Xu Hướng 2/2024 # Làm Văn Hay: Thuyết Minh Về Chiếc Áo Dài Việt Nam # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Làm Văn Hay: Thuyết Minh Về Chiếc Áo Dài Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hướng dẫn giải đề văn thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam. Đề văn nằm trong chương trình ngữ văn thuộc văn thuyết minh. Với đề bài này nhiều bạn còn thắc mắc và chưa biết cách làm như thế nào. Đừng lo, chúng tôi có các bài văn mẫu bên dưới sẽ giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc viết tập làm văn và có kết quả tốt trong tiết kiểm tra.

Bài văn thuyết minh về chiếc áo dài

Bài số 1

Việt Nam nhắc đến là nhớ ngay đến hình ảnh nón lá và tà áo dài duyên dáng, chiếc áo dài gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam duyên dáng, yêu kiều và tinh tế được nhiều bạn bè trên thế giới biết đến.

Áo dài trang phục truyền thống lâu đời của Việt Nam, áo dài thường kết hợp cùng vớí nón quai thao, nón lá hay là khăn đóng. Sử dụng trong các ngày lễ long trọng, lễ hội có sự tham gia của nhiều người.

Trải qua thời gian, chiếc áo dài Việt đã có nhiều cách tân kiểu nhưng chiếc áo dài vẫn giữ được những nét đặc trưng của sự kín đáo, tinh tế trong văn hóa việt trở thành bộ lễ phục không thể thiếu của các bà các cô mặc trong các dịp lễ đặc biệt.

Áo dài là trang phục có sự kín đáo. Cổ áo cổ điển cao khoảng 4 đến 5cm, ngày nay áo dài được thiết kế đa dạng hơn với kiểu trái tim, cổ tròn, cổ chữ U. Thân áo được tính từ cổ xuống phần eo. Cúc áo dài thường từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông. Thân áo dài xẻ làm hai tà ở hai bên hông. Áo dài có hai tà: tà trước và tà sau. Tay áo may ôm sát cánh tay, dài đến qua khỏi cổ tay. Thân áo may sát vào thân người. Khi mặc áo ôm vào người tạo nên đường cong gợi cảm.

Quần áo dài được may chấm gót chân, ống quần rộng. Quần áo dài thường được may với vải mềm, rũ. Màu sắc chủ yếu đó là màu trắng với chất liệu mềm, nhẹ, thoáng mát.

Áo dài mặc trong nhiều nơi, với tà áo trắng rập rờn trong sân trường thuần khiết và dễ thương. Trong ngày lễ ăn hỏi, cô dâu  diện những chiếc áo dài đỏ làm cho không khí buổi lễ thêm ấm cúng đậm chất truyền thống. Các buổi lễ, tiếp khách, quý bà, quý cô mặc những chiếc áo dài lịch sự lại sang trọng. Chiếc áo dài mà người phụ nữ Việt Nam đó là trang phục gần gũi với người phụ nữ và trở thành trang phục đại diện cho nước nhà.

Ngày Tết hay lễ hội, đám cưới các bà, mẹ, chị, diện nhiều áo dài màu sắc đó là tấm lòng thành kính đối với lễ hội tham gia. Chiếc áo dài tôn vinh không chỉ đường nét trên cơ thể mà còn biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay.

Chiếc áo dài duyên dáng, dịu dàng dù đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm đã trở thành một biểu tượng của vẻ đẹp của người con gái Việt Nam, quốc phục mà quốc tế nhiều người biết đến. Áo dài cũng là trang phục cần được nâng niu và giữ gìn đến thế hệ mai sau.

Bài số 2

Trên thế giới mỗi dân tộc đều có những bộ trang phục dân tộc riêng. Với Nhật Bản họ có trang phục Ki-mo-no,  người Ấn Độ thì có Xa-din. Còn với con người Việt Nam, chúng ta có tà áo dài nhẹ nhàng và thanh thoát đó chính là niềm tự hào của mỗi con người Việt Nam.

Áo dài chưa ai biết được nguồn gốc chính xác, nhưng áo dài đã có từ rất lâu rồi thì hình ảnh chiếc áo dài được tìm thấy ở các hình ảnh khắc trống đồng Ngọc Lũ. Trước kia thì áo dài giống như áo tứ thân khi mặc hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại, sau nàyđược cải tiến trở thành chiếc áo ngũ thân phía trước có 3 vạt để các cô các bà mặc trong các lễ hội.

Ngày nay thì các nhà thiết kế thời trang sáng tạo ra nhiều kiểu áo dài khác sử dụng các chất liệu vải tốt như lụa, ren, gấm. Tà áo được trang trí bằng nhiều họa tiết khác nhau mang lại vẻ đẹp riêng cho trang phục, điều này không hề cầu kỳ mà ngược lại nó tạo dáng yểu điêu thướt tha cho người phụ nữ. Muốn mặc chiếc áo dài thanh thoát, duyên dáng hơn thì người con gái có thể đi kèm với một số nữ trang như giày cao gót, guốc, đeo vòng cổ, hoa tai… Ngày nay, tùy thuộc lứa tuổi mà lựa chọn màu sắc phù hợp, với nữ sinh thường mặc áo dài màu trắng trong các buổi đến trường, tổ chức sự kiện…tham gia các lễ hội thi áo dài có thể màu vàng, đỏ, xanh…

Chiếc áo dài đang là quốc phục của nước ta, xuất hiện nhiều trong những ngày đại lễ của đất nước. Trong trường học thì chiếc áo dài trắng là những bộ đồng phục của tuổi học trò. Vào lễ hội, các bà, các cụ vẫn thường mặc áo dài tham gia các sự kiện, hình ảnh thiếu nữ xuất hiện trong chiếc tà áo dài thật duyên dáng và lỗng lẫy. Chiếc áo dài vừa lịch sự kín đáo vừa lộng lẫy, không hề thua kém bất kỳ trang phục nào khác.

Chiếc áo dài là biểu tượng người phụ nữ Việt Nam gần gũi, giản dị quốc phục của con người Việt. Trong tương lai dù chiếc áo dài có thế nào thì nó vẫn gắn bó trong tiềm thức của người dân về trang phục đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Bài Liên Quan:

Điều hướng bài viết

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Chiếc Mũ Bảo Hiểm 3 Dàn Ý & 17 Bài Văn Văn Hay Lớp 8

Mũ bảo hiểm cũng có nhiều hãng sản xuất, nhiều kiểu dáng, màu sắc khác nhau, nhưng chức năng chung là bảo vệ phần đầu của con người khi tham gia giao thông. Cách sử dụng mũ bảo hiểm vô cùng đơn giản, chỉ cần đội mũ lên và cài quai là được. Mời các em cùng theo dõi bài viết:

I. Mở bài:

Nhịp sống của con người càng trở nên hối hả khi phương tiện giao thông ngày càng cải tiến, hiện đại.

Thực trạng tai nạn giao thông vẫn đe dọa tính mạng của con người, chiếc mũ bảo hiểm ngày càng trở nên quan trọng và gắn bó với cuộc sống của con người.

II. Thân bài:

* Lịch sử của chiếc mũ bảo hiểm:

Mũ bảo hiểm xuất hiện từ ngàn năm trước, lúc đầu được làm bằng da rồi dần thay thế bằng kim loại bằng sắt được dùng cho binh lính trong các cuộc chiến tranh.

Vào khoảng năm 1200 thì mũ hoàn toàn làm bằng sắt với những hình dáng khác nhau bằng hình trụ hình chóp thẳng.

Thời trang cổ mũ được làm bằng thép nhẹ che được cả phần cổ.

Ngày nay thì người ta sử dụng chiếc mũ bảo hiểm rộng rãi trong cuộc sống chứ không đơn thuần là dùng để trang bị cho binh lính mà nó được làm bằng chất lượng nhựa siêu bền.

* Cấu tạo của chiếc mũ bảo hiểm gồm:

Lớp vỏ ngoài cùng: cứng được làm bằng nhựa siêu bền và thường được phủ một lớp bóng với nhiều màu sắc, kích thước hình dáng đa dạng, phong phú phù hợp với thị yếu người tiêu dùng.

Lớp lót bên trong thường được làm bằng vật liệu mềm xốp.

Quai có khóa cài chắc chắn để cố định mũ, ngoài ra mũ bảo hiểm có kính để che gió trong suốt phía trước có thể gập lên trên đỉnh mũ hoặc tháo rời ra.

* Cách thức và hoàn cảnh sử dụng.

Sử dụng khi tham gia giao thông khi làm việc ở ngoài công trình

Đội mũ lên đầu, mũ vừa phải ôm sát lấy đầu, khi đội mũ phải cài khóa, khóa phải vừa sát cằm không quá rộng và cũng không quá chặt để chắn bụi, mưa gió người ta thường kéo kính chắn gió.

* Tác dụng:

Để giảm chấn động do va đập bảo vệ vùng đầu đặc biệt là não.

Dùng để chắn bụi mưa gió và bảo vệ mặt.

III. Kết bài:

Mũ bảo hiểm đã thực sự trở thành đồ dùng thiết yếu đối với con người.

I. Mở bài

Dẫn dắt giới thiệu vấn đề mà đề bài đề cập đến: Thuyết minh về chiếc mũ bảo hiểm.

II. Thân bài

* Nguồn gốc của mũ bảo hiểm

Thực ra chiếc nón bảo hiểm đã xuất hiện từ rất lâu rồi, có thể thấy từ trong những năm tháng chiến tranh chúng đã xuất hiện. Đó là tiền thân của chiếc mũ bảo hiểm hiện đại ngày nay.

Người ta đã tìm thấy những chiếc mũ cổ ở sâu dưới lòng đất, trong các ngôi mộ. Nếu như ai đã từng xem những bộ phim về Hy Lạp cổ đại, về các vị thần trên đỉnh Olympus thì ắt hẳn sẽ biết đến chiếc mũ có chóp nhọn ở trên đỉnh rất đặc trưng của người La Mã, Hy Lạp cổ đại.

Ban đầu thì chiếc mũ bảo vệ đầu của quân lính được làm bằng da, sau đó là làm bằng kim loại. Sau đó thì mũ được thay đổi bảo vệ cả khuôn mặt, chỉ để lộ ra phần mắt và mũi để thở. Thời gian dần trôi đi, những triều đại phong kiến phương Đông cũng đưa mũ bằng kim loại vào sử dụng trong quân đội. Đến chiến tranh thế giới thứ nhất thì Pháp đã coi mũ bảo hiểm chính là trang bị tiêu chuẩn cho người lính để các mảnh kim loại không bắn làm bị thương phần đầu trọng yếu. Sau đó thì các nước như Anh, Đức và nhiều nước châu Âu đã làm theo.

* Hình dáng và các bộ phận của mũ

Chiếc mũ bảo hiểm có hình tròn hay hình cầu để ôm lấy phần đầu của người sử dụng mũ. Mũ có 3 lớp gồm lớp vỏ ngoài, lớp vỏ thứ hai và lớp vỏ trong cùng; ngoài ra còn có dây quai, một số mũ có kính chắn gió, miếng lót cổ…

Lớp vỏ ngoài được làm từ nhựa cứng siêu bền với nhiều màu sắc khác nhau. Có những chiếc mũ còn được in lên hoa văn hay hình ảnh ngộ nghĩnh đáng yêu dành cho các bé nữa. Khiến chiếc mũ trở nên đẹp hơn rất nhiều.

Lớp vỏ thứ hai ngay sau lớp nhựa là một lớp xốp để giảm lực va chạm tác động. Còn lớp vỏ trong cùng là lớp vải mềm nhằm để lớp da đầu không bị tổn thương và đội lên cũng êm ái, dễ chịu hơn.

Quai đeo thường khá dài và có thể được kéo dài hay rút ngắn tùy ý. Chiếc quai mũ cũng như chiếc khóa cặp sách của trẻ em vậy. Phần khoá cài được làm từ nhựa còn phần dây được đan từ những sợi tổng hợp.

Kính chắn gió (nếu có) được làm từ nhựa trong suốt để người dùng có thể nhìn thấy đường đi dễ dàng.

* Phân loại mũ bảo hiểm

Mũ bảo hiểm nửa đầu: Như tên gọi của nó, chiếc mũ này chỉ bảo vệ nửa phần đầu trên vì để người dùng có thể lắng nghe được âm thanh mà phản xạ tránh đi kịp thời. Không chỉ vậy, trọng lượng nhẹ cùng kiểu dáng thời trang, giá cả rẻ nên được nhiều người ưa chuộng.

Mũ bảo hiểm có kính chắn gió: Chiếc mũ này có phần kính chắn gió có thể đẩy lên hoặc xuống. Lực lượng cảnh sát giao thông của nước ta hay sử dụng chiếc mũ này. Bởi khi có thêm kính thì kính sẽ cản lại gió, tránh để gió tạt vào mặt khiến chúng ta khó mở mắt quan sát đường.

Mũ bảo hiểm có lỗ thông gió: Lỗ thông gió này được thiết kế thêm ở phần sau đầu, đặc biệt dành cho phái nữ dùng khi buộc tóc. Lỗ thông gió sẽ giúp phần đầu không bị dính mồ hôi và khô thoáng hớn.

Mũ bảo hiểm ôm hết phần mặt: Loại mũ này thường được dùng cho các xe có phân khối lớn hay dân phượt là chủ yếu. Loại mũ này khá dày và bảo vệ phần đầu và cả phần mặt của người dùng rất tốt. Đồng thời chắn gió, giữ ấm cả khi trời lạnh.

* Công dụng của nón

Mũ bảo hiểm giúp bảo vệ phần đầu của chúng ta. Như tất cả đều biết thì phần đầu là phần cơ quan trọng yếu rất dễ bị tổn thương. Với lớp vỏ cứng, mũ giúp giảm sự va đập mạnh của các đồ vật hay do ngã xuống đường, từ đó là làm giảm nguy cơ bị tai nạn vùng đầu, chấn thương sọ não.

Từ ngày sử dụng mũ bảo hiểm thì tỉ lệ tử vong do bị tổn thương vùng đầu cũng đã giảm đi đáng kể. Đồng thời, mũ bảo hiểm với kiểu dáng và màu sắc đa dạng cũng khá là hợp thời trang.

* Cách sử dụng và bảo quản mũ bảo hiểm

Cách sử dụng mũ cũng vô cùng đơn giản. Chỉ cần đội mũ lên và cài quai là được. Nếu quai dài thì có thể chỉnh cho ngắn lại và nếu quai ngắn cũng có thể chỉnh cho dài ra sao cho vừa.

Mũ bảo hiểm chất lượng có giá thành cao hơn một chút nhưng lại bền và tốt hơn. Chiếc mũ đa số làm từ nhựa, vì vậy không nên đập quá mạnh mũ hay ném mũ đi.

III. Kết bài

Khái quát lại một vài suy nghĩ của bản thân về chiếc nón bảo hiểm, công dụng của mũ bảo hiểm.

1. Mở bài

Giới thiệu về chiếc mũ bảo hiểm

2. Thân bài

* Lịch sử phát triển:

Đến thời La Mã, những chiếc mũ bảo hiểm được đúc bằng đồng, có chóp nhọn và có thể che chắn cả phần mặt.

Thế kỉ XVI-XVII mũ bảo hiểm làm bằng théo nhẹ, có vành rộng.

Ngày nay, mũ bảo hiểm được cách tân và cải tạo để phục vụ nhu cầu sử dụng hàng ngày: Mũ được làm bằng nhựa, nhẹ, dễ sử dụng, dùng để bảo vệ đầu khi tham gia giao thông hay khi lao động.

* Cấu tạo của mũ bảo hiểm:

Vỏ mũ: Thường làm bằng nhựa cứng, có độ bền cao. Kích thước, màu sắc và họa tiết trên vỏ mũ ngày càng phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhiều đối tượng.

Ruột mũ: Làm bằng xốp nhẹ, bọc bên ngoài là lớp vải mềm tạo cảm giác dễ chịu, thoải mái khi đội.

Quai mũ: Dùng để cố định mũ với phần đầu của người sử dụng, có thể tùy ý điều chỉnh độ dài của quai mũ.

Kính mũ: Kính mũ được gắn bên ngoài vỏ mũ dùng để che nắng, mưa, bụi bẩn.

* Phân loại:

– Mũ bảo hiểm dùng trong giao thông:

Mũ bảo hiểm đội nửa đầu

Mũ bảo hiểm đội cả đầu

– Mũ bảo hiểm dùng trong lao động (Mũ bảo hộ)

* Cách sử dụng:

Sử dụng khi tham gia giao thông hoặc làm việc tại công trường, nhà máy.

Mũ cần vừa đầu, khi đội mũ phải cài khóa để cố định.

* Công dụng của mũ bảo hiểm:

Che mưa, nắng, bảo vệ mắt.

Giảm va đập, bảo vệ đầu, giảm nguy cơ chấn thương sọ não.

3. Kết bài

Khẳng định ý nghĩa của mũ bảo hiểm trong cuộc sống con người: Vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại, bảo vệ đầu, tránh những tác động ngoại lực lên đầu.

