Ở đoạn văn thứ nhất, Nguyễn Tuân dồn hết bút lực vào miêu tả trùng vi thạch trận đầu tiên. Ở trùng vi thạch trận này – thác đá sông Đà đã chuẩn bị dàn trận địa sẵn, đó là trận địa với bốn cửa tử, một cửa sinh. Ở đây nước phối hợp với đá reo hò làm thanh viện; những hòn đá bệ vệ, oai phong lẫm liệt; một hòn ấy trông như đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. Bằng các từ ngữ: “reo hò, bệ vệ, oai phong lẫm liệt, hất hàm hỏi, thách thức…”, người đọc cảm nhận được không khí trận chiến nóng bỏng gay cấn hồi hộp, kịch tính. Đó chính là biệt tài phù thuỷ ngôn ngữ của Nguyễn Tuân.

Thác đá sông Đà rất khôn ngoan. Chúng không chỉ đánh trên mặt trận giáp lá cà mà còn đánh bằng cả nghệ thuật tâm lý chiến. Trước đó chúng đã dùng âm thanh của thác khiêu khích “giọng gằn mà chế nhạo”. Còn giờ đây chúng lại nhờ “nước thác làm thanh viện cho đá”. Với bản tính hung hãn như một loài thủy quái, sông Đà đã đánh phủ đầu người lái đò với những đòn thế vô cùng hiểm hóc. Sông Đà cậy thế quân đông tướng mạnh nên đã “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”, “liều mạng vào sát nách mà đá trái”, “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, có lúc chúng “đội cả thuyền lên”. Một loạt động từ được Nguyễn Tuân huy động để miêu tả cách đánh của sông Đà làm người đọc không khỏi rùng mình trước sự hung bạo của thiên nhiên: “ùa vào, bẻ gãy, đá trái, thúc gối, độ…”

Bị tấn công bất ngờ nhưng người lái đò vẫn bình tĩnh. Với chiến thuật phòng ngự để dưỡng sức cho những trùng vi sắp tới, “ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng”; lúc này sông Đà lại chuyển thế bám lấy thuyền và sử dụng đòn vật “túm lấy thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa mình ra”. Không để cho ông đò có cơ hội xoay xở, sông Đà lại chuyển thể đánh miếng đòn hiểm độc nhất “cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò”. Dính miếng đòn hiểm, mắt ông hoa lên, tưởng như “một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống châm lửa lên đầu sóng”. Đòn đau khiến ông đò “mặt méo bệch đi”. Đó là cái méo bệch vốn do cái lạnh của nước làm nhăn nheo lại thêm miếng đòn đau làm ông khách sông Đà mặt như tím tái, ngây dại. Phép điệp động từ “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm” gợi lên cơn đau dồn dập, hành hạ người lái đò. Nhưng ông đò nén đau, giọng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo, sắc lạnh chỉ huy sáu bơi chèo còn lại vượt cửa tử vào cửa sinh.

Nếu đoạn văn thứ nhất, Nguyễn Tuân tập trung miêu tả thế trận một chiều từ sông Đà thì ở đoạn văn tiếp theo nhà văn tập trung miêu tả thế trận của ông khách sông Đà ở sự thông minh, linh hoạt và tài nghệ vượt thác dũng mãnh, phi thường. Chuyển từ thế trận phòng ngự, ông lái đò chuyển thế chủ động tấn công. Ở trùng vi thạch trận thứ hai này, sông Đà tăng cường một “tập đoàn cửa tử” và cửa sinh bố trí lệch qua bờ hữu ngạn.

So với trùng vi một thì trùng vi này khó khăn hơn. Nhưng không vì thế mà ông đò nao núng. Với kinh nghiệm mười năm chiến trường sông nước, người lái đò đã “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá”. Ông đò cũng tự triết lý với mình “cưỡi lên thác sông Đà là cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”, vì thế “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật”. Ở trận này ông đò đánh phủ đầu với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh.

Như một vận động viên đua ngựa, ông đò “nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái”, ông “phóng nhanh”, “lái miết”… tốc độ di chuyển mau lẹ. Nhưng sông Đà cũng không phải dạng vừa. Chúng xô ra định níu chiếc thuyền vào tập đoàn cửa tử. Ông đò đã cảnh giác sẵn nên “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo”, “đứa thì đè sấn lên chặt đôi ra để mở đường tiến”. Hàng loạt động từ được huy động như một đội quân ngôn ngữ hùng hậu hò reo theo từng nhịp tiến của ông đò: “nắm, ghì, phóng, lái, tránh, rảo, đè, chặt…”. Chính nhờ sự mưu trí và tài năng ấy ông đò vượt qua hết các cửa tử. Một trùng vi với bao cửa tử, cửa sinh mà chỉ vài ngón đòn ông lái đò đã đánh sập vòng vây của lũ đá, đồng thời làm cho bọn đá phải thua cuộc với bộ mặt “tiu nghỉu, xanh lè thất vọng”. Qua đó để thấy người khách sông Đà quả thật là trí dũng song toàn.

Ở trùng vi thứ ba, sông Đà còn một cơ hội cuối để thử thách người lái đò. Trùng vi này ít cửa hơn mà bên trái bên phải đều là luồng chết cả, luồng sống thì lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ. Có thể nói trận chiến này sông Đà đã dùng thế “trên đe dưới búa” làm cho người lái đò phải đối mặt với thế “tiến thoái lưỡng nan” nhưng vào “cái khó lại ló cái khôn” – ông lái đò đã biến chiếc thuyền sáu bơi chèo thành một mũi tên còn ông giống như một cung thủ đã “phóng thẳng thuyền chọc thủng cửa giữa. Thuyền vút qua cửa đá cánh mở, cánh khép, vút vút, cửa ngoài, cửa trong lại cửa trong cùng: “Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được. Thế là hết thác”. Một loạt các động từ lại được Nguyễn Tuân huy động để miêu tả cách đánh của ông đò: “phóng, chọc thủng, xuyên qua, xuyên nhanh, lái được, lượn được…” cho thấy sự thần tốc trong cách đánh và cách đánh nhanh thắng nhanh đã giúp người lái đò vượt trùng vi đầy phi thường. Quả là “Đọc Người lái đò sông Đà, ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự do của một tài năng, của một đấng hóa công thực sự trong nghệ thuật ngôn từ” (Phan Huy Đông). Nghệ thuật lái thuyền đến đây khiến người đọc hoàn toàn tâm phục, khẩu phục. Đúng là ông lái đò đã đạt đến mức nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình. Đoạn trích vì thế đã xây dựng được một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.

Ông lái đò là người lao động nhưng lại mang cốt cách của một tâm hồn nghệ sĩ. Trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh ông là một con người phi thường, tài hoa. Một nghệ sĩ có phong thái ung dung, nhàn nhã, khiêm tốn. Ông chính là hình tượng con người lao động là biểu tượng cho trí dũng song toàn trong hành trình đi tìm cái đẹp của nhà văn. Nguyễn Tuân đích thực là một nghệ sĩ tài hoa bậc thầy trong việc ngợi ca những con người lao động trong gian lao nguy hiểm nhưng đầy vinh quang, điển hình là hình tượng ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” với nhiều nét đẹp và cả chất nghệ sĩ trong nghề. Cuộc vượt thác của người khách sông Đà quả thật là phi thường, xứng đáng là một trong những “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.

Cảm nhận hình tượng người lái đò sông Đà qua 3 trùng vi thạch trận Bài làm mẫu 1

Người lái đò hiện lên trước hết là một người lao động từng trải, có nhiều kinh nghiệm đò giang, có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào ngày hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình – cảnh vượt thác.

Nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà. Đó chính là cuộc vượt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một:

“Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn…”

Trong thạch trận ấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. “Phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”, người lái đò “phá luôn vòng vây thứ hai”. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Đến vòng thứ ba, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động “tấn công”: “Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, người lái đò chỉ có một cán chèo, một con thuyền không có đường lùi còn dòng sông dường như mang sức mạnh siêu nhiên của loài thuỷ quái. Tuy nhiên, kết cục cuối cùng, người lái đò vẫn chiến thắng, khiến cho bọn đá tướng tiu nghỉu bộ mặt xanh lè vì phải chịu thua một con thuyền nhỏ bé.

Người lái đò trong tác phẩm là một người lao động vô danh, làm lụng âm thầm, giản dị, nhờ lao động mà chinh phục được dòng sông dữ, trở nên lớn lao, kì vĩ, trở thành đại diện của con người. Người lao động nhờ ý chí kiên cường, bền bỉ, quyết tâm mà chiến thắng sức mạnh thần thánh của thiên nhiên. Đó chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc.

Quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt. Một chút thiếu bình tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ tay, quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống. Mà ngay ở những khúc sông không có thác lại dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ. Chung quy lại, nơi nào cũng hiểm nguy. Ông lão lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: “Sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi”. Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình. Nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét: “Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ. Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo”.

Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dễ thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, chỉ có Nguyễn Tuân. Với cảnh vượt thác, ông lái đò hiện lên mang đầy đủ những vẻ đẹp trên.

…………….

Dalaland Đà Lạt – Tiểu Bali Thu Nhỏ Tuyệt Đẹp

Dalaland Đà Lạt là một trong những địa điểm sống ảo triệu like được rất nhiều du khách trong lẫn ngoài nước biết dến. Nơi đây đã cho ra rất nhiều tấm ảnh đẹp lung linh. Cuộc đời chúng ta có rất nhiều cuộc hành trình. Dù ngắn hay dài thì mỗi cuộc hành trình đều đem lại những kiến thức bổ ích hay những phút giây thư thái nhẹ nhõm.

Đó là lúc tâm hồn được sống, hòa mình vào thiên nhiên quên đi những tính toán đời thường. Ốc đảo Bali (Indonesia ) một điểm đến không thể bỏ qua trong nhật kí cuộc đời, là thiên đường du lịch bậc nhất của châu Á. Nhưng… Đâu phải ai cũng có cơ hội đến check- in, sống ảo. Nắm bắt được mơ ước, thị hiếu của khách du lịch Việt Nam, “DALALAND” ra đời và mới nổi tiếng trong thời gian gần đây. Nó được mọi người ví như Bali thứ hai trên Thế Giới.Giới thiệu Dalaland Đà LạtKhu liên hợp coffee – homestay – check in Dalaland Đà Lạt. Toạ lạc tại số 20 ấp 4 xã Tà Nung thành phố Đà Lạt. Tuy chỉ ra đời vào cuối năm 2023 nhưng đã thu hút rất nhiều du khách. Bởi những khung cảnh làm say đắm bao lòng người.Khi đến đây điều đầu tiên du khách cảm nhận được đó là. Một không gian thoải mái, không khí trong lành. không bon chen xô bồ đúng chất của vùng cao nguyên mộc mạc tình cảm.Toàn khuôn viên của Dalaland là 800m vuông. Với những tiểu cảnh tương tự Bali làm thôi thúc mọi người đến đây một lần.

Tiểu Bali thu nhỏ Đà Lạt

Bali là một từ để diễn tả vẻ đẹp của Đà Lạt nói chung. Và Dalaland nói riêng bởi vẻ đẹp ở đây tựa như Bali vậy. Một vẻ đẹp mà chỉ có khu du lịch Dalaland này. Nhờ những bàn tay tỉ mỉ tạo ra những tiểu cảnh vô cùng thu hút du khách. Bên cạnh đó công lớn nhất là nhơ vị chủ đã cất công suy nghĩ ra một không gian tuyệt vời đến như vậy.

Dalaland nằm giữa không gian đồi núi trập trùng. Sở hữu một khoảng không giang rộng rãi và bao la với rất nhiều cảnh đẹp. Mang đến một bầu không khí trong lành, mát rượi và sảng khoái. Thiên nhiên hoang sơ tươi đẹp và kỳ vĩ của Đà Lạt hầu như đều hội tụ đủ tại Dalaland. Với những cánh đồng hoa Cẩm Tú Cầu ngát hương kiêu sa lộng lẫy.Những đồi cà phê bạt ngàn trải dài tít tắp đến tận chân trời. Thấy xa xa những rặng thông Đà Lạt reo vang trong khúc ca đại ngàn huyền bí. Và cả những ngọn núi vĩ đại đứng sừng sững xa xa.

Daland Đà Lạt có gì

Xích đu trên cây

Ở một độ cao “kha khá” so với mặt đất mang đến cho bạn một cảm giác hồi hộp nhưng sảng khoái.

Xích đu được mắc lên một cây cổ thụ to lớn nên rất chắc chắn. Thỏa thích cho bạn đu đưa, chụp hàng chục bức ảnh ảo diệu. Với tầm nhìn hướng thẳng xuống đồi cà phê bao la bạt ngàn. Chắc chắn bạn sẽ có những trải nghiệm khó quên khi đến với chiếc xích đu “cực xịn”.

Tổ chim khổng lồ

Điểm sống ảo kế tiếp ở đây chính là tiểu cảnh tổ chim được đan bằng các loại dây leo cứng cáp. Trông tự nhiên và đẹp hoàn hảo như tổ của một chú chim khổng lồ nào đó.

Tổ chim xinh đẹp này được tạo dáng hình tròn rộng. Bên trong có một tấm đệm lót để du khách nằm, ngồi, tạo dáng được nhiều kiểu. Dù rằng tổ chim đã xuất hiện ở một vài homestay Đà Lạt nhưng chỉ có tổ chim tại khu du lịch Dalaland mới có chóp bên trên, trông giống như những chiếc tổ chim thật.

Chiếc giường được đan bằng dây thần

Nằm trên chiếc giường mát mẻ hòa mình cùng bầu khí ở nơi đây thoang thoảng đâu đó là mùi cafe thơm ngây ngất (nếu các bạn đi vào mùi hoa nở ). Cuộc sống nhưng lặng lại hòa mình vào nhịp sống mát mẻ đặc trưng nơi đây.

Chiếc giường sắt

Nhưng vô cùng chắc chắn và an toàn. Chiếc giường này thích hợp cho những bức ảnh lãng mạn, tinh tế. Và những ai yêu thích sự lãng mạn và có tâm hồn mộng mơ.

Bàn Tay Phật

Trong Khuôn viên DalaLand Đà Lạt còn có bàn tay Phật hướng lên trời. Một điểm check in thú vị, độc đáo. Đặc biệt là những người theo chủ nghĩa lãng mạn, thì đây là một trong những điểm đến lý tưởng. Bởi tiểu cảnh nơi đây có vẻ đẹp xao xuyến lòng người khi đến đây thả mình vào thiên nhiên. Một vẻ đẹp hòa cùng thiên nhiên xinh đẹp của Đà Lạt.

Bàn tay bằng đá nhưng không thô sơ. Những ngón tay được trau chuốt rất tinh tế, thanh tao như bàn tay thật của con người. Đang nâng đỡ và tôn vinh vẻ đẹp của bạn. View ở trên cao nên bao gọn những dãy đồi núi trập trùng của cao nguyên Đà Lạt.Hãy đến Dalaland Đà Lạt và trải nghiệm những điểm check in thú vị này để có những tấm hình tuyệt đẹp. Chúc quý khách có một trải nghiệm thật tuyệt vời!

Đăng bởi: Nguyễn Thị Thúy Liễu

Từ khoá: Dalaland Đà Lạt – Tiểu Bali thu nhỏ tuyệt đẹp

8 Danh Hiệu Thu Hút Khách Nhất Thế Giới Về Du Lịch Đà Nẵng

MỤC LỤC

Lý do du lịch Đà Nẵng ấn tượng trong mắt du khách

Đà Nẵng trong năm 2023 đã thực sự trở thành điểm sáng của du lịch Việt Nam với hàng loạt những thành tích đáng khâm phục.

Tổng kê về du lịch Đà Nẵng trong 6 tháng đầu năm đã đạt được những thành tích đáng khen ngợi.

Đà Nẵng đạt 4,3 triệu lượt khách tham quan du lịch, bao gồm cả khách trong nước và khách quốc tế. Trong đó, khách quốc tế đạt 1,8 triệu lượt khách và khách trong nước đạt 2,6 triệu lượt khác, chưa tính các khách du lịch Đà Nẵng tự túc.

Trong 6 tháng đầu năm, Đà Nẵng tiếp tục mở thêm 6 đường bay nội địa và 2 đường bay quốc tế là Singapore và Hồng Kông tạo điều kiện cho khách nước ngoài đến Đà Nẵng du lịch.

2,7 triệu lượt khách lưu trú tại các cơ sở phục vụ du lịch gồm khách sạn, nhà nghỉ, resort và homestay.

1.162 đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch trên toàn thành phố, trong đó gồm có 369 đơn vị du lịch lữ hành và 793 cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch.

Hơn 1,4 triệu lượt khách quốc tế đến Đà Nẵng thông qua các đường bay trực tiếp (không quá cảnh)

Đà Nẵng luôn biết cách để biến mình trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn trên cả nước và quốc tế. Nhờ sở hữu cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp cùng với các sản phẩm du lịch sáng tạo, đã góp phần đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến ấn tượng nhất tại Việt Nam trong mắt của du khách quốc tế.