Nhịp sống của con người càng trở nên hối hả, tấp nập khi phương tiện giao thông ngày càng cải tiến hiện đại. Nhưng thực trạng tai nạn giao thông vẫn là mối đe dọa lớn đến tính mạng con người. Do đó chiếc mũ bảo hiểm trở nên quan trọng và gắn bó với cuộc sống con người.

Một chiếc mũ bảo hiểm thông thường có cấu tạo gồm ba lớp rất chắc chắn. Lớp thứ nhất là lớp chúng ta có thể nhìn thấy ngay bên ngoài – lớp vỏ. Đại đa số lớp vỏ của mũ bảo hiểm được làm bằng chất liệu nhựa rất cứng, trên bề mặt của lớp vỏ được phủ sơn với nhiều màu sắc khác nhau và in logo của nhà sản xuất.

Một số mũ bảo hiểm chuyên dùng cho trẻ em còn được trang trí rất sinh động với nhiều hình thù ngộ nghĩnh, chủ yếu để thu hút sự thích thú của “khách hàng nhí”. Ngoài ra còn có những dòng mũ bảo hiểm cao cấp sử dụng hợp kim nhôm hoặc hợp kim cacbon làm lớp vỏ bên ngoài để làm giảm trọng lượng của mũ, tạo sự thoải mái mà vẫn đảm bảo chức năng giữ an toàn cho người đội.

Lớp thứ hai là lớp quan trọng nhất – lớp mút xốp dày giữ vai trò giảm chấn động cho đầu khi gặp phải những va chạm mạnh bất thình lình. Lớp trong cùng cấu tạo từ một lớp lưới hoặc mút mỏng, thông thoáng hoặc có lỗ làm thoáng khí tạo cảm giác êm ái cho người sử dụng. Bên dưới là dây quai mũ được gắn với lớp vỏ cứng, cố định bằng ốc vít có tác dụng giữ mũ chặt vào đầu, khi bị ngã hay chịu một lực tác động thì mũ vẫn nằm yên trên đầu để bảo vệ đầu.

Dây mũ được làm bằng dây dù vừa rẻ vừa bền chắc. Để giúp cho việc đội mũ và tháo mũ được dễ dàng, nhà sản xuất có lắp thêm bộ phận dây cài. Bộ phận này gồm một phần gắn chặt với mũ được thiết kế khá chu đáo, có thể điều chỉnh độ dài ngắn của quai mũ phù hợp với kích cỡ đầu của từng người, một phần là móc khóa không cố định, có thể dễ dàng gắn vào khi cần và mở ra khi không sử dụng.

Trên mỗi sợi dây mũ còn có gắn một miếng cao su hay nhựa dẻo, phù hợp với vị trí cằm vừa để cố định mũ, vừa để bảo vệ cằm không bị tổn thương. Một số loại mũ bảo hiểm còn có từ 2 đến 3 lỗ thông gió để khi di chuyển sẽ tạo ra luồng gió làm thông thoáng khí trong mũ. Ở những nước có khí hậu nhiệt đới như nước Việt Nam ta thì các loại mũ có lỗ thông gió là loại thông dụng nhất vì khí hậu nóng ẩm mà phải đội mũ trong suốt chặng đường dài.

Dựa vào hình dáng bên ngoài ta có thể chia mũ bảo hiểm thành hai loại: loại bảo hộ toàn bộ phần đầu và loại bảo hộ nửa đầu. Loại bảo hộ nửa đầu ngày nay được người sử dụng ưa chuộng hơn vì độ gọn, nhẹ, đẹp, hợp thời trang và tiện ích của chúng. Tuy nhiên, so với loại bảo hộ toàn phần đầu thì nón bảo hiểm nửa đầu có mức độ bảo vệ thấp hơn. Các nhà sản xuất có uy tín cũng tập trung chú ý sản xuất các mặt hàng mũ bảo hiểm toàn phần đầu nhiều hơn.

Mũ bảo hiểm toàn phần đầu có thêm tấm kính trong suốt phía trước giúp ngăn chặn bụi bẩn, giảm áp lực của gió tạt vào mặt người dùng khi tham gia giao thông. Một chiếc mũ bảo hiểm đảm bảo chất lượng có giá từ vài trăm trở lên. Tuy nhiên, hiện nay, một số nhà sản xuất chỉ chú trọng vào mục đích lợi nhuận mà không quan tâm đến tính mạng con người đã tung ra thị trường những loại mũ bảo hiểm kém chất lượng với giá rất rẻ đánh vào tâm lý người dùng Việt Nam.

Đây là một hành động phi nhân đạo, cần phải có những biện pháp xử lý nghiêm minh, thích đáng. Mỗi người cần có ý thức tự bảo vệ bản thân, đừng vì giá rẻ, lợi ích trước mắt mà lựa chọn những mặt hàng mũ bảo hiểm kém chất lượng.

Chúng ta cần có cách sử dụng và bảo quản mũ cẩn thận. Khi đội mũ cần chỉnh dây cài cho phù hợp với kích thước của đầu để mũ không quá chật cũng không quá lỏng. Tránh để mũ va đập nhiều làm giảm chất lượng của mũ và sử dụng nước khử mùi để giặt miếng lót bên trong.

Không nên đội chung mũ với người lạ đặc biệt là người có bệnh về da đầu để đảm bảo an toàn. Những chiếc mũ có bộ phận dây cài bị hỏng, lớp mút bên trong đã không còn đàn hồi tốt cũng không nên “tận dụng xài tạm”, đối phó…Hàng ngày, sau khi đội, nên để mũ ở những nơi thoáng mát hoặc đem phơi nắng để hong khô, giết chết vi khuẩn gây các bệnh nấm da đầu.

Các nhà sản xuất khuyên rằng: Khi sử dụng được năm năm, dù nón vẫn còn sử dụng được vẫn nên đổi nón mới để đảm bảo tốt nhất sự an toàn của chính bản thân. Đúng như tên gọi của nó, nón bảo hiểm có chức năng bảo vệ phần đầu – bộ phận rất quan trọng trên cơ thể người khỏi những tác nhân gây nguy hiểm. Khi tham gia giao thông, đôi khi con người sẽ không thể kiểm soát tay lái hoặc vô tình bị gây tai nạn, vì vậy cần phải đội mũ bảo hiểm để hạn chế những va đập mạnh ảnh hưởng đến vùng đầu, vùng cổ.

Chiếc mũ bảo hiểm như người bảo hộ cho chúng ta khi bước ra ngoài, là một thiên thần hộ mệnh an toàn. Vì vậy mọi người nên chọn cho mình một chiếc mũ phù hợp và bảo quản chúng thật tốt để bảo vệ tính mạng cho bản thân và cho mọi người xung quanh.

“An toàn là bạn, tai nạn là thù”. Đã bao giờ bạn tham gia giao thông mà không đội mũ bảo hiểm? Hay đã bao giờ bạn đội lên mình chiếc mũ bảo hiểm đơn giản chỉ để đối phó với các chú công an? Đã bao giờ bạn thắc mắc về cấu tạo của chiếc mũ bảo hiểm hay cùng gia đình mình tìm và chọn một chiếc mũ bảo hiểm đảm bảo chất lượng chưa?

Mũ bảo hiểm là một vật dụng cần thiết và đồng hành cùng con người trên mỗi tuyến đường, nó có vai trò rất quan trọng đối với con người, cần được tìm hiểu và sử dụng đúng cách để phát huy tác dụng cao nhất cho người tham gia giao thông.

Mũ bảo hiểm được ra đời nhằm thực hiện nghĩa vụ cao cả là bảo vệ phần đầu của người sử dụng khi xảy ra tai nạn, va đập trên đường. Người ta thường ví chúng như những nồi cơm điện bởi sự cần thiết của nó. Tại đất nước ta, luật đội mũ bảo hiểm đối với người ngồi trên xe mô tô khi tham gia giao thông được quy định từ năm 2007 và đã bắt đầu áp dụng. Mũ bảo hiểm có cấu tạo gồm ba bộ phận chính là vỏ nón, đệm bảo vệ và quai đeo.

Vỏ ngoài của nón được sản xuất bằng nhựa nguyên sinh hoặc các sợi cacbon có độ cứng cao, siêu bền với lớp nhựa dày. Khi cầm rất chắc tay, bề mặt mũ láng mịn. Được sản xuất bằng hạt nhựa nguyên sinh cao cấp nên rất dễ tạo hình nón. Vỏ nón cũng được trang trí bởi nhiều chi tiết màu sắc khác nhau phù hợp với thị hiếu và nhu cầu sử dụng theo từng độ tuổi.

Lớp đệm bảo vệ làm bằng lõi xốp thường là nhựa EPS, bộ phận này rất quan trọng để bảo vệ não khi xảy ra va chạm, độ dày được thiết kế phù hợp, lõi xốp được lắp cố định vào vỏ nón khó tách rời, ôm vừa sát đầu người sử dụng nhằm bảo vệ an toàn. Lớp đệm lót làm bằng vải mềm tạo cảm giác êm ái và dễ chịu khi đội mũ.

Quai cài thường được sản xuất từ sợi tổng hợp chất lượng cao, có miếng giữ cằm để cố định mũ, độ dài quai đeo linh hoạt, phần khóa quai chắc chắn, ăn khớp giúp dễ dàng thao tác. Ngoài ra một số loại mũ còn có thêm kính chắn gió, đệm lót cổ.

Mũ bảo hiểm được phân thành các loại cơ bản gồm mũ trùm kín đầu, 3/4 đầu và nửa đầu. Mũ bảo hiểm trùm kín đầu là loại mũ an toàn nhất, nó ôm trọn phần đầu, phần mặt và phần hộp sọ người sử dụng. Loại mũ này có khe hở ở vành đai và lỗ thông khí bên trong. Nó bảo vệ tối đa người lái nhưng thường nặng và khá cồng kềnh, rất thích hợp cho những chuyến đi xa trên đường quốc lộ đặc biệt là các phượt thủ.

Mũ 3/4 đầu dạng to, tròn, phủ kín phần sau sọ não nhưng thiếu thành chắn cằm và kính che mắt. Nên bụi, gió, mưa và vật nhỏ có thể bay vào mắt, loại này thích hợp để đi làm hàng ngày. Loại mũ nửa đầu không có các bộ phận ốp vào tai, không có kính lá chắn và ngắn ở phần sau đầu. Thích hợp khi di chuyển ở quãng đường ngắn. Khi sử dụng hai loại này cần trang bị thêm kính để bảo vệ mắt, ưu điểm của chúng là khá nhỏ gọn, sử dụng thuận tiện dễ dàng bỏ vừa cốp xe và hợp thời trang nên rất được ưa chuộng.

Mũ bảo hiểm rất hữu ích với chúng ta, bạn hãy thử tưởng tượng xem mình ra ra sao nếu đầu va đập trực tiếp vào nền bê tông. Đội mũ sẽ làm giảm va đập và chấn thương sọ não, giảm thiểu nguy cơ gây tử vong. Đặc biệt, cần sử dụng đúng cách, không nên dùng đối phó hay thiếu hiểu biết, không nên đội mũ mà không cài quai vì như vậy khi gặp tai nạn, mũ văng ra sẽ gây ra gây nguy hiểm cho người đi đường.

Khi đội mũ lên đầu cần kiểm tra xem quai mũ có vừa vặn không, không nên đội mũ quá rộng hoặc quá chật. Hiện nay, mũ bảo hiểm trôi nổi, hàng giả hàng nhái rất nhiều, những chiếc mũ đó giá dao động chỉ từ bốn mươi đến năm mươi ngàn đồng xuất hiện hàng loạt. Mũ kém chất lượng kèm theo là những hệ quả khó lường, sản xuất bằng nhựa pha, nhựa tái chế nên mỏng, giòn, dễ vỡ khi va đập, gây nguy hiểm.

Vì vậy nên chọn lựa cho mình một chiếc mũ đảm bảo chất lượng, khi mua nên kiểm tra mũ cẩn thận, mũ đạt chất lượng là mũ có dấu CR, tên cơ sở sản xuất hoặc địa chỉ nhập khẩu, có giấy bảo hành chính hãng. Không nên vì lợi ích trước mắt, tiết kiệm vài nghìn đồng mà tự gây nguy hiểm cho bản thân.

Thiết nghĩ, xã hội ngày càng phát triển, nhiều người lại vì lợi nhuận trước mắt mà sẵn sàng kiếm lợi trên mạng sống của con người. Vì vậy, cần xử lí nghiêm những sai phạm của các nhà sản xuất chạy theo lợi nhuận. Đồng thời phải ý thức được tầm quan trọng của nó, nhiều bạn vẫn sợ tóc rối, sự xấu, sợ mất thời trang mà không đội mũ, đó là một sai lầm lớn.

Chỉ cần bước chân ra đường là chúng ta có thể bắt gặp hình ảnh những chiếc mũ bảo hiểm song hành cùng với những người tham gia giao thông bằng xe máy, xe mô tô. Trong Luật Giao thông mà Nhà nước ta đã ban hành cũng có điều luật yêu cầu những người tham gia giao thông bằng xe mô tô, xe gắn máy phải đội mũ bảo hiểm. Không phải vì là luật nên mọi người mới sử dụng mũ bảo hiểm mà vì hầu hết chúng ta đều ý thức được tầm quan trọng của sản phẩm này.

Mũ bảo hiểm là một loại mũ đặc biệt dùng để bảo vệ đầu của con người. Nếu chẳng may trong quá trình tham gia giao thông gặp phải tai nạn thì chiếc mũ sẽ giúp giảm chấn thương cho vùng đầu. Cấu tạo của một chiếc mũ bảo hiểm đạt chuẩn sẽ có 3 phần là vỏ ngoài, lớp lót trong và các phụ kiện đi kèm theo như quai mũ, kính chắn gió. Vỏ mũ được làm từ vật liệu nguyên sinh như nhựa tổng hợp và có độ bền cao. Chúng được làm gia công bằng sợi cacbon tăng độ bền và độ nhẹ cho chiếc mũ. Bên trong lớp vỏ là một lớp lót làm từ loại xốp cao cấp nén tỉ trọng cao. Nhờ vậy mà mũ không bị ảnh hưởng nhiều khi có tác động lực mạnh. Phần trong của mũ được thiết kế những khe thông gió. Chúng được thiết kế một cách khoa học giúp cho người tham gia giao thông cảm thấy thoải mái khi đội mũ. Phần trước của mũ có mui chắn giúp cản trở bụi bẩn, che chắn cho đôi mắt khỏi bụi bẩn ngoài đường và vẫn giúp cho người đội có thể quan sát được đường trong quá trình di chuyển.

Phía dưới của mũ bảo hiểm chính là quai mũ giúp cố định mũ trên đầu. Quai mũ có thể điều chỉnh sao cho vừa vặn với đầu của người đội. Khi đội mũ không nên để quai quá rộng nhưng cũng không nên cài quá chặt. Quai mũ thường được làm bằng dây dù vừa rẻ lại vừa bên. Một số loại mũ sử dụng dây da cao cấp hơn. Phần quai mũ được chia ra làm 2 phần có thể gắn vào hoặc tháo ra nhờ một cái nắp cài giống như nắp cặp của học sinh. Có một miếng cao su hay nhựa dẻo được gắn trên sợi dây có thể di động được sao cho vừa vặn với phần cằm. Bên cạnh đó, trên sợi dây cũng có một khớp nối để người sử dụng tùy chỉnh sao cho sợi dây sau khi cài ôm vừa vặn lấy đầu. Khi đội mũ, chỉ cần đặt mũ lên đầu rồi cài quai lại là xong.

Hiện nay có nhiều loại mũ bảo hiểm khác nhau chính vì vậy mà hình dáng mũ cũng đa dạng. Phổ biến nhất vẫn là 2 loại mũ nửa đầu và mũ trùm kín đầu. Mũ trùm kín đầu to và nặng nhưng độ an toàn và khả năng bảo vệ đầu cao hơn vì vậy thường được sử dụng khi người tham gia giao thông di chuyển quãng đường dài. Mũ bảo hiểm nửa đầu thì nhẹ hơn, tiện hơn, khi đội cũng không bị bí nhưng mức độ an toàn không được cao như mũ đội cả đầu nên thường được dùng khi người tham gia giao thông di chuyển quãng đường ngắn. Ngoài ra, các nhà sản xuất còn thiết kế riêng mũ bảo hiểm cho cảnh sát, cho dân đi phượt.

Tỉ lệ người dân tham gia giao thông bằng xe máy ở Việt Nam là khá cao, chính vì vậy mà thị trường bán mũ bảo hiểm ở Việt Nam cũng khá phát triển. Nhà sản xuất thì ngày càng tinh tế hơn, nhạy bén hơn khi sản xuất ra rất nhiều loại mũ bảo hiểm khác nhau với mẫu mã đa dạng, bắt mắt. Có những chiếc mũ mang hình dáng rất đáng yêu như superman, con ếch, con thỏ. Mặc dù mũ bảo hiểm là một vật dụng dùng để bảo vệ đầu nhưng không phải chiếc mũ nào cũng như vậy. Hiện nay mũ bảo hiểm bị làm giả, làm nhái rất nhiều và lại được bán với giá rất rẻ. Chính vì vậy mà nhiều người vẫn mua để sử dụng. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là làm thế nào để chọn mua được mũ bảo hiểm chính hãng? Khi chọn mua mũ bảo hiểm bạn cần kiểm tra tem chống hàng giả dán trên mũ. Nếu mũ nhập khẩu còn có thêm tem kiểm tra. Ngoài ra, trên mũ cũng có những thông số về kích thước, ngày sản xuất, địa chỉ sản xuất. Mũ bảo hiểm chính hãng còn có giấy bảo hành của nhà sản xuất. Điều quan trọng khi đi mua mũ là bạn phải chọn mũ vừa vặn với đầu của mình.

Muốn bảo quản chiếc mũ bảo hiểm thì bạn cần nhớ là phải tránh không để phần bên trong của mũ bị ẩm ướt. Mũ của ai thì người đó sử dụng, đội chung mũ sẽ khiến da đầu bị ảnh hưởng. Thỉnh thoảng nên mang mũ đi khử trùng, vệ sinh để cho mũ được sạch sẽ và không làm hôi đầu mỗi lần đội. Nếu trong quá trình sử dụng mũ bảo hiểm nếu thấy mũ có dấu hiệu bị cũ, hư hỏng thì cần thay ngay hoặc nếu đã dùng trên 5 năm thì cũng nên thay mới.

Mũ bảo hiểm giống như một thiên thần hộ mệnh giúp cho con người được bảo vệ. Chính vì vậy, con người nhất thiết phải đội những chiếc mũ bảo hiểm chất lượng khi đi ra ngoài, đồng thời cần bảo quản chiếc mũ bảo hiểm cẩn thận.

Mũ bảo hiểm xuất hiện từ ngàn năm trước, lúc đầu chiếc mũ được làm bằng da thú rồi đất nước phát triển dần được thay thế bằng kim loại bằng sắt dùng cho binh lính trong các cuộc chiến tranh. Vào khoảng 1200 thì mũ hoàn toàn làm bằng sắt với những hình dáng khác nhau như hình trụ hoặc hình chóp thẳng. Thời trung cổ, mũ được cải tiến hơn được làm bằng chất liệu thép nhẹ, che được cả phần cổ. Ngày nay, mũ bảo hiểm được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày chứ không đơn thuần là dùng để trang bị cho người lính, nay nó được làm bằng chất liệu nhựa siêu bền có vai trò cần thiết đối với người tham gia giao thông.

Mũ bảo hiểm là loại mũ được cấu tạo đặc biệt dùng để bảo vệ đầu người khi bị tai nạn giao thông. Mũ cấu tạo gồm ba lớp. Lớp thứ nhất ở bên ngoài là lớp vỏ cứng được làm từ nhựa đặc biệt, cao cấp hơn người ta còn sử dụng sợi carbon siêu nhẹ. Lớp thứ hai là miếng xốp dày để giảm chấn động cho đầu khi bị va đập mạnh. Lớp trong cùng được cấu tạo bằng một chất liệu mềm và thưa để làm thoáng khí và làm êm đầu khi đội mũ. Bên dưới nón là dây quai nón có tác dụng giữ nón chặt vào đầu người sử dụng kể cả khi người sử dụng bị té ngã hay chịu lực tác động khác thì nó vẫn giữ chặt vào đầu người. Dây được may từ sợi dây dù vừa rẻ, bền, chắc hay cao cấp hơn thì dây được làm bằng da. Để giúp cho việc đội nón vào bỏ nón, người ta chia dây thành hai phần gắn lại với nhau bằng một móc khóa nhựa rất chắc nhưng thao tác tháo mở thì cực kì đơn giản. Trên sợi dây dài được gắn một miếng cao su hay nhựa dẻo có thể di động được phù hợp với vị trí cằm để góp phần giữ chặt nón vào đầu. Trên sợi dây còn có một khớp để có thể nới dây dài ra hoặc thu ngắn lại giúp nón giữ chặt với đầu có các kích thước lớn nhỏ khác nhau.

Mũ bảo hiểm ở một số loại có từ 2 đến 3 lỗ hầm gió để khi di chuyển sẽ tạo ra nguồn gió làm thông thoáng bên trong mũ. Những nước nhiệt đới như Việt Nam ta thì những loại mũ có lỗ thông gió là loại thông dụng nhất vì khí hậu nóng lại phơi nắng lâu nên có một thời gian nón bảo hiểm được ví như “nồi cơm điện” chụp trên đầu. Chính các lỗ thông gió này đã tạo cơ hội cho người sử dụng các loại nón kiểu này cảm thấy thuận tiện hơn khi đội nón. Người ta cấu tạo nón bảo hiểm có lỗ thông gió còn kèm thêm các nút bít để sử dụng thuận tiện vào mùa mưa.

Về hình dạng nón ta thường thấy có hai loại là: nón nửa đầu và nón trùm đầu. Đặc điểm nón nửa đầu là có trọng lượng nhẹ và rẻ hơn so với nón trùm đầu được người dân yêu thích vì nón trùm đầu giống như “nồi cơm điện” úp trên đầu. Phải chăng lúc ban đầu các nón bảo hiểm đều chủ yếu có màu trơn như trắng, đen nhìn rất đơn điệu. Sau này, các nhà sản xuất đã tiếp thị được nhu cầu của người sử dụng nên đã dán decal, in hình, hay làm màu sắc đa dạng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Thậm chí màu sắc, hình ảnh trên nón còn thể hiện cái tôi, cái cá tính riêng của từng người. Ngoài ra, còn có chương trình hướng dẫn cho các bạn trang trí theo cá tính riêng của mình. Qua sự việc này ta thấy nón bảo hiểm đã trở thành một hình ảnh rất thân thiện không thể thiếu được trong cuộc sống của chúng ta.Để tăng thêm tiện ích cho mũ bảo hiểm, các nhà sản xuất đã gắn thêm lưỡi trai ngắn hay kính để che bụi giúp cho nón.

Mũ bảo hiểm được sử dụng khi tham gia giao thông khi làm việc ngoài công trình, cần phải chú ý sử dụng mũ, đội mũ lên đầu vừa với đầu mình để lớp trong của mũ có thể ôm sát lấy đầu, khi đội mũ phải cài khóa, khóa phải vừa sát cằm không quá rộng và cũng không quá chặt tránh trường hợp không cài khuy khi đi xe gió sẽ thổi làm mũ bay có thể gây ra tai nạn giao thông. để chắn bụi mưa gió người ta thường kéo kính xuống để bảo vệ mắt và được an toàn khi đi xe. Nếu tham gia giao thông đối với người đi xe máy không đội mũ bảo hoặc đội mũ không đúng cách thì sẽ vi phạm luật bị cảnh sát giao thông bắt giữ để phạt. Trong tình hình hiện nay, tai nạn giao thông có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu nên khi tham gia giao thông cần đội mũ ở mọi nơi mọi lúc.

Có thể nói chiếc mũ bảo hiểm rất gần gũi, quan trọng đối với mỗi người, nó là bia đỡ đạn cho tính mạng của loài người. Như chúng ta đã biết trong xã hội hiện nay số vụ tai nạn giao thông đã trở thành một con số lớn không những thiệt hại về của mà còn thiệt hại về người. Có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau mà dẫn đến tai nạn giao thông và khi đó cần chiếc mũ bảo hiểm nó sẽ làm giảm chấn động do va đập và bảo vệ phần đầu đặc biệt là não. Nó còn dùng để chắn mưa gió, bụi để không cản trở việc an toàn giao thông khi đi trên đường.

Ngày nay, mũ bảo hiểm có những tính năng vượt trội, gọn nhẹ, dễ sử dụng. Nó đã thực sự trở thành một đồ dùng thiết yếu cho con người, cần nâng niu, bảo vệ chiếc mũ để nó có thể đồng hành với ta khi tham gia giao thông.

Trong cuộc sống, hình ảnh người tham gia giao thông với chiếc mũ bảo hiểm không còn quá xa lạ với chúng ta. Đội mũ bảo hiểm cũng là một trong những nội quy bắt buộc mà nhà nước chính quyền ban hành trong điều luật giao thông.Vì vậy chiếc mũ bảo hiểm có một vai trò khá quan trọng đối với mỗi người cùng với những lợi ích to lớn của nó.

Về cấu tạo thì mũ bảo hiểm là loại mũ đặc biệt dùng bảo vệ đầu của con người khi bị tai nạn giao thông hay bị va chạm quá mạnh. Mũ bảo hiểm thường cấu tạo bằng ba phần: vỏ ngoài, lớp lót trong và các phụ kiện đi kèm theo (quai mũ, kính chắn gió…). Phần vỏ mũ được làm từ vật liệu nguyên sinh, có độ bền cao. Vỏ mũ được làm từ các loại nhựa tổng hợp chứ không phải kim loại. Phần vỏ này thường được làm gia công bằng sợi cacbon tăng độ bền và độ nhẹ cho chiếc mũ. Lớp lót bên trong mũ được bằng loại xốp cao cấp nén tỉ trọng cao giúp mũ không bị ảnh hưởng khi có tác động lực mạnh. Bên trong mũ được thiết kế những khe thông gió. Những lỗ thông gió này được thiết kế rất khoa học giúp người tham gia giao thông đội mũ bảo hiểm một cách thoải mái và thông thoáng hơn, không tạo cảm giác ngứa ngáy cho da đầu. Phía trước mũ có mui chắn giúp cản trở bụi bẩn, che chắn cho đôi mắt người đội mũ có thể quan sát hình ảnh một cách sắc nét.

Ở dưới nón chính là quai nón, có tác dụng giữ cho nón chắc và chặt vào đầu người khi tham gia an toàn giao thông kể cả khi người sử dụng có bị té ngã hay chịu một lực tác động khác cực mạnh thì nó vẫn sẽ giữ chặt vào đầu người. Dây có thể là loại dây dù, vừa rẻ vừa bền, cũng có thể là loại dây da cao cấp hơn. Cách sử dụng mũ bảo hiểm rất đơn giản vì người ta chia sợi dây thành 2 phần gắn lại với nhau bằng một móc khóa nhựa rất chắc. Một miếng cao su hay nhựa dẻo được gắn trên sợi dây có thể di động được để phù hợp với vị trí cằm. Trên sợi dây đó còn có một khớp nối để người dùng điều chỉnh tùy ý, giúp nón giữ chặt với đầu và phù hợp với người sử dụng.

Có rất nhiều loại mũ nên cũng có đa dạng những hình dạng. Tuy nhiên có lẽ phổ biến nhất là 2 loại mũ : nón nửa đầu và nón trùm hết đầu. Nón trùm hết đầu khá cồng kềnh nhưng ngược lại độ an toàn thì rất yên tâm. Nó bao quanh đầu, có mặt kính an toàn ở tầm mắt nhìn, có khả năng chống bụi, giúp không cho tác nhân bên ngoài bay vào làm tổn hại mắt người nhìn. Loại mũ này không được phổ biến cho lắm, thường dùng cho dân đi phượt, cảnh sát. Ở loại thứ hai là mũ nửa đầu, được dùng phổ biến và dường như là hầu hết. Đúng như cái tên, loài mũ này bảo vệ phần nửa đầu trên của bạn, không có kính nhưng rất nhỏ gọn, và dễ sử dụng.

Đối với một đất nước mà hầu hết các phương tiện giao thông là xe máy như Việt Nam thì thị trường và mặt hàng về mũ bảo hiểm khá phát triển. Ngày nay đời sống nâng cao, nhà sản xuất cũng cho ra rất nhiều các kiểu mũ khác nhau với nhiều những hình ảnh kiểu dáng thẩm mĩ, bắt mắt người mua: chú thỏ, con ếch, superman. Bên cạnh những chiếc mũ an toàn thì cũng có những chiếc mũ không được nghiêm túc, hàng nhái, hàng giả. Đó là chính là một mối quan tâm cho nhiều người dân hiện nay rằng: “phải chọn những mũ bảo hiểm như thế nào?”. Nón bảo hiểm chất lượng phải là nón có tem chống giả được dán bởi bộ kiểm định chất lượng, nếu là hàng nhập khẩu từ nước ngoài thì phải có tem kiểm tra. Trên mũ thường có những thông số về: kích thước, ngày sản xuất, địa chỉ sản xuất. Khi mua đúng mũ chất lượng chúng ta thường có giấy bảo hành từ nhà sản xuất phòng khi mũ có vấn đề trục trặc. Một điều lưu ý nữa, khi mua mũ ta nên chọn những mũ vừa vặn với đầu mình, không nên quá rộng hay quá chật dù có đẹp đến mấy.

Để có thể bảo quản và sử dụng chiếc mũ một cách lâu bền nhất mỗi người cần có những lưu ý cẩn thận. Tránh để mũ ra nơi ẩm ướt rất dễ mốc vải trong lòng mũ và khiếm mũ hôi, bẩn. Không nên đội chung mũ với người khác, điều này rất không tốt cho da đầu ta. Nếu có thời gian rảnh rỗi thì hãy thường xuyên mang mũ ra khử trùng, vệ sinh để đảm bảo cho mũ sạch sẽ cũng như tốt cho da đầu mình mỗi khi sử dụng. Bạn cũng nên thay, mua mũ mới khi chiếc mũ bảo hiểm yêu quý có những dấu hiệu đã cũ ( nứt, bạc màu, đứt quai đeo, đã bị va đập mạnh…) hay đã sử dụng trên 5 năm.

Chiếc mũ bảo hiểm như người bảo hộ cho chúng ta khi bước ra ngoài, là một thiên thần hộ mệnh an toàn, tuy nhiên điều đó cũng phụ thuộc vào sự chọn lựa trong quá trình mua mũ của mỗi người. Hãy trân trọng, và thường xuyên cất giữ cũng như sử dụng để đảm bảo tính mạng cho mình khi tham gia giao thông.

Nhịp sống của con người càng trở nên hối hả, tấp nập khi phương tiện giao thông ngày càng cải tiến hiện đại. Nhưng một thực trạng giao thông tai nạn giao thông vẫn là mối đe dọa đến tính mạng của con người. Do đó chiếc mũ bảo hiểm ngày càng trở nên quan trọng và gắn bó với cuộc sống của con người.

Mũ bảo hiểm xuất hiện từ ngàn năm trước, lúc đầu chiếc mũ được làm bằng da thú rồi đất nước phát triển dần được thay thế bằng kim loại bằng sắt dùng cho binh lính trong các cuộc chiến tranh. Vào khoảng 1200 thì chiếc mũ hoàn toàn làm bằng sắt với những hình dáng khác nhau như hình trụ hoặc hình chóp thẳng. Thời trung cổ, mũ được cải tiến hơn được làm bằng chất liệu thép nhẹ, che được cả phần cổ. Ngày nay, mũ bảo hiểm được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày chứ không đơn thuần là dùng để trang bị cho người lính, nay nó được làm bằng chất liệu nhựa siêu bền có vai trò cần thiết đối với người tham gia giao thông.

Cấu tạo của chiếc mũ bảo hiểm đơn giản gồm: lớp vỏ ngoài cùng, lớp vỏ bên trong và quai. Lớp vỏ ngoài cùng được làm bằng nhựa siêu bền và được phủ một lớp bóng với nhiều màu sắc, chiếc mũ có kích thước, hình dáng khác nhau, tùy theo từng lứa tuổi mà người ta cho ra đời nhiều loại mũ đa dạng phong phú phù hợp với thị yếu của người tiêu dùng, lớp lót bên trong thường được làm bằng vật liệu mềm xốp, quai mũ có khóa cài chắc chắn để cố định mũ. Ngoài ra nhiều loại mũ bảo hiểm có kính để che gió trong suốt ở phía trước, kính có thể gấp lên trên đỉnh mũ. Trên thị trường hiện nay có nhiều loại mũ bảo hiểm với nhiều hãng sản xuất khác nhau tạo ra một không gian rộng rãi để khách hàng có thể tha hồ lựa chọn những chiếc mũ mà mình ưa chuộng, để tăng tính thời trang, một số người nhất là lớp trẻ họ thường chọn loại mũ có màu sắc đẹp, sáng, có trang trí nhỏ và không có kính.

Mũ bảo hiểm được sử dụng khi tham gia giao thông khi làm việc ngoài công trình, cần phải chú ý sử dụng mũ, đội mũ lên đầu vừa với đầu mình để lớp trong của mũ có thể ôm sát lấy đầu, khi đội mũ phải cài khóa, khóa phải vừa sát cằm không quá rộng và cũng không quá chặt tránh trường hợp không cài khuy khi đi xe gió sẽ thổi làm mũ bay có thể gây ra tai nạn giao thông. để chắn bụi mưa gió người ta thường kéo kính xuống để bảo vệ mắt và được an toàn khi đi xe. Nếu tham gia giao thông đối với người đi xe máy không đội mũ bảo hoặc đội mũ không đúng cách thì sẽ vi phạm luật bị cảnh sát giao thông bắt giữ để phạt. Trong tình hình hiện nay, tai nạn giao thông có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu nên khi tham gia giao thông cần đội mũ ở mọi nơi mọi lúc.