Đà Nẵng – thành phố của biển, là bãi biển Mỹ Khê lọt vào top 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh cùng với đó là hàng loạt các bãi biển đẹp khác như biển Non Nước, biển Phạm Văn Đồng, các bãi tắm nằm dưới chân bán đảo Sơn Trà.

Biển Nam Ô mang vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc

Đà Nẵng được ví như Singapore thu nhỏ, được biết đến là thành phố sạch đẹp nhất Việt Nam và cũng là một trong những “thành phố xanh” của thế giới.

Thành phố có an ninh tốt nhất: Khách du lịch hoàn toàn có thể yên tâm vì vấn đề trộm cắp, cướp giật hay ăn xin ngoài đường. Các tình trạng chặt chém, chèo kéo khách đều bị xử lý nghiêm.

Con người Đà Nẵng thân thiện: Điều có lẽ mà không chỉ du khách quốc tế mà khách trong nước cũng phải công nhận. Một Đà Nẵng đáng sống, nơi có cảnh đẹp phong phú đa dạng và người dân thì hiền hòa, mến khách.

Du lịch Đà Nẵng và những điểm đến hấp dẫn nhất thế giới Cầu Rồng, cầu Quay sông Hàn

Những công trình có ý nghĩa kinh tế, lịch sử của Đà Nẵng có sức hút không nhỏ đối với du khách. Họ muốn chiêm ngưỡng những nét đẹp của những cây cầu, và cũng không quên nhắc đến cầu Rồng như một biểu tượng mới của Đà Nẵng. Cầu rồng hiện lên với vẻ đẹp lung linh, huyền ảo với hình cảnh con rồng hướng ra biển Đông vô cùng độc đáo, mang ý nghĩa khát khao vươn ra biển lớn, đến với thế giới.

Cầu quay sông Hàn

Cầu Vàng – biểu tượng mới của Đà Nẵng

Hình ảnh chiếc cầu vàng được biết đến từ một vài hình ảnh đã khiến các du khách nước ngoài phải thích thú, trầm trồ. Một công trình độc đáo của khu du lịch Bà Nà, gây ấn tượng bởi bàn tay Phật không lồ ôm trọn lấy cây cầu giữa một không gian núi rừng đầy tĩnh lặng.

Hình ảnh cầu Vàng được du khách yêu thích

Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng DIFF

Ước tính đã có hơn một trăm ngàn lượt khách đổ về Đà Nẵng trong thời điểm tổ chức bắng pháo hoa quốc tế hằng năm. Từ một cuộc thì vốn chỉ kéo dài trong 2 đêm đã trở thành một lễ hội bắn pháo hoa quốc tế hằng năm được trình diễn trong 5 đêm đến từ 8 quốc gia tham dự.

Lễ hội bắn pháo hoa mang tầm cỡ quốc tế

Sunworld Bà Nà Hills

Trong khoảng vài năm trở lại đây Bà Nà Hill bỗng nổi lên như một hiện tượng. Một cảnh quan đẹp như trời Tây, với điểm nhấn là cầu Vàng nổi tiếng thế giới, là cây cầu độc nhất vô nhị. Đặc biệt, cáp treo Bà Nà Hills cũng đã đạt 4 kỷ lục trên thế giới đáng khen ngợi.

Bà Nà Hills – đường lên tiên cảnh

Khu Nghỉ Dưỡng 5 Sao InterContinentel Danag Sun Peninsula Resort Đà Nẵng

Được công nhận là khu nghỉ dưỡng hiện đại và sang trọng bậc nhất thế giới, InterContinentel Danag Sun Peninsula Resort Đà Nẵng trở thành điểm đến của những “đại gia”, đúng chuẩn khi nghỉ dưỡng “đắt xắt ra miếng”.

Resort 5 nằm tọa lạc ở vị trí vô cùng đắc địa

Đây cũng là khu nghỉ dưỡng sáng chảnh nhất Việt Nam cho đến hiện tại, với vị thế nằm ngay trên bán đảo Sơn Trà, sau lưng là núi trước mặt là biển cả. Đến với InterContinentel Danag Sun Peninsula Resort Đà Nẵng, mọi giác quan của bạn sẽ được đánh thức ngay từ khi đặt chân đến. Tất cả các dịch vụ đều sang chảnh đến khó tin, đáng đồng tiền bát gạo.

Hội An – điểm đến ấn tượng của du lịch Đà Nẵng

Dù không nằm trong địa bàn thành phố Đà Nẵng nhưng Hội An luôn là điểm đến hấp dẫn thông qua các tour du lịch. Một Hội An mang trong mình nét đẹp cổ kính, yên bình vào ban ngày nhưng lại vô cùng rực rỡ vào buổi tối.

Hội An – điểm đến hấp dẫn khách quốc tế

Nếu book tour du lịch Hội An 1 ngày khỏi hành từ Đà Nẵng, bạn sẽ được phép tham quan danh thắng Ngũ Hành Sơn và sau đó thì di chuyển đến khám phá Hội An vào buổi tối, tham gia vào nhiều lễ hội đặc sắc phải kể đến như show diễn Ký Ức Hội An, bài chòi và lễ hội lồng đền vào mỗi tối.

Đăng bởi: Bảo Lương

Từ khoá: 8 danh hiệu thu hút khách nhất thế giới về du lịch Đà Nẵng

8 Bài Văn Cảm Nhận Về Nhân Vật Lượm Trong “Lượm” Của Tố Hữu Lớp 6 Hay Nhất

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 1

Hình ảnh Lượm trong bài thơ cùng tên của tác giả Tố Hữu đã để lại dư âm, ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đó là một em bé hồn nhiên, tinh nghịch yêu đời nhưng cũng vô cùng dũng cảm, kiên cường. Gấp cuốn sách lại có lẽ không ai có thể quên được chân dung, tính cách, phẩm chất quý báu của cậu bé ấy.

Hình ảnh Lượm hiện lên thật hồn nhiên, tinh nghịch qua lời kể của người chiến sĩ, nét hồn nhiên ấy thấm đượm trong cả ngoại hình, trang phục và hành động. Hình ảnh hồn nhiên của chú bé luôn hiện hữu, nhảy nhót trước mắt người đọc với cái dáng loắt choắt, bé nhỏ, những bước chân thoăn thoắt đeo bên mình chiếc xắc để đựng những phong thư chuyển đi khắp các chiến tuyến:

“Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh”

Công việc của chú bé vô cùng quan trọng và cũng chứa đầy sự hiểm nguy, nhưng trên gương mặt chú bé vẫn luôn giữ được nét hồn nhiên, ngây thơ: cười híp mí, má đỏ bồ quân; có nét tinh ngịch rất trẻ con: miệng huýt sáo vang, “Như con chim chích/ Nhảy trên đường vàng” . Tác giả quả thật tài tình, khi đã tìm được một hình ảnh so sánh đẹp đẽ và chính xác đến vậy để nói về sự tinh nghịch của Lượm. Có lẽ không có hình ảnh nào phù hợp hơn hình ảnh những chú chim chích non, bé nhỏ di chuyển từ cành này qua cành khác để ví von với Lượm.

Qua hình ảnh này, ngoài nét hồn nhiên người đọc còn thấy được sự yêu đời của chú bé. Lời tâm sự của Lượm với người chiến sĩ cũng rất hồn nhiên: “Cháu đi liên lạc/ Vui lắm chú à/ Ở đồn Mang Cá/ Thích hơn ở nhà” , lời nói nhỏ đầy chân thật đó không chỉ cho thấy tinh thần làm việc hăng say, mà còn thể hiện niềm vui, sự hân hoan khi được hoạt động cách mạng, góp một phần nhỏ bé vào công cuộc kháng chiến của dân tộc. Tinh thần yêu nước đó càng làm người đọc cảm phục và yêu mến Lượm hơn.

Lời chào cuối cùng giữa Lượm và anh chiến sĩ cũng thật ngộ nghĩnh: “Thôi chào đồng chí!” . Lời chào thể hiện tinh thần làm việc nghiêm trang của em. Không những vậy còn cho thấy niềm tự hào, kiêu hãnh những cũng vô cùng đáng yêu của chú bé khi được đứng vào hàng ngũ những người tham gia cách mạng.

Mưa bom bão đạn đã cướp đi sinh mạng của Lượm trong một lần chú bé đi liên lạc. Vô vàn hiểm nguy phía trước không thể ngăn cản bước chân anh dũng của Lượm, chú bé “Vượt qua mặt trận/ Đạn bay vèo vèo” bởi việc đưa thư là quan trọng nhất nên một vài nguy hiểm kia có là gì với chú bé. Người đọc giật mình, sững sờ trước cái chết quá đỗi bất ngờ: “Bỗng lòe chớp đỏ/ Thôi rồi, Lượm ơi!/ Chú đồng chí nhỏ/ Một dòng máu tươi!” . Làm sao có thể tin nổi chú bé sổi nổi, nhiệt huyết, đầy tinh thần trách nhiệm ấy lại hi sinh.