Có thể nói chiếc mũ bảo hiểm rất gần gũi, quan trọng đối với mỗi người, nó là bia đỡ đạn cho tính mạng của loài người. Như chúng ta đã biết trong xã hội hiện nay số vụ tai nạn giao thông đã trở thành một con số lớn không những thiệt hại về của mà còn thiệt hại về người. Có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau mà dẫn đến tai nạn giao thông và khi đó cần chiếc mũ bảo hiểm nó sẽ làm giảm chấn động do va đập và bảo vệ phần đầu đặc biệt là não. Nó còn dùng để chắn mưa gió, bụi để không cản trở việc an toàn giao thông khi đi trên đường.

Ngày nay, mũ bảo hiểm có những tính năng vượt trội, gọn nhẹ, dễ sử dụng. Nó đã thực sự trở thành một đồ dùng thiết yếu cho con người, cần nâng niu, bảo vệ chiếc mũ để nó có thể đồng hành với ta khi tham gia giao thông.

Cuộc sống của chúng ta ngày càng hiện đại và phát triển không ngừng, kéo theo đó là giao thông xe cộ đi lại trên đường ngày một đông đúc. Với một nước di chuyển chủ yếu bằng xe máy như Việt Nam chúng ta, thì mũ bảo hiểm là vật dụng không thể thiếu trong mỗi gia đình.

Mặc dù là một đồ dùng phổ biến, có lẽ ít ai biết được nguồn gốc của mũ bảo hiểm. Thực chất, mũ bảo hiểm đã xuất hiện từ rất lâu rồi, khoảng hơn 1000 năm trước. Chiếc mũ bảo hiểm ban đầu được làm bằng da, sau nhiều lần cải biến chuyển sang kim loại và sắt. Ngày trước, mũ bảo hiểm chủ yếu dùng cho những người lính, chiến sĩ. Năm 1200, mũ chuyển sang hoàn toàn làm bằng sắt, che kín cổ theo phong cách xưa. Sau nhiều quá trình thay đổi cho phù hợp, chiếc mũ bảo hiểm ngày nay được thiết kế nhỏ gọn và thích hợp hơn. Nó có cấu trúc khá đơn giản, phần vỏ ngoài được làm từ nhựa cứng siêu bền, hình bán cầu ôm sát đầu rất tiện lợi. Hơn nữa, mũ có rất nhiều màu sắc và kích thước khác nhau đa dạng phù hợp với từng đối tượng theo lứa tuổi và sở thích. Bên trong mũ thường có một lớp xốp, sau đó đến một lớp vải dày. Lớp vải này thường có những phần lưới để khi đội mũ trong thời gian dài, tóc sẽ không bị bí gây khó chịu. Quai mũ cũng là một chi tiết rất quan trọng, giúp cố định mũ với cơ thể thường đội. Quai mũ làm bằng dây vải bền và chắc, có khuy cài rất tiện lợi.

Nhìn chung, chiếc mũ bảo hiểm ngày nay rất nhỏ gọn mà vẫn giữ được đầy đủ tiêu chuẩn. Hiện tại, theo nhu cầu sử dụng, mũ bảo hiểm được thiết kế thêm nhiều phụ kiện khác đi kèm. Phổ biến nhất là chiếc mũ bảo hiểm thông thường với một lưỡi chai nhỏ ở đầu mũ. Ngoài ra, với những người đi xe đường dài thường có thêm kính đằng trước để chắn bụi, mưa gió chiếc kính này thiết kế linh hoạt, có thể đẩy lên gập xuống, cũng có thể tháo ra khi không cần thiết. Đối với một số người hay chơi xe mô tô, họ thường sử dụng những chiếc mũ có kính cỡ lớn hơn, bao phủ được cả tai xuống đến cổ. Mũ bảo hiểm rất dễ sử dụng, tháo quai cài, đội mũ lên đầu sao cho thật thoải mái, vừa vặn, rồi cài quai lại. Chú ý khi đeo nên chỉnh dây quai mũ sao cho phù hợp với mình, nếu quai mũ quá chặt sẽ gây cảm giác khó chịu, ngược lại nếu quá lỏng mũ sẽ dễ bị rơi. Mũ bảo hiểm tuy nhỏ nhưng lại là vật dụng hết sức quan trọng trong việc bảo vệ con người, thường được dùng cho công nhân công trường hoặc cho những ai tham gia giao thông. Mũ bảo hiểm vừa tránh nắng mưa, hơn hết là để giảm chấn động đầu, đặc biệt là vùng não nếu không may xảy ra va đập. Thời gian đầu khi mới được đưa vào sử dụng phổ biến thành luật giao thông, người dân rất ngại đội mũ bảo hiểm, tuy nhiên qua thời gian, mọi người đã ý thức được tầm quan trọng của vị cứu tinh này. Nhờ có mũ bảo hiểm, bao nhiêu tính mạng con người đã được bảo vệ an toàn.

Sự phát triển không ngừng như hiện tại của xã hội, các phương tiện giao thông cũng đa dạng hơn rất nhiều, ở nhiều nước ô tô là phương tiện di chuyển chủ yếu. Tuy nhiên, tầm quan trọng của mũ bảo hiểm chưa bao giờ bị mất đi, đây vẫn là một vật dụng cần thiết để mỗi chúng ta tự bảo vệ lấy chính mình và những người thân, để có một xã hội văn minh và tốt đẹp hơn.

Ngày nay, việc tham gia giao thông là điều khó có thể tránh khỏi khi mà người ta cần ra đường thường xuyên để thực hiện những công việc của mình. Song, rất nhiều cảm thấy lo sợ khi việc va chạm giữa các phương tiện giao thông rất dễ xảy ra. Để bảo vệ an toàn cho mọi người Chiếc nón bảo hiểm ra đời với những công dụng đặc biệt

Mũ bảo hiểm là một dạng mũ được sử dụng nhằm mục đích bảo vệ phần đầu của người đội phòng khi có va đập lúc sử dụng các phương tiện như xe đạp, đi xe máy, ô tô, cưỡi ngựa… (với nghĩa này, ở Việt Nam, người ta gọi bóng gió là “nồi cơm điện”). Tuy nhiên, theo nghĩa rộng hơn, mũ bảo hiểm còn có thể được dùng để gọi chung những loại mũ sắt, mũ cối trong quân đội, các loại mũ bảo vệ người chơi thể thao hay các loại mũ bảo hộ lao động

Theo truyền thống, mũ bảo hiểm được làm bằng các loại nhựa tổng hợp như ABS, HDPE nhưng vào khoảng mấy chục năm đổ lại đây, chất liệu đã được thay thế bằng Sợi Carbon vì độ bền cao và nhẹ hơn nhựa. Sự thúc đẩy, khuyến khích thậm chí là bắt buộc mọi người đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông từng là một đề tài nóng trong một thời gian dài. Đến nay, nhiều quốc gia đã áp dụng luật này. Tại Việt Nam, từ ngày 15 tháng 12 năm 2007 bắt đầu bắt đội mũ bảo hiểm đối với người sử dụng xe máy, xe máy điện, mô tô khi tham gia giao thông trên tất cả các tuyến đường.

Về cấu tạo lớp vỏ được làm bằng loại nhựa cứng, phải được làm rất chắc, bền để khi bị va đập không bị bể. Lớp lót bên trong là đệm bằng xốp rất mềm để bảo vệ đầu khi có va chạm. Quai cài và có miếng giữ cằm để cố định mũ được nối liền vào hai bên hông mũ, khi cột lại thì ôm sát vào cằm để đảm bảo khi đội không bị xê dịch. Kính chắn gió làm từ nhựa trong suốt, được gắn ở trên cùng, có thể kéo lên kéo xuống tùy ý người đội. Mũ bảo hiểm nhìn chung có ba loại chính. Loại đầu tiên là loại che cả đầu và cả hàm, giúp bảo vệ toàn bộ phần đầu, thường được sử dụng khi đi những loại xe phân khối lớn để bảo vệ đầu tốt nhất. Đồng thời, loại mũ này có ưu điểm khi đi mưa có thể không làm ướt mặt, ướt đầu. Tuy nhiên, giá thành của loại mũ này khá cao và khá cồng kềnh cho di chuyển. Loại thứ hai là loại che đầu và tai. Loại này có công dụng khá giống với loại một, nhưng nếu người sử dụng ngã về phía trước thì hoàn toàn trở nên vô dụng. Loại thứ ba thông dụng hơn là loại chúng ta vẫn sử dụng hàng ngày, đó là loại mũ chỉ che nửa đầu. Loại này có rất nhiều mẫu mã và hình sáng khác nhau. Đặc điểm chung của chúng là rất gọn gàng, nhỏ nhẹ và hợp thời trang,giá thành vừa phải cho người sử dụng. Mặc dù vậy, độ bảo vệ của nó bị giới hạn hơn so với 2 loại trên.

Chọn mũ bảo hiểm cũng phải biết cách chọn để có thể bảo vệ bản thân mình tốt nhất. Mua nón phải thử sao cho vành phải vừa đầu, không chật quá sẽ gây căng thẳng cho đầu, rộng qua sẽ không cố định được mũ. Quai mũ phải vừa với cằm, nếu không vừa có thể điều chỉnh lại bằng khóa dịch chuyển ở bên hông.

Bảo quản mũ bảo hiểm không cần quá cầu kỳ. Khi sử dụng xong có thể cất vào gọn một chỗ hoặc treo lên giá đều được. Thỉnh thoảng thời gian dùng lâu hay đi mưa có thể gây ẩm, hôi, có thể tháo lớp mút bên trong để giặt giũ, vệ sinh cho sạch sẽ.

Mũ bảo hiểm là đồ vật rất quan trọng cho cuộc sống hiện đại. hãy biết cách sử dụng nó để cuộc sống của chúng ta được bảo vệ đầy đủ.

Mũ bảo hiểm xuất hiện từ ngàn năm trước, lúc đầu chiếc mũ được làm bằng da thú rồi đất nước phát triển dần được thay thế bằng kim loại bằng sắt dùng cho binh lính trong các cuộc chiến tranh.

Vào khoảng 1200 thì mũ hoàn toàn làm bằng sắt với những hình dáng khác nhau như hình trụ hoặc hình chóp thẳng. Thời trung cổ, mũ được cải tiến hơn được làm bằng chất liệu thép nhẹ, che được cả phần cổ. Ngày nay, mũ bảo hiểm được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày chứ không đơn thuần là dùng để trang bị cho người lính, nay nó được làm bằng chất liệu nhựa siêu bền có vai trò cần thiết đối với người tham gia giao thông.

Cấu tạo của chiếc mũ bảo hiểm đơn giản gồm: lớp vỏ ngoài cùng, lớp vỏ bên trong và quai. Lớp vỏ ngoài cùng được làm bằng nhựa siêu bền và được phủ một lớp bóng với nhiều màu sắc. Chiếc mũ có kích thước, hình dáng khác nhau, tùy theo từng lứa tuổi mà người ta cho ra đời nhiều loại mũ đa dạng phong phú phù hợp với thị yếu của người tiêu dùng. Lớp lót bên trong thường được làm bằng vật liệu mềm xốp, quai mũ có khóa cài chắc chắn để cố định mũ. Ngoài ra nhiều loại mũ bảo hiểm có kính để che gió trong suốt ở phía trước, kính có thể gấp lên trên đỉnh mũ.

Trên thị trường hiện nay có nhiều loại mũ bảo hiểm với nhiều hãng sản xuất khác nhau tạo ta một không gian rộng rãi để khách hàng có thể tha hồ lựa chọn những chiếc mũ mà mình ưa chuộng, để tăng tính thời trang, một số người nhất là lớp trẻ họ thường chọn loại mũ có màu sắc đẹp, sáng, có trang trí nhỏ và không có kính.

Mũ bảo hiểm được sử dụng khi tham gia giao thông khi làm việc ngoài công trình, cần phải chú ý sử dụng mũ, đội mũ lên đầu vừa với đầu mình để lớp trong của mũ có thể ôm sát lấy đầu, khi đội mũ phải cài khóa, khóa phải vừa sát cằm không quá rộng và cũng không quá chặt tránh trường hợp không cài khuy khi đi xe gió sẽ thổi làm mũ bay có thể gây ra tai nạn giao thông. để chắn bụi mưa gió người ta thường kéo kính xuống để bảo vệ mắt và được an toàn khi đi xe.

Nếu tham gia giao thông đối với người đi xe máy không đội mũ bảo hoặc đội mũ không đúng cách thì sẽ vi phạm luật bị cảnh sát giao thông bắt giữ để phạt. Trong tình hình hiện nay, tai nạn giao thông có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu nên khi tham gia giao thông cần đội mũ ở mọi nơi mọi lúc.

Có thể nói chiếc mũ bảo hiểm rất gần gũi, quan trọng đối với mỗi người, nó là bia đỡ đạn cho tính mạng của loài người. Như chúng ta đã biết trong xã hội hiện nay số vụ tai nạn giao thông đã trở thành một con số lớn không những thiệt hại về của mà còn thiệt hại về người.

Có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau mà dẫn đến tai nạn giao thông và khi đó cần chiếc mũ bảo hiểm nó sẽ làm giảm chấn động do va đập và bảo vệ phần đầu đặc biệt là não. Nó còn dùng để chắn mưa gió, bụi để không cản trở việc an toàn giao thông khi đi trên đường.

Ngày nay, mũ bảo hiểm có những tính năng vượt trội, gọn nhẹ, dễ sử dụng. Nó đã thực sự trở thành một đồ dùng thiết yếu cho con người, cần nâng niu, bảo vệ chiếc mũ để nó có thể đồng hành với ta khi tham gia giao thông.

Yếu tố đảm bảo sự an toàn cho con người trong mọi hoạt động của cuộc sống luôn là yếu tố thiết yếu và được đề cao. Trong mọi công việc từ nhỏ bé đến lớn lao vĩ đại, mà đặc biệt là các hoạt động thường ngày, luôn có những sản phẩm, thiết bị dùng để bảo vệ sức khỏe, thậm chí là mạng sống của con người. Nếu con người sử dụng các hóa chất phải có khẩu trang, bao tay; chơi thể thao phải đeo những đệm mút bảo vệ đầu gối, khuỷu tay; thì khi tham gia giao thông, hay trong một số hoạt động đặc biệt, mũ bảo hiểm là vật dụng không thể thiếu, mà đặc biệt quan trọng và cần thiết.

Thực chất, mũ bảo hiểm được ghi nhận là xuất hiện cùng thời với chiến tranh. Trong những trận chiến, trước cả gươm, giáo, quân đội Ba Tư đã tìm cho mình một vật dụng bảo vệ phần đầu, đó là chiếc mũ. Thuở sơ khai, mũ được làm bằng da, rồi rèn bằng sắt, đến thời La Mã thì mũ được làm bằng đồng, và thời đại phát triển, chiếc mũ cũng thay da đổi thịt và đến giờ thì có đa dạng mẫu mã, hình dáng, màu sắc. Và ngày nay, mũ bảo hiểm không chỉ được sử dụng trong quân đội, mà trong nhiều ngành nghề, công việc khác nhau, cần bảo vệ phần đầu, như trong thể thao, trong các ngành về điện, và đặc biệt người tham gia giao thông sử dụng phương tiện xe đạp, xe máy bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm theo quy định của pháp luật để tránh những tai nạn đáng tiếc.

Chiếc mũ bảo hiểm tuy là vật dụng quen thuộc, nhưng không phải ai cũng nắm rõ cấu tạo của nó. Mũ bảo hiểm được thiết kế theo hình cầu, hoặc hình tròn để ôm trọn và vừa phần đầu của người sử dụng. Cấu tạo chính của một chiếc mũ gồm ba lớp: Lớp vỏ ngoài, lớp vỏ thứ hai và lớp trong cùng, đồng thời cũng có thêm một số chi tiết cũng khá quan trọng như quai mũ, kính chắn gió, miếng lót cổ. Thứ bắt mắt chúng ta bởi một chiếc mũ bảo hiểm có lẽ là lớp vỏ ngoài, lớp vỏ này được làm từ nhựa cứng siêu bền, được sơn nhiều màu sắc, in nhiều họa tiết, hoa văn khác nhau, khiến cho chiếc mũ trở nên thời trang hơn, phù hợp với nhiều lứa tuổi, sở thích của nhiều người. Lớp vỏ thứ hai ngay sau lớp nhựa cứng là một lớp đệm – một lớp xốp để làm giảm lực tác động khi đầu bị va chạm. Còn lớp trong cùng mà nhiều người có thể nhầm với lớp vỏ thứ hai là lớp làm bằng vải mềm nhằm mục đích êm đầu khi đội mũ, và giảm lực tổn thương nhiều nhất có thể khi bị va chạm. Bên cạnh đó, phần quai đeo thường khá dài, có thể điều chỉnh độ dài, ngắn phù hợp với người sử dụng. Phần quai đeo thường được sử dụng là màu đen, với phần khóa cài làm từ nhựa, dây quai là đan từ những sợi tổng hợp. Trên quai mũ, thường có miếng giữ cằm để cố định mũ. Khi đội mũ, chúng ta phải chỉnh dây đeo sao cho, miếng giữ cằm cân đối với cằm ta, thì mới là mũ vừa. Ngoài ra, một số loại mũ có kính chắn gió, thì miếng kính chắn gió này được làm từ nhựa cứng trong suốt để không cản trở tầm nhìn của người sử dụng.

Mũ bảo hiểm có thể nói là vật dụng rất phổ biến trong cuộc sống của chúng ta, bởi lẽ vai trò và công dụng mà nó mang đến rất trọng yếu. Trên cơ thể con người, phần đầu với vị trí của bộ não là vùng đặc thù cần được bảo vệ cẩn thận, bởi không chỉ nơi đây là trung ương thần kinh, mà còn là vùng dễ bị tổn thương. Vì thế việc đội mũ bảo hiểm có thể giúp con người giảm nguy cơ chấn thương sọ não khi phần đầu bị va chạm, bởi với kết cấu chắc chắn như trên, mũ bảo hiểm sẽ giảm va đập và hấp thu chấn động do sự va chạm mạnh từ các đồ vật hoặc do ngã xuống đường. Từ đó mà tỉ lệ tử vong đáng tiếc sẽ giảm, tính mạng của con người cũng được bảo đảm hơn một phần. Từ năm 2007, khi điều lệ đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông được đưa vào bộ luật của Việt Nam, thì tỉ lệ chấn thương sọ não do tai nạn giao thông xác thực là đã giảm đáng kể.

Mũ bảo hiểm cũng được chia thành bốn loại chủ yếu. Một là mũ bảo hiểm nửa đầu, chiếc mũ này dùng để bảo vệ phần nửa đầu trên, để người dùng có thể nghe thấy âm thanh khi di chuyển để phản xạ kịp thời, loại mũ này thường được sử dụng để đi chặng đường dài. Hai là mũ bảo hiểm có kính chắn gió, như tên gọi, loại mũ này sẽ có miếng kính chắn trước mặt, để tránh lực cản của gió, bụi bặm, giúp tầm nhìn của người sử dụng được thoáng, và bảo vệ cả đôi mắt. Loại thứ ba là mũ bảo hiểm có lỗ thông gió, trên chiếc mũ thường là ở phía sau đầu sẽ được thiết kế một cái lỗ để khiến phần đầu thoáng, và khô mồ hôi, khi đội mũ. Tuy nhiên cũng có những chiếc mũ, mà lỗ thông gió được thiết kế khác nhau, nên khi mua, ta cần hỏi kỹ nhà sản xuất xem lỗ thông gió sử dụng như nào. Và cuối cùng là mũ bảo hiểm ôm hết phần mặt, đây là loại mũ chuyên dùng cho dân phượt và những người đi xe phân phối lớn, chiếc mũ khá là dày và có thể bảo vệ hết phần đầu, và phần mặt tới cằm của người sử dụng, đồng thời cản gió, cản bụi khá tốt, loại mũ này không thường được sử dụng hằng ngày, bởi khá cồng kềnh và đắt.

Như vậy, ta có thể thấy mũ bảo hiểm tuy là vật dụng vô cùng quen thuộc nhưng cũng tương đối quan trọng trong cuộc sống hằng ngày. Đôi khi, nhờ có chiếc mũ bảo hiểm mà ta đã lướt qua mặt diêm vương lại được kéo về. Vì thế, mỗi người hãy lựa chọn cho mình một chiếc mũ bảo hiểm phù hợp về cả chất lượng, kiểu dáng và màu sắc phù hợp sở thích, để sử dụng cũng chính là bảo vệ không chỉ bản thân mà còn là bảo vệ mọi người xung quanh.

Khi điều khiển phương tiện giao thông thì chúng ta không thể thiếu một dụng cụ hết sức quan trọng, đó chính là mũ bảo hiểm đội đầu. Mũ bảo hiểm giao thông như là một người bạn của chúng ta và sẵn sàng bảo vệ chúng ta khi chúng ta đội nó. Vì vậy mũ bảo hiểm giao thông có vai trò to lớn đối với mỗi người. Từ khi mũ bảo hiểm giao thông bắt buộc phải sử dụng đã làm hạn chế tai nạn giao thông, giảm đáng kể số trường hợp tử vong do tai nạn giao thông gây ra.

Mũ bảo hiểm là vật dụng nhằm mục đích bảo vệ phần đầu của người đội khi có va đập lúc đua xe đạp, đi xe máy, ô tô, cưỡi ngựa… Tuy nhiên, theo nghĩa rộng hơn, mũ bảo hiểm còn chỉ đến những loại mũ có chức năng bảo vệ phần đầu được sử dụng trong lao động và trong hoạt động thể thao.

Cái chết của ông được các bác sĩ chăm sóc ông, trong đó có nhà phẫu thuật thần kinh Hugh Cairns nghiên cứu rất kĩ lưỡng. Bác sĩ Hugh Cairns bị ấn tượng bởi tai nạn của Lawrence và tiến hành một loạt nghiên cứu. Từ nghiên cứu của ông đã dẫn đến việc phát minh mũ bảo hiểm để sử dụng khi đi xe máy, mô tô,…

Về cấu tạo: lúc ban đầu, mũ được chế tạo từ kim loại nên khá nặng nề. Sau này, khi vật liệu mới phát triển, người ta đã có thể làm ra những chiếc mũ nhẹ hơn nhưng có tác dụng bảo vệ tốt hơn.

Mũ được cấu tạo bởi 3 loại vỏ: lớp vỏ ngoài, lớp đệm mềm, lớp lót và quai đeo. Lớp vỏ ngoài làm bằng nhựa cứng siêu bền, có chức năng chống va đập mạnh. Lớp thứ 2 làm bằng nhựa tổng hợp chứ không phải là kim loại, loại nhựa này thường được gia công bằng sợi carbon làm tăng độ bền và nhẹ. Lớp lót bên trong làm từ loại xốp cao cấp được nén tỉ trọng cao nên giúp mũ không bị ảnh hưởng gì khi có lực tác động vào, bảo vệ đầu khi có va đập mạnh.

Kết nối với phần cứng là một dây cài giúp giữ chặt nón vào đầu người khi tham gia giao thông. Bộ phận này có vai trò giữ chặt mũ trên đầu để không bị lệch khi đi xe và không văng ra khỏi đầu khi có sự cố xảy ra. Khi muốn tháo ra chỉ cần bấm mạnh hai bên của nút cài thì sẽ tháo được. Trên dây cài có một thiết bị nới giúp nới dây lỏng hay siết để mũ vừa với đầu mình.

Ngoài ra, mũ còn được thiết kế thêm cái kính chắn gió phía trước giúp mặt mình không bị gió thổi vào hay bụi bay vào làm cản trở tầm nhìn của mình. Trên quai đeo ngay phần cằm cổ có một miếng đệm giúp giữ chặt mũ.

Đối với một đất nước mà hầu hết các phương tiện giao thông là xe máy như Việt Nam thì thị trường và mặt hàng về mũ bảo hiểm khá phổ biến. Nhằm đáp ứng thị hiếu và nhu cầu người sử dụng, các nhà sản xuất cũng cho ra các kiểu mũ có nhiều hình dạng khác nhau với các hình vẽ ngộ nghĩnh như: con ếch, doraemon, superman,….

Chất lượng bảo vệ đầu của mũ phụ thuộc rất nhiều vào chất liệu sản phẩm, cách sử dụng sản phẩm nên giá thành cũng khác nhau. Tại Việt Nam, một chiếc mũ bảo hiểm chất lượng giá từ 250.000 nghìn trở lên. Những chiếc mũ giá rẻ thì chất lượng kém, không có giá trị bảo vệ khi tai nạn xảy ra. Nhờ có sự có mặt của mũ bảo hiểm, số người tử vong vì tai nạn giao thông giảm đáng kể một phần do không chấp hành nội quy, và một phần do không đội nón bảo hiểm.

Mũ bảo hiểm giao thông có tác dụng làm giảm va đập và hấp thụ chấn động do va đập giảm xung động, giảm nguy cơ gây chấn thương sọ não và các trường hợp tử vong do chấn thương phần đầu gây ra bởi tai nạn giao thông. Nhờ phần kính chắn gió bảo vệ, tầm nhìn của người điều khiển phương tiện cũng tốt hơn, giúp chủ động trong các trường hợp nguy hiểm. Chiếc mũ đội đầu còn có vai trò làm đẹp hơn hình ảnh người tham gia giao thông.

Bên cạnh những chiếc mũ an toàn thì cũng có những chiếc mũ kém chất lượng, hàng nhái, hàng giả. Đó chính là mối quan tâm cho nhiều người dân hiện nay. Nón bảo hiểm chất lượng phải là nón có tem chống giả được dán bởi bộ kiểm định chất lượng, nếu là hàng nhập khẩu từ nước ngoài thì phải có tem kiểm tra. Trên mũ thường có những thông số về: kích thước, ngày sản xuất, địa chỉ sản xuất…Khi mua đúng mũ chất lượng chúng ta thường có giấy bảo hành từ nhà sản xuất phòng khi mũ có vấn đề trục trặc.

Mũ bảo hiểm giao thông là một đồ dùng rất quan trọng, không thể thiếu khi tham gia giao thông trên đường. Mũ không những giúp bảo vệ con người mà còn tạo nên ý thức văn hóa trong tham gia giao thông của con người.

Mũ bảo hiểm có vai trò to lớn đối với mỗi người chúng ta. Chúng cứ như những người bảo vệ đi theo bảo vệ ta khi điều khiển phương tiện giao thông. Vì thế, hãy sử dụng, trân trọng và giữ gìn nó khi tham gia giao thông để bảo vệ tính mạng của chúng ta.

Thuyết minh mũ bảo hiểm hay nhất

Những người tham gia giao thông đi xe gắn máy luôn luôn là một trong những đối tượng phải bắt buộc đội mũ bảo hiểm. Mũ bảo hiểm ra đời như để bảo vệ người tham gia giao thông. Theo thống kê thị số người tham gia giao thông bị tai nạn thì việc thương tích ở đầu là rất lớn. Có lẽ chính bởi thế mà để đề phòng những tình huống xấu nhất về tai nạn thì chiếc mũ bảo hiểm thực sự là một sự lựa chọn cần thiết nhất.

Hiện nay, ta như biết được rằng mũ bảo hiểm là loại mũ được cấu tạo đặc biệt dùng để bảo vệ đầu người khi bị tai nạn giao thông xảy ra. Thế rồi chiếc mũ cấu tạo gồm ba lớp. Đối với lớp thứ nhất ở bên ngoài là lớp vỏ cứng được làm từ nhựa đặc biệt, cao cấp hơn người ta còn sử dụng sợi carbon siêu nhẹ. Còn ở lớp thứ hai là miếng xốp dày để giảm chấn động cho đầu khi bị va đập mạnh. Chưa hết, đó còn có một lớp trong cùng được cấu tạo bằng một chất liệu mềm và thưa để làm thoáng khí và làm êm đầu khi đội mũ bảo hiểm dù có trọng lượng rất nặng.

Mũ còn được cấu tạo bởi bộ phận quan trọng đó chính ở bên dưới nón là dây quai nón có tác dụng giữ nón chặt, không bị tuột hay mũ bị xô lệch khi đội. Đặc biệt hơn nữa đó chính là kể cả khi người sử dụng bị té ngã hay chịu lực tác động khác thì nó vẫn giữ chặt vào đầu người. Dễ dàng nhận thấy được rằng chính dây được may từ sợi dây dù vừa rẻ, lại cũng rất bền, chắc. Còn đối với hàng cao cấp hơn thì dây được làm bằng da chắc chắn và có tuổi thọ cao. Người thiết kế ra chiếc mũ bảo hiểm cũng đã có cách là gắn chặt với dây đeo đó là một chiếc móc khóa. Chiếc mũ này giúp cố định dây đồng thời cũng như điều chỉnh độ dài của dây.

Trong thị trường hiện nay thì ta như thấy được chính mũ bảo hiểm ở một số loại có từ 2 đến 3 lỗ để hầm gió để khi di chuyển sẽ tạo ra nguồn gió làm thông thoáng bên trong mũ giúp cho người đội cũng sẽ cảm thấy thoải mái hơn.

Hình dạng của chiếc mũ bảo hiểm hiện nay cũng rất đa dạng. Nhưng chia ra thành hai loại đó chính là mũ nửa đầu và mũ trùm đầu. Thông thường thì mũ trùm đầu có trọng lượng nhẹ hơn và được nhiều người sử dụng hơn. Mũ nửa đầu rất thích hợp dùng cho con trẻ vì trọng lượng nhẹ. Còn với mũ trùm đầu thì nó được coi như “nồi cơm điện” tính an toàn cao nhưng trọng lượng thì hơi nặng.

Hiện nay vấn đề màu sắc của những thiết kế mũ bảo hiểm này cũng được chú trọng hơn. Để phù hợp với từng sở thích của người sử dụng. Và những chiếc mũ bảo hiểm hiện nay không còn đơn điệu mà cũng rất trẻ trung năng động, có thêm rất nhiều chi tiết hoa văn cách điệu cho thật xinh xắn nữa.

Ngoài ra ta như thấy được rằng, để tăng thêm tiện ích cho mũ bảo hiểm, các nhà sản xuất đã gắn thêm lưỡi trai ngắn hay kính để che bụi giúp cho nón. Hiện nay, ta như đôi khi ta vẫn thấy có những nón có nhiều phụ kiện làm đẹp thái quá. Có rất làm cho người khác như có cảm giác phản khoa học như các phụ nữ thường gắn thêm miếng vải che nắng hoặc do thói quen đội nón vải mà nhiều người đã gắn thêm miếng lưỡi trai quá dài. Tuy nhiên ta như thấy được cũng chính điều đáng nói là tất cả nón này đều không được các nhà sản xuất lớn, nổi tiếng có uy tín sản xuất ra và đây chỉ là những xưởng thủ công nhỏ lẻ tự phát mà thôi.

Hiện nay, ta như cũng đã biết được rằng những chiếc mũ bảo hiểm có quá nhiều giá, nhiều loại và nhiều chất lượng khác nhau. Cho nên việc mua hàng cũng rất cần tỉnh táo để có thể tránh được việc mua phải hàng nhái với số tiền lớn. Bạn cũng nên nhớ rằng mũ bảo hiểm trong nước phải có dấu CS (dấu do tự doanh nghiệp công bố sản phẩm của mình phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam). Còn đối với mũ ngoại nhập không có dấu CS nhưng phải có tem kiểm tra. Khi người tiêu dùng đi mua thì cũng nên xem các thông số ghi trên mũ: Tên và địa chỉ đơn vị sản xuất, cỡ mũ, ngày sản xuất, hướng dẫn sử dụng đặc biệt hơn đó cũng chính là những kí hiệu này phải rõ ràng, không lu mờ, trơn bóc.

Khi bạn sử dụng mũ bảo hiểm thì bạn cũng nên thay chiếc nón bảo hiểm mới sau 5 năm sử dụng để đúng như theo lời khuyến cáo của các nhà nghiên cứu.

Mũ bảo hiểm thực sự là người bạn thân thiết cho những ai tham gia giao thông để có thể bảo vệ chính tính mạng của chúng ta.

Đi kèm với sự phát triển không ngừng của xã hội là sự xuất hiện của những vấn nạn nghiêm trọng ảnh hưởng rất lớn đến con người. Một trong những vấn nạn đó phải kể đến là vấn nạn giao thông. Vậy, làm sao để bảo vệ bản thân và người khác khỏi những mối đe dọa tốc độ? Đó là phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông.

Luật giao thông đường bộ năm 2008 cũng quy định: “Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy phải đội mũ bảo hiểm có cài quai đúng quy cách”. Vì vậy, nón bảo hiểm nghiễm nhiên trở thành bạn đồng hành không thể thiếu đối với mọi người khi tham gia giao thông.

Nón bảo hiểm có cấu tạo như thế nào? Đó là một loại nón có cấu tạo gồm ba lớp rất chắc chắn. Lớp thứ nhất là lớp chúng ta có thể nhìn thấy ngay bên ngoài – lớp vỏ. Đại đa số lớp vỏ của nón bảo hiểm được làm bằng chất liệu nhựa rất cứng, trên bề mặt của lớp vỏ được phủ sơn với nhiều màu sắc khác nhau và in logo của nhà sản xuất.

Một số nón bảo hiểm chuyên dùng cho trẻ em còn in những hình ảnh khá cầu kì, tạo sự thích thú cho những “khách hàng nhí”. Ngoài ra còn có những dòng nón bảo hiểm cao cấp sử dụng hợp kim nhôm hoặc hợp kim cacbon làm lớp vỏ bên ngoài để làm giảm trọng lượng của nón, tạo sự thoải mái mà vẫn đảm bảo chức năng giữ an toàn cho người đội. Lớp thứ hai là lớp quan trọng nhất – lớp mút xốp dày giữ vai trò giảm chấn động cho đầu khi gặp phải những va chạm mạnh bất thình lình.