Câu thơ “Thôi rồi, Lượm ơi!” được ngắt làm đôi cùng với hình thức câu cảm thán, không chỉ là tiếng nấc nghẹn của tác giả, mà khi đọc đến đây độc giả cũng phải ngưng lại bởi nỗi xót xa, đau đớn trào dâng. Câu thơ đã chạm đến những nỗi niềm cảm xúc sâu kín nhất trong lòng mỗi người đọc. Chú bé hi sinh, trở về với thiên nhiên, với đất mẹ thân yêu, tay em vẫn nắm chặt bông lúa, dù đã mất nhưng hình ảnh về sự hồn nhiên, đáng yêu và tinh thần quả cảm của em thì vẫn mãi sống trong lòng mọi người, hồn em mãi trường tồn cùng non sông, đất nước.

Góp phần tạo nên những dòng thơ thấm đẫm cảm xúc, tràn đầy xúc động không thể không kể đến những nét đặc sắc trong nghệ thuật của tác phẩm. Tố Hữu đã tỏ ra rất tài tình khi sử dụng thể thơ bốn chữ, nhịp thơ linh hoạt, sử dụng thành thạo các từ láy giàu giá trị tạo hình, lớp ngôn từ dồn nén cảm xúc đã tô đậm, làm rõ những phẩm chất đẹp đẽ của Lượm.

Gấp lại cuốn sách, dư âm, hình ảnh người anh hùng dũng cảm Lượm vẫn còn đọng mãi trong lòng người đọc. Lượm là đại diện tiêu biểu cho thế hệ anh hùng Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Pháp, sẵn sàng hi sinh vì sự độc lập, tự do của đất nước. Thế hệ trẻ chúng ta được sống trong hòa bình, tự do là nhờ công ơn to lớn của ông cha, bởi vậy, cần phải sống sao cho xứng đáng với thế hệ trước.

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 7

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 1

“Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”, đó là lời dạy của Bác Hồ dành cho thiếu nhi Việt Nam trong những ngày kháng chiến đấu chống quân xâm lược. Thực hiện theo lời dặn dò của Bác Hồ kính yêu, thiếu nhi chúng ta đã có những việc làm dũng cảm, anh hùng, không sợ nguy hiểm. Bài thơ Lượm của nhà thơ Tố Hữu đã cho người đọc thấy được hình ảnh của cậu bé gan dạ, quả cảm: Lượm.

Cậu bé Lượm được theo các chú bộ đội làm liên lạc trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó là một cậu bé có thật trong lịch sử và đi vào thơ ca bằng sự cảm phục của nhà thơ Tố Hữu. Tác giả đã kể lại câu chuyện về Lượm bằng thơ, thể thơ bốn chữ, với giọng điệu hồn nhiên, vui tươi, lại có khi xót xa, đau đớn.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã tái hiện lại cuộc gặp gỡ đáng nhớ trong thời gian cấp bách: “Ngày Huế đổ máu”. Đó là ngày Huế phải gồng mình trước chiến tranh, ngăn chặn bước châm xâm lược của giặc. Vậy mới thấy trong hoàn cảnh khó khăn ấy, cậu bé nhỏ nhắn hiện lên thật anh hùng. Anh hùng nhưng trang phục của cậu lại đơn sơ vô cùng:

Cái đầu nghênh nghênh

Ca lô đội lệch

Mồm huýt sáo vang

Như con chim chích

Nhảy trên đường vàng…”

Những từ láy “loắt choắt”, “xinh xinh”, “nghênh nghênh” cho ta thấy cậu bé thật hồn nhiên, tinh nghịch và nhanh nhẹn cùng một chút đáng yêu của tuổi thiếu nhi. Có lúc cậu lại tinh nghịch “cười híp mí”, có lúc lại ngượng ngùng làm “má đỏ bồ quân”… trông cậu bé ấy như con chim bé nhỏ, lúc nào cũng tung tăng, ríu rít, hớn hở trên chặng đường liên lạc:

“Cháu đi liên lạc

Vui lбєЇm chГє Г

Ở đồn Mang Cá

Thích hơn ở nhà”

Cậu bé thật gan dạ! Niềm vui của cậu bé ở đồng Mang Cá có thể chính là niềm vui khi nghe được thông tin, biết được một bí mật của giặc để góp vào chiến công của cô chú bộ đội. Câu chuyện về cậu bé Lượm có lẽ sẽ tiếp tục được mở ra với nhiều câu thơ vui tươi, khỏe khoắn. Thế nhưng:

“Một hôm nào đó

Như bao hôm nào

Chú đồng chí nhỏ

Bỏ thư vào bao

Vụt qua mặt trận

Đạn bay vèo vèo

Thư đề thượng khẩn

Sợ chi hiểm nghèo”

Chiến trường ác liệt nhưng Lượm vẫn xung phong vào bom đạn thực hiện nhiệm vụ quan trọng mà các chú giao phó. Chuyến đi ấy cũng chính là chuyến đi cuối cùng của cậu bé:

“Bỗng lòe chớp đỏ,

Thôi rồi Lượm ơi!”

Sự nhanh nhẹn của cậu bé trẻ tuổi không thể vượt qua làn mưa đạn của quân thù. Tác giả không nói cậu bé hy sinh, chỉ dùng từ “thôi rồi” để bật thành tiếng nấc nghẹn ngào, xót thương và cảm phục trước sự hy sinh của người chiến sĩ nhỏ tuổi. Nhưng Lượm không chết, không hy sinh. Tố Hữu đã gửi gắm linh hồn của cậu bé vào đất mẹ:

“Cháu nằm trên lúa

Tay nắm chặt bông

Lúa thơm mùi sữa

Hồn bay giữa đồng…”

Lượm đã hóa thành lúa, thành mùi sữa, thành linh hồn gửi vào thiên nhiên, đất mẹ. Ra đi nhưng lại giống như cuộc hành trình quay lại. Ra đi nhẹ nhàng, tự một giấc ngủ bên vòng tay mẹ vỗ về. Để rồi hình ảnh cậu bé lại được hiện lên ở hai khổ thơ cuối, như một lời khẳng định rằng hình ảnh nhỏ nhắn, xinh xinh cùng dáng điệu thoăn thoắt của người chiến sĩ nhỏ đã sống trong trái tim của tất cả mọi người.

Kể lại câu chuyện của Lượm, Tố Hữu đã thể hiện sự cảm phục và xót thương cho một người chiến sĩ dũng cảm, gan dạ, không sợ khó khăn. Đó chính là tấm gương sáng, là ngọn lửa hồng, là lòng yêu nước bao la để thế hệ thiếu nhi hôm nay học tập và noi theo.

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 7

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 6

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 7

Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc. Ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đô sộ. Mỗi một lứa tuổi ông đều dành những trang thơ của mình để viết về mọi lới tuổi và cũng như thế mỗi một lứa tuổi lại biết đến những bài thơ khác nhau của ông. Đối với lứa tuổi học sinh chúng ta thì chắc hẳn không ai không biết đến bà thơ Lượm do ông sáng tác Bài thơ đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc hình ảnh Lượm, một em bé thiếu nhi hy sinh vì nhiệm vụ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Mở đầu bài thơ hình tượng nhân vật Lượm được tác giả miêu tả hết sức rõ nét và chi tiết.

Cái đầu nghênh nghênh.

Ca nô đội lệch

Con chim chích

Nhảy trên đường vàng. . . ”

Hình ảnh Lượm thật đẹp. Lượm còn rất bé và được nhà thơ miêu tả là một cậu bé loắt choắt. Cậu mang bên mình cái xắc xinh xinh lên đường để đi công tác đi làm nhiệm vụ phục vụ kháng chiến phục vụ cách mạng. Cậu bé dường như rất vui thích rất tự hào khi mình đã được phục vụ kháng chiến khi chỉ là một cậu bé rất nhỏ. Chẳng thế mà nhìn cậu lúc này xem cậu đi thoăn thoắt cái đầu cậu lại nghênh nghênh với chiếc mũ ca nô đặc trưng của các chiến sĩ liên lạc nhưng lại được chú đội lệch sang hắn một bên thể hiện Lượm là một cậu bé rất tinh nghịch rất trẻ trung yêu đời và chắc hẳn cạu cũng đang nhảy chân sáo trên đường vàng.