Lớp thứ ba – lớp trong cùng – là lớp tiếp xúc với phần đầu của chúng ta. Vì tiếp xúc với phần đầu con người nên nó phải là một lớp lưới hoặc mút mỏng, thông thoáng, tạo cảm giác êm ái cho người dùng. Bên dưới nón là bộ phận dây gài giúp giữ chặt nón vào đầu. Bộ phận dây gài cũng gồm hai phần, một phần gắn chặt với nón được thiết kế khá chu đáo, có thể điều chỉnh độ dài ngắn của quai nón phù hợp với kích cỡ đầu của từng người, một phần là móc khóa không cố định, có thể dễ dàng gắn vào khi cần và mở ra khi không sử dụng.

Nón bảo hiểm có bao nhiêu loại? Dựa vào hình dáng bên ngoài ta có thể chia nón bảo hiểm thành hai loại: loại bảo hộ toàn bộ phần đầu và loại bảo hộ nửa đầu. Loại bảo hộ nửa đầu ngày nay được người sử dụng ưa chuộng hơn vì độ gọn, nhẹ và tiện ích của chúng.

Tuy nhiên, so với loại bảo hộ toàn phần đầu thì nón bảo hiểm nửa đầu có mức độ bảo vệ thấp hơn. Các nhà sản xuất có uy tín cũng tập trung chú ý sản xuất các mặt hàng mũ bảo hiểm toàn phần đầu nhiều hơn. Mũ bảo hiểm toàn phần đầu có thêm tấm kính trong suốt phía trước giúp ngăn chặn bụi bẩn, giảm áp lực của gió tạt vào mặt người dùng khi tham gia giao thông.

Một chiếc nón bảo hiểm đảm bảo chất lượng có giá từ vài trăm trở lên. Tuy nhiên, hiện nay, một số nhà sản xuất chỉ chú trọng vào mục đích, không quan tâm đến tính mạng con người đã tung ra thị trường những loại mũ bảo hiểm kém chất lượng với giá rất rẻ đánh vào tâm lý người dùng Việt Nam. Đây là một hành động phi nhân đạo, cần phải có những biện pháp xử lý nghiêm minh, thích đáng. Mỗi người cần có ý thức tự bảo vệ bản thân, đừng vì giá rẻ, lợi ích trước mắt mà lựa chọn những mặt hàng mũ bảo hiểm kém chất lượng.

Đúng như tên gọi của nó, nón bảo hiểm có chức năng bảo vệ phần đầu – bộ phận rất quan trọng trên cơ thể người khỏi những tác nhân gây nguy hiểm. Khi tham gia giao thông, đôi khi con người sẽ không thể kiểm soát tay lái hoặc vô tình bị – gây – tai – nạn, vì vậy cần phải đội nón bảo hiểm để hạn chế những va đập mạnh ảnh hưởng đến vùng đầu, vùng cổ.

Chúng ta phải lựa chọn và sử dụng nón bảo hiểm như thế nào để phát huy tối đa tác dụng bảo vệ? Trước hết, trong việc lựa chọn, người dùng cần sáng suốt, xứng đáng là một người tiêu dùng thông minh khi chọn mua những sản phẩm mũ bảo hiểm đảm bảo chất lượng.

Vậy, thế nào là một nón bảo hiểm chất lượng? Nón bảo hiểm chất lượng phải là nón có tem chống giả được dán bởi bộ kiểm định chất lượng, nếu là hàng nhập khẩu phải có tem kiểm tra. Trên mũ bảo hiểm phải có đầy đủ những thông tin như: kích thước nón, ngày sản xuất, cơ sở sản xuất, địa chỉ cơ sở sản xuất.

Khi mua nón bảo hiểm chất lượng người dùng sẽ được nhận giấy bảo hành của cơ sở sản xuất để được hỗ trợ khi có vấn đề trục trặc trong quá trình sử dụng sản phẩm nón bảo hiểm đó. Thứ hai, người tiêu dùng cần chọn những nón bảo hiểm vừa vặn với kích cỡ phần đầu của mình, không chọn mua những sản phẩm quá rộng hoặc quá chật dù nó có đẹp hơn, bắt mắt hơn.

Vậy, thế nào là vừa? Bạn hãy thử đội nón bảo hiểm vào đầu, cài quai vào, lắc đầu sang trái, sang phải xem nón có ôm trọn phần đầu của mình hay không. Nón vừa ôm trọn phần đầu, tạo cảm giác thoải mái khi đội. Nếu nón bị xê dịch nghĩa là nó rộng so với đầu của bạn, nếu đội vào không cảm thấy thoải mái nghĩa là nó hơi hẹp so với đầu của bạn, cả hai trường hợp đó đều không nên chọn mua.

Advertisement

Thứ ba, trong quá trình sử dụng, người dùng cần thường xuyên kiểm tra chất lượng nón để đảm bảo an toàn khi sử dụng. Nón đã bị va chạm mạnh không nên tiếp tục sử dụng. Những chiếc nón có bộ phận dây gài nón bị hư, lớp mút bên trong đã không còn đàn hồi tốt cũng không nên “tận dụng xài tạm”, đối phó.

Hàng ngày, sau khi đội, bạn nên để nón ở những nơi thoáng mát hoặc đem phơi nắng để hong khô, giết chết vi khuẩn gây các bệnh nấm da đầu. Các nhà sản xuất khuyên rằng: Khi sử dụng được năm năm, dù nón vẫn còn sử dụng được vẫn nên đổi nón mới để đảm bảo tốt nhất sự an toàn của chính bản thân.

Ngày nay việc bắt gặp hình ảnh người tham gia giao thông điều khiển xe máy mang mũ bảo hiểm là một điều hiển nhiên trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Thế nhưng để có được hình ảnh đó thì đã tốn không ít công sức của các cấp chính quyền. Trải qua những cuộc vận động, những chiến dịch tuyên truyền và một khoảng thời gian để người dân thích nghi cuối cùng đã có được kết quả như ngày nay.

Thế nón bảo hiểm là gì và tại sao lại cần thiết đến nỗi mất đến cả một khoảng thời gian dài để người dân thích nghi với nó?Năm 2007, bộ giao thông vận tải áp dụng quy định con người phải đội mũ bảo hiểm khi sử dụng xe mô tô, xe gắn máy vào thực tế. Mũ bảo hiểm được biết đến với công dụng là bảo vệ đầu của người sử dụng khi bị tai nạn giao thông. Một chiếc mũ bảo hiểm bao gồm có ba lớp. Lớp đầu tiên ở phần bên ngoài chính là lớp vỏ cứng.

Lớp này được làm từ nhựa đặc biệt, hoặc người ta có thể sử dụng sợi carbon siêu nhẹ với những chiếc mũ cao cấp hơn. Lớp thứ hai chính là lớp chính giữa. Mang một chức năng chính để làm nên chiếc mũ bảo hiểm chính là giảm lực chấn động lên đầu khi có tác động mạnh từ bên ngoài. Phần này thường được làm từ những miếng xốp dày vì xốp là vật liệu có khả năng giảm lực va đập và có trọng lượng nhẹ.

Lớp lót trong cùng được làm bằng chất liệu mềm và thoáng khí. Điều này sẽ giúp cho người đội có cảm giác êm và thoáng khí hơn khi đội mũ.Một điều không thể thiếu cho người đội mũ đó chính là phần dây quai nón bảo hiểm. Phần này có vai trò rất quan trọng chính là giữ nón cố định với đầu của người sử dụng.

Bất kể là trường hợp người dùng bị té, hay có những tác động khác thì chiếc mũ vẫn cố định ở trên đầu và bảo vệ đầu của người sử dụng. Phần quai mũ được làm từ chất liệu là sợi dây dù vừa chắc, bền lại còn có giá thành vừa phải. Còn đối với những chiếc mũ cao cấp hơn sẽ có phần quai được làm bằng da. Để thuận lợi cho người sử dụng khi đội nón và cởi nón, dây quai nón sẽ được chia làm hai phần. Hai đầu này được gắn lại với nhau bằng một chiếc khóa nhựa chắc chắn.

Bên trên sợi dây còn được gắn thêm một miếng cao su để tránh cọ xát vào phần cằm hay cổ người dùng gây khó chịu. Miếng cao su này còn có tác dụng giúp cho mũ bảo hiểm được giữ một cách cố định hơn.Vì mỗi người sẽ có một kích cỡ đầu khác nhau nên phần quai cũng được thiết kế thêm một khớp để nới dây dài, ngắn tùy mỗi người. Ở một số loại mũ bảo hiểm còn được thiết kế thêm những lỗ thoáng khí để khi di chuyển sẽ làm không khí bên trong mũ thông thoáng, tránh cảm giác nóng bức cho người dùng.

Đối với Việt Nam, một nước nhiệt đới có khí hậu nóng quanh năm thì việc sử dụng những loại mũ bảo hiểm có lỗ thông gió hết sức thông dụng. Với khí hậu nóng cùng những đợt nắng nóng nên nón bảo hiểm còn có tên gọi vui là “nồi cơm điện”. Bởi vì thế những chiếc lỗ thông gió này chính là vị cứu tinh vào mùa hè nóng nực bức bối ở nước ta. Ngoài ra còn có nút bịt những lỗ thông gió này vào mùa mưa.

Có hai loại nón thông thường được nhiều người sử dụng là nón nửa đầu và nón trùm đầu. Nón nửa đầu có ưu điểm là có giá thành rẻ và trọng lượng nhẹ hơn so với nón trùm đầu. Vì thế nó được người dùng ưa chuộng và phổ biến hơn nhiều. Tuy nhiên nói về độ an toàn thì nón bảo hiểm trùm đầu vẫn có sự bảo vệ toàn diện hơn so với nón nửa đầu.

Mỗi chiếc mũ đều có ưu điểm riêng nên vẫn có người lựa chọn kiểu này và kiểu kia tùy theo sở thích của mình. Với xu hướng đa phong cách hiện nay thì mũ bảo hiểm không chỉ là một món đồ bảo vệ cơ thể mà nó còn thể hiện được phong cách của người dùng.

Bởi vì lẽ này nên thị trường mũ bảo hiểm ngày nay rất đa dạng từ kiểu dáng cho tới màu sắc. Đối với lứa tuổi trưởng thành thì thường sẽ có những màu sắc nhã nhặn và lịch sự. Còn với những em nhỏ thường là những chiếc mũ bảo hiểm có màu sắc bắt mắt, tạo hình sinh động cho các em thích thú và tập thói quen đội mũ bảo hiểm.

Mũ bảo hiểm còn được tăng thêm tiện ích cho người dùng khi đi ngoài nắng đó là phần lưỡi trai hay kính che bụi.Chúng ta nên trang bị cho mình kiến thức để bảo quản nón bảo hiểm một cách tốt nhất. Đầu tiên bạn nên tránh để cho mũ va đập quá nhiều vì sẽ khiến chất lượng sản phẩm giảm đi.

Có thói quen thường xuyên vệ sinh miếng lót bên trong để tránh tình trạng ẩm mốc vì mồ hôi. Đặc biệt bạn nên tránh việc đội chung mũ bảo hiểm với người khác vì có những bệnh về da đầu và vấn đề vệ sinh không hề an toàn. Không nên sử dụng những chất tẩy rửa mạnh để lau chùi mũ vì rất dễ làm hỏng mũ.

Theo như lời khuyến cáo của các nhà nghiên cứu thì chúng ta nên thay nón bảo hiểm mới sau 5 năm sử dụng. Mũ bảo hiểm chính là một người bạn luôn đồng hành cùng bạn trên mỗi cung đường đi học và làm việc. Vì vậy ta cần chọn những chiếc mũ bảo hiểm đảm bảo chất lượng cho bản thân. Bạn cần tỉnh táo để chọn cho mình chiếc mũ bảo hiểm chất lượng.

Tránh việc chọn phải mũ bảo hiểm đều để rồi tiền mất tật mang. Đối với sản phẩm mũ bảo hiểm trong nước thì sẽ có dấu CS đại diện cho việc phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam. Còn mũ được nhập khẩu từ nước ngoài dù không có dấu CS nhưng sẽ phải có tem kiểm tra. Bởi vậy người tiêu dùng cần kiểm tra kĩ những thông số trên mũ như địa chỉ sản xuất, ngày sản xuất, cỡ mũ, hướng dẫn sử dụng.

Những thông tin này phải được in một cách chắc chắn, rõ ràng. Chiếc mũ bảo hiểm gắn liền với sự an toàn của bản thân chúng ta và người thân nên bạn hãy sáng suốt khi lựa chọn nhé.

Có thể nhận thấy được rằng chính trong cuộc sống, hình ảnh người tham gia giao thông với chiếc mũ bảo hiểm không còn quá xa lạ với chúng ta. Việc chúng ta tham gia giao thông thì nên đội mũ bảo hiểm cũng là một trong những nội quy bắt buộc mà nhà nước chính quyền ban hành trong điều luật giao thông. Chính vì điều này mà chiếc mũ bảo hiểm luôn luôn có một vai trò vô cùng quan trọng và nó đem lại rất nhiều lợi ích to lớn.

Nói riêng về mặt cấu tạo thì mũ bảo hiểm là loại mũ đặc biệt dùng bảo vệ đầu của con người khi bị tai nạn giao thông hay bị va chạm quá mạnh. Khi có chiếc mũ bảo hiểm cũng sẽ giúp bạn an toàn hơn khi tham gia giao thông. Mũ bảo hiểm thường cấu tạo bằng ba phần đó chính là phần vỏ ngoài, lớp lót trong và các phụ kiện đi kèm theo (quai mũ, kính chắn gió…).

Nói về phần vỏ mũ được làm từ vật liệu nguyên sinh, có độ bền cao. Tiếp theo đó chính là phần mũ được làm từ các loại nhựa tổng hợp chứ nó không phải kim loại. Với phần vỏ này thường được làm gia công bằng sợi cacbon tăng độ bền và độ nhẹ cho chiếc mũ bảo hiểm để giúp người đội cũng sẽ cảm nhận thấy được sự thoải mái hơn.

Với lớp lót bên trong mũ được bằng loại xốp cao cấp để có thể nén tỉ trọng cao giúp mũ không bị ảnh hưởng khi có tác động lực mạnh từ bên ngoài. Chính từ phần bên trong mũ được thiết kế những khe thông gió để người đội cũng cảm nhận được sự thoải mái hơn. Đối với những lỗ thông gió tưởng chừng như đơn giản như vậy thôi nhưng cũng phải được thiết kế khoa học để người đội có cảm giác thông thoáng, không gây ngứa ngáy da đầu một chút nào.

Ngay ở phần phía dưới nón chính là quai nón, chính điều này cũng sẽ có tác dụng giữ cho nón chắc và giữ chặt vào đầu người khi tham gia an toàn giao thông kể cả khi người sử dụng có bị té ngã hay chịu một lực tác động khác cho dù có mạnh thì vẫn cứ giữ chặt đầu người để giảm thiểu nhất những rủi ro không đáng có va chạm vào đầu. Có thể nói đây chính là một loại dây dù vừa rẻ mà cũng vừa bền. Nhiều chiếc mũ cũng được thiết kế với dây da cao cấp hơn.

Nói về cách sử dụng mũ bảo hiểm rất đơn giản vì người ta chia sợi dây thành 2 phần gắn lại với nhau bằng một chiếc móc khóa nhựa rất chắc. Thêm với đó chính là một miếng cao su hay nhựa dẻo được gắn trên sợi dây, sợi dây này hoàn toàn có thể di động được để phù hợp với vị trí cằm. Chúng ta nhận thấy được ở trên sợi dây đó còn có một khớp nới để người dùng điều chỉnh tùy ý, điều này giúp nón giữ chặt với đầu và phù hợp với người sử dụng an toàn hơn rất nhiều.

Hiện trên thị trường thì cũng xuất hiện rất nhiều loại mũ nên cũng có đa dạng những hình dạng. Tuy nhiên có lẽ phổ biến nhất là 2 loại mũ bảo hiểm thông dụng đó chính là phần nón nửa đầu và nón trùm hết đầu. Đặc điểm của chiếc nón trùm hết đầu khá cồng kềnh, thế nhưng ưu điểm của nó lại có độ an toàn vô cùng tốt.

Vì bao bọc quanh đầu nên nó có khả năng chống bụi, có mặt kính khá an toàn phía trước không hại mắt người nhìn. Tuy nhiên, một thực tế đáng nói là chiếc mũ này thì không được sử dụng phổ biến mà chỉ được cảnh sát, dân đi phượt yêu thích. Với loại mũ thứ hai đó là loại mũ nửa đầu được sử dụng phổ biến nhất, tuy là loại mũ không có được độ an toàn cao như mũ trùm đầu nhưng lại tiện dụng cũng như tạo được cảm giác thoải mái cho người sử dụng.