Những câu văn vô cùng ngắn gọn nhưng lại rất chi tiết của tác giả khiến ta cảm nhận được chú bé lượm được hiện len hết sức chi tiết. Cậu bé toát lên là một chú bé rất nhỏ nhắn xinh xắn rất dễ thương nhưng ở cậu vẫn toát lên một sự nhanh nhẹn hoạt bát đến kì lại ở một độ tuổi còn quá trẻ. Bước vào chiến trận,tuy cậu chỉ được giao nhiệm vụ là đưa thư nhưng trong chiến tranh thì tất cả mọi hoạt động từ nhỏ đến lớn đều rất nguy hiểm. Vậy mà hãy nhìn cậu bây gio mà xem cậu thật sự rất vui vẻ thậm chí còn rất sung sướng khi được cách mạng giao cho nhiệm vụ,hình ảnh cậu bé khiến chúng ta thật cảm thấy ngưỡng mộ và cần phải học hỏi từ cậu Lượm hồn nhiên kể chuyện:

Bấy giờ, cái gian khổ của kháng chiến trường kì chưa tới. Mọi người đang sống trong không khí phấn khởi hào hứng của độc lập, tự do sau Cách mạng tháng Tám. Cái vui của Lượm bắt đầu từ niềm vui của đất nước, của dân tộc. Lượm vui trong lòng, vui ngoài nét mặt, dáng điệu, cử chỉ, lời nói. Tưởng chừng cái xắc cũng vui lây, cũng nhún nhảy theo nhịp chân của chú bé. Đeo xắc là dấu hiệu của người làm cán bộ. Lượm thấy oai lắm, ra vẻ lắm nên tỏ ra rất tự hào. Giống như các bạn cùng lứa tuổi, Lượm rất hiếu động. Đặc điểm này đã được hướng vào những công việc có ích cho kháng chiến. Hình ảnh Lượm lúc chia tay tác giả thật đẹp và đầy sức sống:

“ Cháu cười híp mí

Má đỏ bồ quân”

Cả câu: Thôi chào đồng chí! cũng mang dấu ấn của niềm vui. Lượm chào chú bằng đồng chí, rất tinh nghịch, dí dỏm, mà cùng rất nghiêm túc, bởi Lượm đã tham gia kháng chiến. Đoạn thơ dùng thể thơ bốn chữ, nhịp nhanh, cùng nhiều từ láy (loắt choắt, thoăn thoát, nghênh nghênh) góp phần thể hiện hình ảnh Lượm – một em bé liên lạc hồn nhiên, vui tươi) say mê tham gia công tác kháng chiến thật đáng mến, đáng yêu.

Câu chuyện của Lượm trong chuyến đi liên lạc cuối cùng được kể qua lời của người kể với những cảm xúc đau xót, tiếc thương, tự hào được biểu hiện trực tiếp và qua cả cách nhìn, cách miêu tả. Khi nghe tin Lượm hi sinh, tác giả đau đớn thốt lên:

Ra thế Lượm ơi!…

Kỉ niệm về cuộc gặp gỡ với chú bé liên lạc còn tươi nguyên trong lòng nhà thơ thì bỗng dưng có tin chẳng lành. Câu thơ bình thường bỗng nhiên bị ngắt làm đôi. Ám hiệu ngập ngừng và dấu chấm than thể hiện tâm trạng ngạc nhiên và xúc động đến bàng hoàng. Và để tưởng nhớ người chiến sĩ liên lạc ấy thì cuối bài thơ hình ảnh chú bé Lượm tinh nghịch hồn nhiên lại một lần nữa được hiện lên trong khổ cuối bài thơ.

Chú bé loắt choắt

“Cái xắc xinh xinh

Hai khổ thơ cuối láy lại khổ thơ thứ hai và khổ thơ thứ ba như một điệp khúc để khẳng định Lượm vẫn còn sống mãi với quê hương đất nước, sống mãi trong lòng tác giả. Bài thơ hết nhưng ý thơ lại mở ra vẫn còn tiếp nối mãi trong lòng người đọc hình ảnh một chú bé liên lạc hồn nhiên mà dũng cảm, đáng yêu và đáng cảm phục. Lượm vẫn còn công mãi trong lòng chúng ta như bài ca bất diệt về tuổi thơ trong sáng đã hiến dâng đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc.

Bài thơ gợi cho chúng ta thật nhiều suy nghĩ ,đó là hình ảnh một cậu bé liên lạc còn rất nhỏ nhưng những hành động sự dũng cảm hi sinh không tiếc thân mình và cả sự đáng yêu hồn nhiên trong tâm hồn cậu sẽ còn là những kỉ niệm sâu sắc không thể nào quên được của người đọc đối với cậu bé Lượm.

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 2

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 6

Khi đất nước có ngoại xâm, khi nền độc lập của dân tộc bị đe dọa bởi vó ngựa của quân xâm lược thì người Việt Nam lại vùng lên đấu tranh mạnh mẽ, dùng sức mạnh của mình để đánh bại dã tâm cũng như những âm mưu thâm độc, tàn bạo của kẻ thù. Và trong cuộc chiến đấu cam go, ác liệt đó người dân Việt Nam đều đồng khởi nổi dậy đấu tranh chống giặc, không chỉ những người trai tráng khỏe mạnh mà ngay cả những người phụ nữ, những người già cũng đứng lên đấu tranh. Mà đặc biệt hơn nữa, ngay cả những đứa trẻ Việt Nam, khi đất nước có chiến tranh cũng mang lòng căm thù và quyết tâm giúp sức cho cách mạng. Và hình ảnh của những chú bé liên lạc viên này được nhà thơ Tố Hữu tái hiện sống động qua bài thơ “Lượm”.

Dù tuổi đời còn nhỏ nhưng những chú bé này đã có những nhận thức sâu sắc về thực trạng của đất nước mình, cũng từ đó mà mang quyết tâm đấu tranh, góp sức vào công cuộc giải phóng đất nước, quê hương. Vì còn nhỏ nên những chú bé này không thể cầm súng ra trận địa đấu tranh trực tiếp với quân giặc mà làm những công việc đơn giản nhưng cũng không kém phần nguy hiểm, đó là những chú bé liên lạc viên, là người truyền báo tin tức cho quân ta từ vùng này sang vùng kia, trận địa này sang trận địa kia. Ta cũng phải thấy được đây là công việc rất nguy hiểm bởi tính bảo mật của thông tin cũng như việc phải đương đầu với sự giám sát của kẻ thù. Trước hết, nhà thơ Tố Hữu đã kể lại cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ của chính nhà thơ với cậu bé này:

“Ngày Huế đổ máu

Chú Hà Nội về

Tình cờ chú cháu

Gặp nhau Hàng Bè”

Sau khi kể về cuộc gặp gỡ tình cờ với chú bé liên lạc viên, nhà thơ Tố Hữu đã đi đến khắc họa vóc dáng cũng như thần thái hồn nhiên, vô tư của một cậu bé:

Cái sắc xinh xinh

Đó là một chú bé liên lạc ở độ tuổi khá nhỏ, nhà thơ tuy không trực tiếp khắc họa về độ tuổi cũng như dự đoán về độ tuổi của cậu bé này nhưng qua dáng vẻ mà nhà thơ đã khắc họa ta có thể thấy được đây là một cậu bé còn rất vô tư, hồn nhiên, thể hiện ở ngay cái dáng vẻ “loắt choắt”, đôi chân nhanh nhẹn “thoăn thoắt” trên đường. Và cái vẻ hồn nhiên của cậu bé còn thể hiện ở sự vô tư, yêu đời của cậu bé “Cái đầu nghênh nghênh”, câu thơ vừa thể hiện được vẻ hồn nhiên vừa thể hiện được sự tò mò của cậu bé về thế giới xung quanh, cũng thể hiện sự vô tư, không hề có sự lo sợ hay mảy may lo lắng gì về cuộc sống chiến trường xung quanh mình:

“Ca lô đội lệch

Nhảy trên đường vàng”

Vẻ nghịch ngợm của cậu bé Lượm này còn thể hiện ngay trong cái dáng đội mũ của mình, chiếc mũ ca lô không được đội một cách nghiêm chỉnh mà bị làm cho lệch đi, có thể đây là do cậu bé cố tình đội như vậy hoặc do mải mê vui đùa trên đường làm nhiệm vụ mà chiếc mũ vô tình bị gió làm cho lệch. Trái hẳn với tính chất công việc, cậu bé Lượm lúc nào cũng yêu đời, cậu hút sáo, chân chạy nhảy như con “chim chích” trên đường. Trong không khí dữ dội của chiến tranh vào thời điểm mà bài thơ được ra đời, hình ảnh yêu đời vô tư, ngây thơ của cậu bé thật gần gũi, chân thực gợi cho người đọc cảm giác đây là một đứa trẻ đang vui chơi chứ không phải làm nhiệm vụ.