Thực sự thì đối với một đất nước mà hầu hết các phương tiện giao thông là xe máy như Việt Nam thì chúng ta dễ dàng có thể nhận thấy được thị trường và mặt hàng về mũ bảo hiểm khá phát triển và cũng vô cùng cần thiết đối với con người. Khi đời sống ngày càng một nâng cao, nhà sản xuất cũng vì thế mà cho ra rất nhiều loại mũ bảo hiểm khác nhau vừa đẹp vừa đáp ứng đúng thị hiếu của người dùng.

Song hành cùng với những loại mũ bảo hiểm an toàn thì sẽ vẫn còn tồn tại những loại mũ bảo hiểm giả. Thậm chí những chiếc mũ bảo hiểm này còn gây nguy hại cho người đội vì dễ vỡ, chỉ cần tác động nhẹ là cũng có thể vỡ gây ảnh hưởng đến người đội.

Quý khách hàng lưu ý khi mua nón bảo hiểm chất lượng phải là nón có tem chống giả được dán bởi bộ kiểm định chất lượng. Trường hợp nếu như là hàng nhập khẩu từ nước ngoài thì phải có tem kiểm tra kỹ lưỡng. Thêm với đó trên mũ thường có những thông số về các loại như kích thước, ngày sản xuất, địa chỉ sản xuất.

Việc bảo quản và sử dụng chiếc mũ một cách lâu bền nhất mỗi người cần có những lưu ý cẩn thận và khi sử dụng phải để nơi khô ráo và tránh nơi ẩm mốc. Vì khi đó lớp vải trong mũ rất dễ bị ẩm mốc và gây ra một mùi hôi vô cùng khó chịu. Chúng ta không nên đội chung mũ với người khác mà hãy có cho mình một chiếc mũ riêng vừa đảm bảo phù hợp với mình vừa tránh được những mùi hôi, bẩn hay đơn giản không hợp với phong cách của bạn.

Thực sự thì chiếc mũ bảo hiểm như người bảo hộ cho chúng ta khi bước ra ngoài, đồng thời chiếc mũ cũng được mệnh danh là một thiên thần hộ mệnh mang đến sự an toàn cho người đội. Chúng ta hãy chọn lựa một chiếc mũ bảo hiểm thật đẹp và thật phù hợp cho riêng mình và để có thể bảo quản được tính mạng của chính mình khi tham gia giao thông.

“Mũ bảo hiểm” viết tắt của là “Mubahi” là “một vật dụng bảo vệ” phần đầu của người tham gia giao thông. Mũ bảo hiểm có cấu tạo đặc biệt theo những quy tắc, tiêu chuẩn riêng. Mũ bảo hiểm là vật dụng nhằm mục đích bảo vệ phần đầu của người đội khi có va đập lúc đua xe đạp, đi xe máy, ô tô, cưỡi ngựa với nghĩa này, ở Việt Nam, người ta gọi bóng gió là nồi cơm điện.

Tuy nhiên, theo nghĩa rộng hơn, mũ bảo hiểm còn chỉ đến những loại mũ sắt, mũ cối trong quân đội, các loại mũ bảo vệ người chơi thể thao (bóng bầu dục, bóng chày, khúc côn cầu, trượt tuyết, hay các loại mũ bảo hộ lao động xây dựng, khai mỏ.

Lịch sử hình thành và phát triển của Mũ Bảo Hiểm là gì? Theo truyền thống, mũ bảo hiểm không được làm bằng kim loại mà bằng nhựa tổng hợp như ABS,HDPE nhưng những thập niên gần đây, chất liệu được gia cường bằng Sợi Carbon để có độ bền cao và nhẹ hơn.

Sự thúc đẩy mạnh mẽ phong trào, thậm chí bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi điều khiển các phương tiện hai bánh đã từng là đề tài tranh luận nóng bỏng của nhiều người và những nhà khoa học trong thập niên 1990. Đến nay, nhiều quốc gia đã áp dụng luật này. Lịch sử ghi nhận mũ bảo hiểm (Mũ bảo hiểm) xuất hiện cùng thời với chiến tranh. Trước những loại vũ khí như dao, kiếm, mác, quân đội của người Assyria, Ba Tư, đã tìm ra một vật dụng có thể bảo vệ đầu của binh lính: đó là chiếc mũ.

Ban đầu, mũ được làm bằng da rồi dần dần được rèn sắt. Đến thời người Hy Lạp tham chiến, họ chế tạo ra chiếc Mũ bảo hiểm bằng đồng, có chóp nhọn đặc trưng. Mũ được gia cố chắc chắn thêm như có phần che chắn cho mặt (chỉ để hở một khoảng nhỏ để nhìn và thở), chiều dài mũ cũng được tăng thêm – mũ trùm kín cả đầu.

Lịch sử hình thành và phát triển của Mũ Bảo Hiểm là gì? Người La Mã phát triển hình dạng Mũ bảo hiểm thêm một bậc nữa, đó là chế tạo mũ cho binh lính riêng và mũ cho các võ sĩ giác đấu riêng. Phần vành mũ được nới rộng có phần lưỡi trai đằng trước để cải thiện tầm nhìn, tránh trường hợp binh sĩ bị lóa sáng.

Vào thế kỉ 16-17, chiếc mũ được làm bằng thép nhẹ như thời trung cổ nhưng vành rộng hơn. Thế kỷ 18-19, tiến bộ trong công nghiệp vũ khí đánh dấu sự thoái trào của kiếm và giáo mác đồng thời các loại súng trường, súng lục lên ngôi. Mũ bảo hiểm ít được trọng dụng hơn trước, đa phần chỉ được sử dụng bởi kỵ binh. Tuy nhiên đến chiến tranh thế giới thứ nhất, mũ làm từ thép lại được coi là thiết bị bảo vệ cho người lính, chống lại các mảnh kim loại văng ra mỗi khi pháo nổ.

Năm 1914, người Pháp chính thức coi Mũ bảo hiểm là trang bị tiêu chuẩn của người lính. Lần lượt, Anh, Đức và các nước Châu Âu còn lại cũng theo gương. Ngày nay, Mũ bảo hiểm dần dần thâm nhập vào đời sống chứ không đơn thuần là trang bị của quân đội. Mũ bảo hiểm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như hàng không vũ trụ, quân đội, thể thao. Công nhân và kỹ sư vào phân xưởng lúc nào cũng phải đội mũ. Các vận động viên nhiều môn thể thao như đấu kiếm, võ thuật, bóng bầu dục rất cần Mũ bảo hiểm để an toàn.

Người tham gia giao thông trên xe máy, xe đạp được khuyến cáo phải đội mũ bảo hiểm. Tại Việt Nam, từ ngày 15 tháng 12 năm 2007 bắt đầu bắt đội mũ bảo hiểm đối với người ngồi trên mô tô xe máy trên mọi tuyến đường. Cấu tạo: Lớp vỏ ngoài làm từ nhựa cứng. Trong là đệm bảo vệ được làm bằng xốp,bảo vệ đầu khi va chạm. Quai cài và có miếng giữ cằm để cố định mũ. Kính chắn gió làm từ nhựa trong suốt.

Tác dụng: Giảm va đập và hấp thu chấn động do va đập. Giảm nguy cơ gây chấn thương sọ não. Mũ bảo hiểm là vật dụng nhằm mục đích bảo vệ phần đầu của người đội khi có va đập lúc đua xe đạp, đi xe máy, ô tô, cưỡi ngựa với nghĩa này, ở Việt Nam, người ta gọi bóng gió là nồi cơm điện.

Đi trên đường phố, hình ảnh những người đi xe máy, đi xe đạp điện đội mũ bảo hiểm đã trở nên quen thuộc đối với chúng ta. Trước đây, mũ bảo hiểm không được dùng phổ biến như bây giờ. Tuy nhiên, từ ngày Nhà nước đưa luật đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông vào áp dụng thì người dân đã rất tuân thủ chấp hành. Chiếc nón bảo hiểm có gì mà phải đưa vào luật để mọi người phải tuân theo như vậy?

Khác với những loại mũ khác, mũ bảo hiểm có nét đặc biệt riêng. Đúng như tên gọi của nó, mũ bảo hiểm có công dụng bảo vệ cho đầu của chúng ta an toàn khi tham gia giao thông. Cấu tạo của một chiếc mũ bảo hiểm đạt chuẩn gồm có 3 lớp. Đầu tiên là lớp vỏ cứng ở bên ngoài được làm từ một loại nhựa cao cấp chống va đập. Nhờ vậy mà chiếc mũ mới có tác dụng bảo vệ tốt. Lớp thứ hai là một miếng xốp. Miếng xốp này dùng để giảm chấn động cho đầu trong trường hợp không may có sự va đập mạnh. Lớp thứ ba cũng là lớp trong cùng là một lớp vải mềm học bên ngoài lớp xốp. Chúng không chỉ mang lại tính thẩm mĩ cho mũ mà còn là bộ phận làm thoáng khí và tạo cảm giác êm ái cho người đội mũ.

Ngoài các bộ phận trên, một bộ phận không thể thiếu nữa của nón bảo hiểm đó chính là quai đeo. Chiếc quai đeo này thường được làm bằng vải gai dù và có gắn vào khóa bấm bằng nhựa. Chúng được gắn chắc chắn với phần thân mũ, nhờ vậy mà người đội có thể giữ được chiếc mũ trên đầu mình. Chiếc dây này được làm theo độ dài khác nhau. Người sử dụng có thể tùy chỉnh dây sao cho vừa vặn với mình nhất. Phần thân mũ cũng vậy, chúng được thiết kế với nhiều kiểu dáng và kích thước khác nhau để phù hợp với đầu của từng người. Chẳng hạn như các em nhỏ sẽ đội những chiếc nón nhỏ. Người lớn thì đội những chiếc nón lớn hơn.

Về hình dáng của nón bảo hiểm, chúng ta dễ nhận thấy nón có hai loại chính. Một loại là mũ bảo hiểm nửa đầu, một loại là mũ bảo hiểm cả đầu. Hình dáng này cũng là để phù hợp với mục đích sử dụng của mọi người. Với những người di chuyển quãng đường ngắn thì dùng mũ nửa đầu còn những người di chuyển quãng đường dài thì nên dùng mũ đội cả đầu cho an toàn.

Những loại mũ cả đầu thường có thêm 2 đến 3 lỗ hầm gió. Nhờ vậy mà khi di chuyển, gió có thể lùa vào giúp người dùng có sự thông thoáng. Đối với đất nước khí hậu nhiệt đới như ở Việt Nam thì những lỗ hầm gió như thế này là rất quan trọng. Nhiều người vẫn thường gọi vui mũ bảo hiểm cả đầu là cái nồi cơm điện.

Ban đầu, mũ bảo hiểm được làm khá thô sơ, màu sắc và kiểu dáng cũng không đa dạng như bây giờ. Càng ngày, người ta càng cải tiến nhiều hơn để mũ bảo hiểm trở nên thời trang hơn. Những chiếc mũ được gắn thêm kính, tạo hình lưỡi trai hay gắn decan ở trên mũ. Nhờ vậy mà mọi người cũng không còn ghét mũ bảo hiểm như trước nữa.

Mặc dù vậy khi đi ra đường thi thoảng chúng ta vẫn trông thấy những người đi xe máy mà không chịu đội mũ bảo hiểm, đội mũ nhưng không cài quai, đội những chiếc mũ không được cấu tạo đủ tiêu chuẩn chất lượng hoặc đội mũ bảo hộ lao động. Đây đều là những hành vi sai trái, thiếu hiểu biết đáng bị lên án. Chúng ta đội mũ bảo hiểm không phải vì chống đối lại pháp luật mà chúng ta đội mũ bảo hiểm cho chính bản thân mình. Có biết bao nhiêu vụ tan nạn thương tâm cũng chỉ vì không đội mũ bảo hiểm mà ra. Chẳng nhẽ chúng ta lại đùa cợt với chính sinh mạng của mình như vậy?

Từ nay, chúng ta hãy nhìn nhận về nón bảo hiểm một cách đúng đắn hơn. Hãy để chúng đồng hành cùng với chúng ta mỗi khi ra khỏi nhà. Và hãy để nón bảo hiểm bảo vệ cho cái đầu của chính chúng ta.

6 Bài Thuyết Minh Về Chiếc Đèn Trung Thu Hay Và Ý Nghĩa Nhất

Bài thuyết trình về chiếc đèn trung thu hình hoa sen

Kính thưa Ban Tổ chức, kính thưa Ban Giám khảo, kính thưa quí thầy cô cùng toàn thể các bạn học sinh thân mến!

”Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

Hoa sen – biểu tượng sức sống mãnh liệt dân tộc Việt. Đây là loài hoa gần gũi, gắn bó từ lâu đời trong đời trong văn hoá của người Việt Nam ta. Dù sống trong những vùng nước tù đọng và bẩn đục, thế nhưng hoa sen vẫn nở và tỏa ngát hương thơm. Khi những cánh sen mở ra, cũng là một ý nghĩa nói lên sức sống mở rộng của tâm hồn. Đó chính là sự xuất hiện của vẻ đẹp tinh khiết không bị lấm bẩn từ chỗ bùn nhơ, hôi tanh, dù sống trong bùn sình hôi hám, thế nhưng lá và hoa của sen không dính bùn mà ngược lại còn toả hương thơm ngát, màu sắc đẹp mắt.

Sen nẩy mầm trong bùn tối, thanh lọc mọi sự nhơ bẩn để nuôi thân, vượt qua tầng nước sâu, vươn lên trên mặt nước, xòe lá, trổ hoa, là một quá trình kiên nhẫn vươn lên tìm sự sống cao đẹp. Hoa sen mọc trong bùn, sống trong bùn nhưng vượt lên khỏi nó để hướng đón ánh mặt trời mà không hề bị bùn làm ô nhiễm, vấy bẩn. Cũng giống như một người được sinh ra trên thế giới, tồn tại giữa cuộc đời mà vẫn vượt thoát khỏi sự cám dỗ và không bị vấy bẩn, ô nhiễm bởi dòng đời. Chính vì sự phát triển tự nhiên của hoa sen mà từ xa xưa, nhân dân đã lấy hoa sen so sánh như phẩm chất cao quí của người Việt Nam luôn tự trọng đấu tranh sinh tồn vươn lên trong mọi hoàn cảnh khó khăn, cám dỗ để bảo vệ nhân phẩm của chính mình. Vậy nên, vẻ đẹp thuần khiết của hoa sen mà trong cuộc bầu chọn diễn ra trong cả nước do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát động và cuối cùng Sen hồng đã được chọn là Quốc hoa của Việt Nam.

Chiếc lồng đèn mang hình ảnh đoá sen hồng của lớp em làm từ chất liệu quen thuộc, tuy mộc mạc, đơn sơ, thế nhưng nó vẫn toát lên vẻ đẹp vốn có của hoa sen nói chung, và sen hồng nói riêng. Hy vọng rằng chiếc lồng đèn của lớp em sẽ điểm tô thêm cho lễ hội trăng rằm thêm nhiều màu sắc, nhiều ý nghĩa.

Bài thuyết trình về chiếc đèn trung thu hình hoa sen

Kính thưa Ban tổ chức, quý vị đại biểu, các thầy cô, cùng các bạn học sinh thân mến !

Đảo thân yêu Trường Sa đất Việt

Còn đời đời vững mãi không lay.

Có thể nói, từ bao đời nay biển đảo quê hương luôn là một phần máu thịt không thể tách rời trong tim mỗi người dân đất Việt. Biển đảo chính là một món quà vô giá mà thiên nhiên ưu đãi, lịch sử hào hùng trao tặng chúng ta. Chính trên vùng mênh mông đại dương bao la, nơi cột mốc chủ quyền sừng sững như chứng nhân của lịch sử đầy “máu và hoa” , luôn có những con người vẫn ngày đêm canh giữ cho quê hương giấc ngủ yên bình. Chính tại nơi đầu sóng ngọn gió luôn có lá cờ Tổ quốc tung bay đó là nơi những trái tim đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, của đông đảo các thế hệ Việt Nam hướng về với lòng thành kính, yêu thương và biết ơn vô hạn. Vì một lý do rất đơn giản: Đây là quê hương chúng ta.

Và bây giờ, xin mời Ban tổ chức, quý vị đại biểu, các thầy cô, cùng các bạn học sinh cùng hướng mắt về sân khấu – đây là hình ảnh cột mốc quê hương, minh chứng hùng hồn khẳng định chủ quyền biển đảo là của Việt Nam. Từ thuở các vua Hùng mang gươm đi mở cõi, cột mốc đảo Trường Sa đã được phân định rõ ràng là thuộc lãnh thổ nước ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không bao giờ thay đổi.

Đây – dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thân yêu, gắn liền với cờ đỏ sao vàng – hồn thiêng sông núi. Trải qua bao thế kỉ, dân tộc ta đã hi sinh bao máu xương để giữ gìn quốc hiệu ấy trường tồn trên bản đồ thế giới, để lá quốc kì tự hào bay trên non sông gấm vóc đẹp tươi này.