Chú bé Lượm cũng có cái vẻ lém lỉnh, hài hước đúng với tính chất lứa tuổi của mình, khi gặp tác giả cậu bé đã cười híp mắt, đôi má thì đỏ “bồ quân” và chào nhà thơ bằng lời chào của những người đồng chí thực thụ, nhưng ta vẫn cảm nhận được sự trẻ con trong câu chào ấy: “Thôi, chào đồng chí”. Dù nghịch ngợm ấy, lém lỉnh đấy nhưng chú bé này không bao giờ quên nhiệm vụ mà mình đã được giao, không vì mải mê vui chơi mà quên mất việc đưa tin của mình “Cháu đi đường cháu”.

“Vụt qua mặt trận

Thư đề “Thượng khẩn”

Nhìn dáng vẻ trẻ con, hồn nhiên của Lượm ai nghĩ được cậu bé có thể hoàn thành được nhiệm vụ khó khăn của mình. Nhưng đến câu thơ này vẫn hình ảnh vô tư hồn nhiên ấy, nhưng Lượm lại hiện lên như những người chiến sĩ giả phóng quân thực thụ, dù không khí mưa bom bão đạn xung quanh, mạng sống có thể mất bất cứ lúc nào nhưng cậu bé không hề sợ, không phải cậu bé không sợ chết mà vì thư cậu bé đang mang có đề “Thượng khẩn” tức là những thông tin mật rất gấp rút không thể chậm chễ vì vậy mà cậu bé bất chấp lao vào vòng đạn đạo “Sợ chi hiểm nghèo”. Những hành động của chú bé Lượm khiến người đọc không thôi cảm phục vì còn nhỏ nhưng chí khí lại không nhỏ chút nào.

“Bỗng lòe chớp đỏ

Thôi rồi Lượm ơi!

Một dòng máu tươi”

Khổ thơ này nhà thơ Tố Hữu thể hiện sự bàng hoàng trước sự ra đi của chú bé Lượm, đó là khi nhà thơ chứng kiến cảnh Lượm bị trúng đạn địch và ra đi. Hình ảnh “dòng máu đỏ tươi” thật gây ám ảnh. Nó không chỉ làm cho nhà thơ mà cả người đọc cũng hết sức bàng hoàng, thương xót đến cực hạn, hình ảnh chú bé ngây thơ, yêu đời nằm đó, trên những bông lúa thật gây xúc động, đánh động vào tâm can của người đọc:

Hồn bay giữa đồng”

Vậy là chú bé Lượm đã ra đi, sự hồn nhiên yêu đời của chú bé chỉ còn lại trong hồi ức của nhà thơ cũng như trong tâm trí của người đọc. Hình ảnh Lượm nằm trên lúa khiến cho người đọc rơi nước mắt vì thương cảm, đau lòng vì chú bé đáng yêu ấy đã hi sinh sinh mạng bé nhỏ của mình, đó là sự dâng hiến cho quê hương, cho đất nước, dù có mất đi rồi thì hồn của cậu bé vẫn vương vấn nơi cánh đồng thơm mùi lúa. Dù mất đi rồi thì Lượm vẫn cậu bé Lượm mãi sống trong tâm trí của người đọc, đó là một hình ảnh thật đẹp.

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 8

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 2

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thiếu nhi Việt Nam hăng hái làm theo lời dạy của Bác Hồ: Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, Tuỳ theo sức của mình. Nhiều bạn đã hi sinh tuổi thơ trong sáng cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền độc lập, tự do của dân tộc. Hình ảnh chú bé liên lạc hồn nhiên, dũng cảm trong bài thơ Lượm của Tố Hữu đã Đềlại trong em niềm cảm phục sâu sắc.

Lượm theo bộ đội làm liên lạc hồi đầu kháng chiến (cuối năm 1946). Lúc này, Pháp chưa đánh rộng ra, Quân ta đóng ở đồn Mang Cá, một cứ điểm quan trọng của Huế. Trong một trận tấn công vào đồn giặc, Lượm hi sinh. Tác giả biết tin, vô cùng xúc động và đã sáng tác nên bài thơ này (1949).

Bằng cách kết hợp miêu tả với kể chuyện và biểu hiện cảm xúc, nhà thơ đã khắc hoạ sinh động hình ảnh chú bé Lượm hồn nhiên, vui tươi, hăng hái và dũng cảm. Thể thơ bốn chữ cùng với nhiều từ láy có giá trị gợi hình và giàu âm điệu đã góp phần tạo nên thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật.

Mở đầu bài thơ, tác giả dựng lại khung cảnh buổi gặp gỡ đáng nhớ giữa hai chú cháu:

Ngày Huế đổ máu

Tinh cờ chú, cháu

Gặp nhau Hàng Bè.

Cuộc gặp gỡ đáng nhớ bởi nó diễn ra trong thời gian, không gian đặc biệt: Ngày Huế đổ máu. Huế đổ máu, Huế chiến đấu ác liệt Đềngăn chặn bàn chân xâm lược của giặc Pháp vì chúng muốn chiếm lại nước ta. Ngày ấy là ngày mọi người không thể nào quên. Hoàn cảnh điển hình đó càng tô đậm thêm tính cách của nhân vật Lượm.

Trang phục của Lượm giống như trang phục của các chiến sĩ Vệ quốc bởi Lượm cũng là một chiến sĩ thực sự. Nhưng Lượm còn rất bé nên cái xắc đeo bên mình cũng chỉ xinh xinh. Chiếc mũ ca lô đội lệch bộc lộ vẻ tinh nghịch và hiếu động.

Lượm được nhà thơ miêu tả với tấm lòng yêu mến chân thành:

Nhảy trên đường vàng…

Dáng Lượm loắt choắt, đã nhỏ lại gầy nhưng nhanh nhẹn và tinh nghịch. Chân thì thoăn thoắt, rất nhanh và rất nhẹ. Đầu nghênh nghênh, lúc nghiêng bên này, lúc nghiêng bên kia. Nhịp thơ nhanh gợi lên hình ảnh chú bé vui tươi, nhí nhảnh, yêu đời. Đặc điểm bên ngoài phần nào đã thể hiện tính cách bên trong của Lượm. Ca lô không chịu đội thẳng mà đội lệch. Miệng luôn huýt sáo vang. Lượm chẳng khác nào như con chim chích bé nhỏ nhảy trên đường vàng.

Lượm hồn nhiên kể chuyện:

– Cháu đi liên lạc

Thích hơn ở nhà!

Bấy giờ, cái gian khổ của kháng chiến trường kì chưa tới. Mọi người đang sống trong không khí phấn khởi hào hứng của độc lập, tự do sau Cách mạng tháng Tám. Cái vui của Lượm bắt đầu từ niềm vui của đất nước, của dân tộc. Lượm vui trong lòng, vui ngoài nét mặt, dáng điệu, cử chỉ, lời nói. Tưởng chừng cái xắc cũng vui lây, cũng nhún nhảy theo nhịp chân của chú bé. Đeo xắc là dấu hiệu của người làm cán bộ. Lượm thấy oai lắm, ra vẻ lắm nên tỏ ra rất tự hào. Giống như các bạn cùng lứa tuổi, Lượm rất hiếu động. Đặc điểm này đã được hướng vào những công việc có ích cho kháng chiến. Hình ảnh Lượm lúc chia tay tác giả thật đẹp và đầy sức sống:

Cháu cười híp mí

Má đỏ bồ quân

Cả câu: Thôi chào đồng chí! cũng mang dấu ấn của niềm vui. Lượm chào chú bằng đồng chí, rất tinh nghịch, dí dỏm, mà cũng rất nghiêm túc, bởi Lượm đã tham gia kháng chiến, cùng chung lí tưởng cách mạng. Đoạn thơ dùng thể thơ bốn chữ, nhịp nhanh, cùng nhiều từ láy (loắt choắt, thoăn thoắt, nghênh nghênh,… ) góp phần thể hiện hình ảnh Lượm – một em bé liên lạc hồn nhiên, vui tươi, say mê tham gia công tác kháng chiến thật đáng mến, đáng yêu.

Kỉ niệm về cuộc gặp gỡ với chú bé liên lạc còn tươi nguyên trong lòng nhà thơ thì bỗng dưng có tin chẳng lành. Câu thơ bình thường bỗng nhiên bị ngắt làm đôi. Âm điệu ngập ngừng và dấu chấm than thể hiện tâm trạng ngạc nhiên và xúc động đến bàng hoàng. Tác giả hình dung ra tình huống hi sinh của Lượm thật cụ thể. Cũng như bao lần đi làm nhiệm vụ, Lượm dũng cảm, nhanh nhẹn, hăng hái và đầy quyết tâm, không nề nguy hiểm:

Một hôm nào đó

Vụt qua mật trận

Thư đề “Thượng khẩn”

Sợ chi hiểm nghèo?

Chiến trường đầy khói lửa nhưng Lượm vẫn xông pha làm nhiệm vụ. Bỗng loè chớp đỏ, Thôi rồi, Lượm ơi! Kể lại, hình dung lại sự việc mà tưởng chừng như tác giả đang tận mắt chứng kiến cái giây phút đau đớn ấy nên không kiềm chế được, tự đáy lòng bật thốt lên tiếng kêu đau đớn. Câu thơ như tiếng nấc nghẹn ngào đầy xót thương và cảm phục của tác giả, của chúng ta trước cái chết bất

ngờ của người chiến sĩ nhỏ. Chú bé đã hi sinh anh dũng giữa tuổi thiếu niên hồn nhiên, tươi trẻ đầy hứa hẹn. Nhà thơ không dừng lâu ở nỗi đau xót mà ông cảm nhận rằng sự hi sinh của Lượm rất đỗi thiêng liêng, cao cả. Chú như một thiên thần bé nhỏ yên nghỉ trên cánh đồng quê hương và hoá thân vào đất mẹ:

Cháu nằm trên lúa

Hồn bay giữa đồng…

Bao quanh Lượm là sự sống mơn mởn đang lên. Hương lúa thơm như mùi sữa mẹ. Sự hi sinh của Lượm vô cùng nhẹ nhàng, thanh thản. Câu thơ: Hồn bay giữa đồng khẳng định tinh thần bất tử của Lượm. Lượm đã chết cho quê hương xứ sở. Câu thơ Lượm ơi, còn không? là một câu hỏi tu từ được tách ra thành một khổ thơ riêng có tác dụng nhấn mạnh, đặc tả nỗi đau đớn xót xa và niềm bâng khuâng, nhớ tiếc khôn nguôi của tác giả. Hai khổ thơ cuối lặp lại như một điệp khúc khắc sâu hình ảnh đẹp đẽ của Lượm trong tâm hồn mọi người:

Lượm là bài thơ hay trong số những bài viết về tuổi nhỏ Việt Nam hồn nhiên, dũng cảm. Em thấy Lượm rất xứng đáng với những gương sáng của thanh thiếu niên thế hệ trước như Lí Tự Trọng, Kim Đồng, Lê Văn Tám, Vừ A Dính, xứng đáng là đàn anh của những anh hùng dũng sĩ thiếu niên như Nguyễn Bá Ngọc, Kpa Klơng, Nguyễn Văn Hoà… thời đánh Mĩ.

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 8

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 5

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 8

Nhà thơ Tố Hữu sáng tác bài Lượm vào năm 1949, in trong tập thơ Việt Bắc. Bài thơ đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc hình ảnh Lượm, một em bé thiếu nhi hy sinh vì nhiệm vụ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Lượm là bài thơ tự sự – trữ tình kể về cuộc đời ngắn ngủi nhưng rất anh dũng của chu bé liên lạc, hồn nhiên, nhí nhảnh, yêu đời, dũng cảm đã ngã xuống để bảo vệ sự bình yên cho chính mảnh đất quê hương mình. Hình ảnh nhân vật Lượm xuyên suốt trong bài thơ. Trong năm khổ thơ đầu, bằng cái nhìn trìu mến thân thương, tác giả đã miêu tả một chú bé rất đáng yêu:

Nhảy trên đường vàng…

Nhắc đến Lượm, người đọc nhớ đến hai khổ thơ này, bởi đây là hai khổ thơ đầy ấn tượng về một chú bé liên lạc nhỏ nhắn, xinh xinh, nhanh nhẹn hồn nhiên, nhí nhảnh vui tươi. Những từ láy loát choắt, xinh xinh, thoăn thoát, nghênh nghềnh được dùng rất gợi hình gợi cảm, cùng với thể thơ bốn chữ và nhịp thơ nhanh, tạo âm hưởng vui tươi, nhí nhảnh rất phù hợp với một chú bé như Lượm. Một hình ảnh so sánh đẹp như con chim chích – nhảy trên đường vàng… gợi lên trước mắt chúng ta một chú bé hồn nhiên yêu đời. Thật thú vị! Nhà thơ Lê Đức Thọ cũng có bài thơ Em bé liên lạc, ông cũng hình dung em như một con chim non vui tươi ở những câu kết:

Ngày mai trên quãng đường trắng

Có em bé lại dẫn đường bên anh.

Miệng cười chân bước nhanh nhanh,

Như con chim nhỏ trên cành vui tươi.

Có lẽ không còn hình ảnh nào có thể thay thế cho được hình ảnh con chim nhỏ và chỉ có hình ảnh này mới thể hiện được vẻ đẹp trẻ thơ của chú bé liên lạc. Bao trùm lên tất cả là cái tình của nhà thơ, cái nhìn trìu mến, thân thương của tác giả đối với chú bé. Phải yêu quí Lượm lắm thì mới miêu tả Lượm hay đến như vậy! Người đọc yêu biết bao cái cười híp mí, má đỏ bồ quân của chú, nhưng càng yêu hơn niềm vui được tham gia kháng chiến của chú bé:

Cháu đi liên lạc

Nhà thơ miêu tả Lượm vui như con chim sổ lồng. Cái ý đi làm liên lạc thích hơn ở nhà, đúng là niềm vui của con chim sổ lồng. Đó là niềm vui chung của cả thế hệ trẻ sau Cách mạng tháng Tám, chứ không riêng gì của chú bé Lượm

Đáng yêu hơn là tiếng chào: Thôi chào đồng chí vừa tinh nghịch dí dỏm, lại vừa đứng đắn nghiêm trang, bởi em đã tham gia kháng chiến như mọi người, như chú của em vậy. Trong tiếng chào ấy ta thấy vang lên một niềm tự hào kiêu hãnh rất trẻ con, và rất đáng yêu-của Lượm.

Ấn tượng của cuộc gặp gỡ vẫn còn giữ nguyên vẹn nét đẹp đẽ, vui tươi, ấm áp trong lòng tác giả, thì bỗng nhiên có tin Lượm hy sinh. Câu thơ bốn tiếng được ngắt làm hai dòng, bị gãy đôi như một tiếng nấc:

Ra thế

Lượm ơi!…

Đó là nỗi sửng sốt, xúc động đến nghẹn ngào. Và nhà thơ hình dung ngay ra cảnh tượng chú bé hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ:

Thư đề “thượng khẩn”

Để rồi lại nghẹn ngào gọi em một lần nữa:

Bỗng lòe chớp đỏ

Một dòng máu tươi!

Lượm đã hy sinh anh dũng như một chiến sĩ thực thụ ở trên, nhà thơ còn gọi em bằng cháu, và ở đây khi kể lại cảnh Lượm hy sinh. Tố Hữu đã gọi chú bàng những lời xưng hô trang trọng: Chú đồng chí nhỏ và có tới hai lần gọi như thế. Việc làm của em, sự hy sinh cao đẹp của em khiến em xứng đáng được nhà thơ gọi như thế. Phải chăng đó là lòng cảm phục của một cán bộ cách mạng đối với một em thiếu nhi anh hùng.

Nhưng rồi cuối cùng, tình cảm công dân ấy lại quay về tình chú – cháu. Nhà thơ lại gọi Lượm bằng tiếng cháu thân thương khi miêu tả cái chết đẹp đẽ của em giữa đồng lúa quê hương:

Hồn bay giữa đồng…

Cánh đồng quê hương như vòng nôi, như vòng tay của mẹ, ấm êm dịu dàng đón em vào lòng. Em chết mà tay vẫn nắm chặt bông lúa, quê hương và hương lúa vẫn bao bọc quanh em như ru em vào giấc ngủ đẹp của tuổi thơ anh hùng. Em chết mà hồn bay giữa đồng, vừa thiêng liêng vừa gần gũi biết bao! Không yêu mến, xót thương, cảm phục Lượm thì không thể miêu tả một cái chết hồn nhiên và lãng mạn đến như thế! Đó là cái chết của những thiên thần nhỏ bé. Thiên thần nhỏ bé ấy đã bay đi để lại bao tiếc thương cho chúng ta, như Tố Hữu đã nghẹn ngào, đau xót gọi em lần thứ ba bằng một câu thơ day dứt:

Lượm ơi còn không?

Câu thơ đứng riêng thành một khổ thơ, như một câu hỏi xoáy sâu vào lòng người đọc. Nếu không có cái tình với Lượm thì nhà thơ làm sao lại day dứt thế được! Câu hỏi ngân vang ấy, tưởng chừng như không có câu trả lời, nhưng chính tác giả đã trả lời bằng hai khổ thơ cuối khép lại bài thơ:

Nhảy trên đường vàng.

Với thể thơ bốn chữ, một thể thơ dân gian truyền thống phù hợp với lối kể chuyện có nhịp kể nhanh. Với cách ngắt đôi câu thơ đột ngột, và nghệ thuật tách câu thơ thành một khổ thơ riêng rất độc đáo, kết hợp với cách sử dụng câu hỏi tu từ, câu cảm thán… Lượm thật sự là một bài thơ hay, cảm động về một tấm gương bé bỏng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 3

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 5

Tố Hữu là một nhà thơ xuất sắc trên nền trời văn học Việt Nam. Ông đã để lại cho đời sau một khối lượng tác phẩm đồ sộ với những bài thơ khác nhau. Đối với lứa tuổi học sinh thì chắc hẳn ai cũng biết tới bài “lượm” do ông sáng tác. Bài thơ đã mang lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về hình ảnh chú lượm nhanh nhẹn, dũng cảm trong cuộc kháng chiến chống pháp.

Mở đầu cho bài thơ thì hình ảnh chú lượm được tác giả miêu tả một cách chân thực và rõ nét:

Nhảy trên đường vàng… ”

Hình ảnh lượm hiện lên thật là đẹp, chú còn rất bé, bé loắt choắt lại mang bên mình một chiếc xắc xinh xinh để đi làm công tác nhiệm vụ phục vụ kháng chiến. Nhiệm vụ của cậu bé đó chính là người mang thư,dường như cậu bé rất vui và tự hào khi mình được phục vụ kháng chiến. Không những vậy, cái đầu của chú lúc nào cũng nghênh nghênh kết hợp với đôi chân thoăn thoắt, mũ cano thì đội lệch ra dáng của một người đưa thu liên lạc. Đến đây cậu bé toát lên là một người nhỏ nhắn nhưng lại rất nhanh nhẹn khi ở độ tuổi còn quá trẻ.

Khi vào trận chiến mặc dù cậu chỉ là một người đưa thư nhưng việc này rất quan trọng và yêu cầu hoạt bát nhanh nhẹn, vậy cho nên nhìn cậu giờ đây rất nhanh nhẹn, vui vẻ vì được giao nhiệm vụ, hình ảnh cậu bé khiến cho mọi người ai cũng ngưỡng mộ và đáng phải học tập.

Lượm đi liên lạc mà cảm thấy vui ở trong lòng, vui từ nét mặt và cử chỉ. Tưởng chừng như cái xắc cậu mang bên mình cũng vui và nhún nhảy theo nhịp chân của chú bé. Đeo xắc là dấu hiệu của một người làm cán bộ, và lượm cảm thấy tự hào vì điều này. Khi chia tay với tác giả hình ảnh ấy hiện lên thật vô tư và hồn nhiên biết bao nhiêu:

“Cháu cười híp mí

Câu chuyện của chú Lượm trong chuyến liên lạc cuối cùng được kể qua lời của người kể chuyện với những cảm xúc đau xót, tiếc thương và tự hào được biểu hiện lên trực tiếp và cả qua cách nhìn, cách miêu tả. Khi nghe tin chú lượm hi sinh tác giả đã đau đớn mà thốt lên:

Những kỉ niệm đẹp đẽ của tác giả về chú lượm vẫn còn hằn sâu thì bỗng dưng nghe tin chẳng lành. Dấu chấm than thể hiện tâm trạng ngạc nhiên và xúc động tới bàng hoàng. để tưởng nhớ về người chiến sĩ liên lạc ấy thì cuối bài thơ hình ảnh chú lượm tinh nghịch hồn nhiên lại một lần nữa được hiện lên trong khổ cuối cùng của bài thơ.

Câu thơ như muốn nói rằng lượm vẫn sống trong lòng quê hương đất nước và luôn sống mãi trong lòng của tác giả. Bài thơ hết ý nhưng lại có thể mở ra như tiếp nối về một hình ảnh đẹp hồn nhiên ngây thơ của chú bé.

Bài thơ đã gợi lên cho chúng ta thật nhiều những suy nghĩ về một hình ảnh cậu bé liên lạc tuy là còn nhỏ tuổi nhưng lại có những hành động dũng cảm không tiếc thân hình. Đó là những hình ảnh khó quên về cậu bé Lượm.

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 3

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 4

Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm số 3

Viết về những gương thiếu nhi Việt Nam anh hùng, bài thơ Lượm của Tố Hữu được xem là một tác phẩm đặc sắc nhất của nền thi ca kháng chiến. Tác phẩm đã khắc họa thành công hình ảnh một em bé hồn nhiên, tinh nghịch yêu đời nhưng cũng vô cùng dũng cảm, kiên cường. Gấp cuốn sách lại có lẽ không ai có thể quên được chân dung, tính cách, phẩm chất quý báu của cậu bé ấy.

Sau khi miêu tả vẻ đẹp ngoại hình và tâm hồn trong sáng đáng yêu của Lượm, nhà thơ đã viết nên những vần thơ tuyệt đẹp ca ngợi tinh thần chiến đấu hy sinh và phầm chất anh hùng của chú đội viên liên lạc. Hình ảnh Lượm bỗng “cao lớn” phi thường:

Thư đề: “Thượng khẩn”

Sợ chi hiểm nghèo?.

Giữa mặt trận đạn bay vèo vèo, chú liên lạc đã xông lên vượt qua, vụt qua. Hai chữ vụt qua thể hiện động tác chiến đấu nhanh nhẹn, quả cảm vô cùng. Không thể do dự và chậm trễ khi đang mang trên mình bức thư thượng khẩn. Vì nó là mệnh lệnh chiến đấu. Câu thơ sợ chi hiểm nghèo? vang lên như một lời thách thức, như một lời thề chiến đấu coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Người chiến sĩ nhỏ khác nào “một tiên đồng” đang dạo chơi trên đồng lúa trỗ đòng đòng. Từ láy “nhấp nhô” gợi tả một tư thế hồn nhiên, bình tĩnh của chú liên lạc trên đường băng qua mặt trận đầy khói lửa:

Đường quê vắng vẻ

Lúa trỗ đòng đòng

Ca lô chú bé

Nhấp nhô trên đồng….

Nhà thơ như đang “nín thở” dõi theo. Và Lượm đã ngã xuống. Câu thơ có lửa và máu, có lời than và nỗi đau. Hai câu cảm thán liên tiếp như tiếng nấc đau đớn cất lên:

Thôi rồi, Lượm ơi!

Một dòng máu tươi!.

Lượm đã chiến đấu vì quê hương. Lượm đã hy sinh vì quê hương. Lượm đã tử thương nhưng tay chú còn nắm chặt bông lúa. Lượm đã ngã xuống nhưng hồn chú vẫn bay giữa đồng lúa thơm ngạt ngào mùi sữa:

Hồn bay giữa đồng.

Đây là những câu thơ hay nhất nói về sự hy sinh của người chiến sĩ trên chiến trường. Tố Hữu đã sáng tạo nên một không gian nghệ thuật có hương lúa quyện hồn chiến sĩ vừa thân thuộc vừa bình dị, vừa bát ngát thiêng liêng. Chú đội viên liên lạc đã ngã xuống trong tư thế người anh hùng tuổi thiếu niên!.

Phần cuối bài thơ, Tố Hữu nhắc lại tám câu thơ ở đoạn đầu. Cấu trúc ấy được thi pháp gọi là “đầu – cuối tương ứng” hoặc kết cấu vòng tròn. Trong bài thơ này, cấu trúc ấy có một giá trị thẩm mĩ đặc sắc. Chú đội viên liên lạc đã anh dũng hy sinh ngoài mặt trận, nhưng tinh thần yêu nước, chí khí dũng cảm và tên tuổi người anh hùng tuổi thiếu niên vẫn bất tử, sống mãi trong lòng nhân dân ta. Có cái chết hoá thành bất tử, đó là sự hy sinh oanh liệt của Lượm. Tấm gương anh hùng của Lượm sáng mãi ngàn thu.

Đăng bởi: Đời Là Vô Thường

Từ khoá: 8 Bài văn cảm nhận về nhân vật Lượm trong “Lượm” của Tố Hữu lớp 6 hay nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nhận Của Nhiều Người Về Đà Nẵng Tựa Như Singapo Thu Nhỏ trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!