Còn đây là hình ảnh trống đồng, biểu tượng của nền văn hóa Việt Nam, gắn liền với cột mốc Trường Sa, đặt nơi giáp ranh lãnh thổ. Phải chăng muốn nhắc nhở ngàn đời con cháu Việt Nam không thể quên nòi giống Lạc Hồng, càng không quên sứ mệnh thiêng liêng được trao truyền bởi lớp lớp thế hệ cha anh: Khi đất nước lên tiếng gọi, triệu triệu người dân sẽ hưởng ứng đứng lên, toàn dân tộc sẽ chung tay giữ gìn Tổ quốc.

Hình ảnh hai bàn tay chụm lại bên mốc đảo Trường Sa như tình nhân ái bao la của toàn Đảng, toàn dân hướng về biển đảo. Còn đây, cánh chim bồ câu thể hiện khát vọng hòa bình qua bao thời đại của nhân dân ta.

Mộc mạc mà thiết tha, từng hình ảnh trên chiếc đèn giản dị nhưng hàm chứa bao nghĩa tình sâu nặng. Đó cũng chính là tấm lòng của người ở đất liền gửi đến Trường Sa, vùng biển đảo yêu thương – nơi có các chiến sĩ không ngại gian nguy, ngày đêm gìn giữ cho đất nước ta vùng trời bình yên vĩnh cữu. Vui tết Trung Thu này, nhớ về hải đảo xa xôi, chúng em nguyện sẽ ra sức học tốt, rèn luyện tốt để cùng chung tay góp sức với các chiến sĩ Trường Sa, quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta ngày thêm cường thịnh.

Bài thuyết minh về chiếc đèn trung thu: Đèn cá chép

Bên cạnh lồng đèn ông sao thì đèn lồng cá chép cũng là một biểu tượng, một hình ảnh gắn liền với tuổi thơ của biết bao người mỗi khi trung thu về. Đèn lồng cá chép được khơi nguồn ý tưởng từ tích cá chép vượt vũ môn với ý nguyện cầu mong cho nhân hòa, vật thịnh, con trẻ học hành tấn tới. Đây là hình tượng vốn rất quen thuộc với nhiều thế hệ trẻ em Việt Nam. Và trong hội thi ngày hôm nay, lớp … xin được gửi tới chiếc lồng đèn cá chép, góp thêm phần nào đó tạo sự đa dạng, phong phú cho BST lồng đèn hiện có của chúng ta.

“Cá chép hóa rồng” chính là ngụ ý tốt đẹp mà các cụ xưa dành cho các sĩ tử trước ngày thi. Mặt khác “cá chép” cũng là biểu tượng cho sức khỏe dồi dào, cuộc sống an lạc. Vì vậy chú cá chép này nhanh chóng đi vào “huyền thoại” dưới hình dạng lồng đèn. “Đèn cá chép” hay “Đèn cá vàng” của Việt Nam mộc mạc, giản dị. Đặc biệt các hoa văn trên thân cá đôi khi được mô phỏng, cách điệu từ họa tiết trên Tranh Đông Hồ.

Nói về hình ảnh cá chép với sự tích cá chép kiên trì vượt long môn hóa rồng tục ngữ có câu:

Mồng bảy cá đi ăn thề

Mồng tám cá về vượt thác Vũ Môn

Để vượt Vũ Môn biến thành rồng là cả một chặng đường vô cùng gian nan, thử thách chỉ có những con cá có phẩm chất kiên định, lỗ lực vươn lên không ngừng không từ bỏ mục đích bởi những khó khăn gặp phải để rồi thành công mỹ mãn, qua sự tích này con cá chép trở thành biểu tượng cho sự cố gắng không ngừng, may mắn, niềm hi vọng và sự thành đạt.

Hay cho đến tận bây giờ, Người Việt vẫn thường truyền tai nhau một sự tích như thế này: Ngày xưa, dọc một bờ sông nọ, có một ngôi làng rất đông đúc, phồn thịnh. Một ngày, từ dưới sông bỗng có một con cá chép thành tinh xuất hiện. Con cá này thường lên bờ vào đêm trăng tròn tháng tám tìm bắt người ta để ăn thịt. Nhiều người phải bỏ làng mà đi. Làng xóm vì vậy mà trở nên thê thảm, tiêu điều. Một hôm có nhà sư vân du qua đó, nghe dân làng kể lại, ông mới bày cho dân làng làm mỗi nhà một cái lồng đèn hình con cá chép thật lớn, bên trong là nan tre, bên ngoài phủ vải. Đến rằm trung thu, dân làng đem lồng đèn treo trước cửa, thắp nến sáp bên trong. Cá chép thành tinh lên bờ tìm người để ăn thịt, đi đến nhà nào nó cũng thấy lồng đèn cá chép, tưởng là nhà của đồng loại nên nó bỏ đi.

Từ đó, mỗi năm cứ đến rằm trung thu, dân làng lại làm lồng đèn cá chép. Tục này ngày càng lan rộng ra khắp nơi, trở thành một thú vui trong ngày Trung thu.

Với những ý nghĩa đó, chúng em đã tạo nên chiếc lồng đèn cá chép này. Đây là hình cá chép khổng lồ mang màu đỏ chủ đạo với tạo hình là cá chép nhả ngọc vượt Vũ Long Môn hóa Rồng trong các bức tranh. Để khắc họa một cách chân thực nhất, chúng em đã tạo nên vảy cá, râu cá cùng thân hình thoi đặc trưng có thêm điểm nhấn bởi các họa tiết, hoa văn phần thân, đầu cá.

Nguyên liêu làm ra lồng đèn cá chép vàng này thật là đơn giản. Một ít thép tận dụng, mấy tờ giấy màu đơn sơ thêm vào đó là ít riềm Đăng- Ten, chú cá chép hiện lên như thật và đang muôn tung tăng bơi lội trên khoảng nước vô tận, mênh mông tràn ngập ánh trăng vàng.

Bài thuyết minh về chiếc đèn trung thu: Đèn ông sao (số 2)

Bài thuyết minh về chiếc đèn trung thu: Đèn cá chép

Kính thưa quý vị đại biểu, kính thưa ban giám khảo, quý thầy cô cùng các bạn học sinh thân mến!

Mỗi khi Tết trung thu về thì trên khắp những con phố nhỏ lại rộn ràng khúc hát: “Chiếc đèn ông sao sao năm cánh tươi màu. Cán đây rất dài cán cao quá đầu. Em cầm đèn sao em hát vang vang. Đèn sao tươi màu của đềm rằm liên hoan! Tùng rinh rinh, tùng tùng tùng rinh rinh…”. Vâng, đã từ lâu, chiếc đèn Trung thu hình ngôi sao được xem là món đồ không thể thiếu đối với trẻ em trong dịp Tết trung thu ngày trước. Và ngày nay, tuy nhiều loại đồ chơi hiện đại xuất hiện thế nhưng đèn ông sao vẫn có một ý nghĩa đặc biệt với thiếu nhi chúng em. Để góp phần tăng thêm sự rực rỡ trong đêm hội trăng rằm hôm nay, tập thể lớp XX xin mang đến chiếc đèn ông sao do tự tay chúng em thực hiện.

Để làm nên chiếc đèn lồng khoe sắc trong ngày hội trăng rằm ngày hôm nay, chúng em đã tận dụng những loại chất liệu có sẵn trong thiên nhiên chẳng hạn như trúc và một vài chất liệu nhân tạo là giấy kiến, keo,… cùng với những đôi bàn tay nhỏ bé của chúng em đã sáng tạo thêm cho chiếc đèn lồng của mình những họa tiết xinh xinh dưới sự chỉ dẫn tận tình của giáo viên chủ nhiệm.

Một chiếc đèn ông sao năm cánh cũng giống như những vì sao đang lấp lánh trên trời cao vào đêm trăng rằm tháng tám. Nếu như bên trong lồng đèn là một vì sao tinh tú của đất trời thì bên ngoài là một vầng trăng tròn đầy đặn đang mở mắt tròn xoe đón chào một ngày hội tuyệt đẹp.

Nhìn lên trời cao, chúng ta có thể thấy vầng trăng xinh đẹp cùng những vì sao soi lấp lánh soi sáng cả bầu trời bao la. Còn dưới trần gian này vầng trăng, ngôi sao của chúng em được thắp bằng ngọn đèn cầy của tuổi thơ chứa đựng bao mơ ước cho tương lai.

Nó chính là một tia lửa ấm áp, tia lửa lòng của chúng em thể hiện sự kính trọng với truyền thống của ông cha ta ngày xưa, một tia lửa nhỏ bé làm sáng lên những sắc màu của cuộc sống để chúng em tung tăng dạo chơi trên khắp phố phường vào đêm hội đèn. Đồng thời nó cũng là một tia lửa hy vọng rằng năm sau chúng em lại có một ngày hội tưng bừng náo nhiệt như năm nay.

Bài thuyết minh về chiếc đèn trung thu: Đèn ông sao (số 1)

Bài thuyết minh về chiếc đèn trung thu: Đèn ông sao (số 2)

Kính thưa quý vị đại biểu, kính thưa ban giám khảo,quý thầy cô cùng các bạn HS thân mến.

Đêm nay dưới ánh trăng rắm hòa cùng ánh đèn hoa rực rỡ, chúng em lại được náo nức chung vui tết trung thu cùng các bạn nhi đồng và các anh chị thiếu nhi trên khắp mọi miền đất nước. Với chiếc lồng đèn lung linh màu sắc, chúng em xin được cùng tô điểm cho mái trường thân yêu thêm màu sắc rực rỡ của lễ hội trăng rằm.

Vì thế lớp…, chúng em đến với lễ hội trăng rằm đêm nay chiếc lồng đèn mang hình ngôi sao truyền thống.Chiếc đèn ông sao làm từ những cây tre thân thuộc và giấy bóng kính đơn giản thế nhưng lại là món quà rất mong chờ của tuổi thơ khi mỗi mùa Trung Thu về. Và cảm giác hạnh phúc ùa về là khi được thắp sáng ngọn nến dẫn lối chú cuội cùng ca hát dưới ánh trăng rằm.

Chúng em chọn hình ngôi sao để làm lồng đèn vì ai cũng biết hình ngôi sao chúng là biểu hiện của lá quốc kỳ của Tổ Quốc Việt Nam, chúng ta thể hiện tình đoàn kết của các dân tộc anh em, đó cũng là đoàn kết chung lồng của tập thể lớp…, chúng em cùng chung tay làm nên chiếc lồng đèn này.

Bốn cánh ngôi sao được chúng em sử dụng giấy kiếng màu đỏ, ở giữa lồng đèn thì trang trì màu vàng nhằm biểu trưng niềm tự hào của chúng ta là “Người Việt Nam màu đỏ, da vàng” và đó cũng là dòng máu của các anh hùng liệt sĩ đã huy sinh giành lại nền độc lập, tự do cho đất nước, để hôm nay chúng em có được cuộc sống thanh bình, hạnh phúc.

Mặc dù vui hân hoan là thế nhưng chúng em vẫn không quen lời dạy của Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã dạy: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không , dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc  năm châu hay không. Đó là nhờ công học tập của các cháu” Nên mặt trước lồng đèn của chúng em có trang trí dòng chữ “Trung thu nhớ Bác” và ảnh Bác Hồ để tưởng nhớ công lao to lớn của người vị cha già của dân tộc. Những cánh sen hồng tượng trưng cho sự thánh thiện, thanh khiết luôn cố gắng vươn lên để đến được nơi tươi sáng nhất giống như con người Việt Nam. Mặc dù sinh ra trong bùn lầy nhưng hoa sen không bị ô nhiễm mà lại có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh sống, vì hoa sen hễ mọc ở nơi nào thì sẽ làm cho nước đục nơi đó lắng trong.

Sen có cả hương lẫn sắc, nhưng hương sen không quá nồng mà dịu, gợi một tinh thần cao thượng. Sắc sen kín đáo, đằm thắm, cánh trắng phớt hồng, nhụy vàng. Từ khi nở đến khi tàn không hề bị ong bướm bén mảng tới. Qua bao ràng buộc để đến được chỗ khoáng đạt hư không, sen tiếp tục vươn lên dưới ánh mặt trời, khai nụ kết hoa, khoe sắc và xông hương tràn ngập không gian.

Mặt sau lồng đèn chúng em trang trí hình huy hiệu măng non với dòng chữ thi đua học tốt thể hiện cho lớp chúng em như những bút măng non đua đua nhau vươn lên chăm ngoan học giỏi. Xung quanh lồng đèn chúng em trang trí dây kim tuyến và những cánh hoa nhiều màu rực rỡ tạo cho nồng đèn thêm phần lộng lẫy.Với chúng em, chiếc đèn trung thu sẽ mãi là ký ức tươi đẹp.

Bài thuyết minh về chiếc đèn trung thu: Đèn ông sao (số 1)

Bài thuyết minh về chiếc đèn trung thu: Đèn kéo quân

Đăng bởi: Nguyễn Ngọc

Từ khoá: 6 Bài thuyết minh về chiếc đèn trung thu hay và ý nghĩa nhất

9 Bài Văn Thuyết Minh Về Một Món Ăn Hay Nhất

Việt Nam là đất nước luôn nằm trong top những thiên đường ẩm thực của thế giới với rất nhiều món ăn ngon, dân giã, đơn giản mà lại vô cùng đặc sắc. Đây cũng là một đề tài rất hay và sôi nổi trong văn thuyết minh đối với các bạn học sinh. Vậy việc trình bày một món ăn dưới dạng văn thuyết minh như thế nào? Mời các bạn tham khảo một số bài văn thuyết minh về một món ăn mà chúng mình tổng hợp trong bài viết sau.

Thuyết minh về món: Bánh chưng

Ngày xửa ngày xưa vua Hùng muốn nhường lại ngôi vua của mình cho các con nên đã truyền cho hoàng tử nào dâng lên vua những vật có ý nghĩa và lạ nhất thì có thể thay vua trị vì đất nước. Khi ấy Lang Liêu đã làm ra hai loại bánh trong đó có bánh chưng tượng trưng cho trái đất. Và khi bánh chưng có từ ngày đó, loại bánh này có ý nghĩa gì mà con người Việt Nam chúng ta lại coi nó là một trong ba đồ sử dụng trong ngày tết?

Về truyền thuyết của bánh chưng thì chúng ta biết nó ra đời trong sự kiện vua Hùng Vương nhường ngôi cho các con trai của mình. Ông vua ấy đã truyền lệnh cho tất cả những người con mang đến những lễ vật. Không giống như những anh trai mang vàng bạc châu báu mà người con út của Vua Hùng lại dâng lên vua cha hai loại bánh là bánh chưng và bánh dày. Bánh chưng có từ đó để tượng trưng cho trái đất hình vuông.

Đến ngày nay thì nhân dân ta đã sử dụng bánh chưng vào ngày tết giống như một truyền thống đặc trưng. Vật liệu để làm bánh chưng bao gồm lá dong, gạo nếp đã ngâm nở ra, đỗ ngâm bỏ vỏ, thịt lợn, lạt. tất cả những vật liệu ấy đều không thể thiếu được.

Về cách gói bánh thì nhân dân ta thường gói bánh theo hai hình là hình vuông truyền thống và hình tròn dài. Theo cách gói bánh vuông truyền thống nếu muốn cho bánh đẹp vuông vắn thì lá dong phải to và dài, xếp hai lá lên nhau đổ một lớp gạo xuống sau đó là một ít đỗ bên trên tiếp đến là miếng thịt đã ướp gia vị và cuối cùng là một lớp đỗ và gạo đỗ lên trên cùng.

Công đoạn nguyên liệu bên trong đã đủ thì chúng ta gấp các lá bánh lên sao cho vuông vắn và ôm sát vào những nguyên liệu bên trong. Khi này chúng ta phải lấy tay ấn thật chặt cho gạo đỗ đỗ đầy vào những chỗ hở để tạo thành một hình vuông vắn. khi đã có một khối vuông vắn thì chúng ta phải lấy những chiếc lạt buộc cố định lại để đem đi luộc.

Còn đối với bánh tròn dài thì cũng tương tự nhưng cần đến lá dài hơn buộc bánh theo hình dài chứ không nén chặt theo hình vuông. Thường nhân dân ta hay gói bánh chưng vào những ngày cuối năm như 29 hoặc 30 để đón năm mới hay cùng nhau trông bánh chưng chờ giao thừa qua. Những nồi bánh ấm nồng cùng với sự sum họp quây quần của anh chị em bên nhau như xua tan đi mọi cái giá lạnh đầu mùa xuân. Mọi người không còn những ưu tư phiền muộn mà chỉ còn khoảnh khắc hạnh phúc bên nhau mà thôi.

Bánh chưng trong ngày tết có những ý nghĩa rất lớn. Tuy khoa học đã chứng minh rằng trái đất không phải là hình vuông như người xưa trong truyền thuyết nói nhưng qua bánh chưng ấy người Việt ta bày tỏ những tấm lòng nhớ về người xưa tổ tiên ông bà đã sáng tạo và để lại loại bánh có ý nghĩa ấy. Không những thế nó được sử dụng trong ngày tết vì nó có sự đầy đủ của nhiều thứ nguyên liệu và có vị ngon hấp dẫn. Chính vì thế mà nó không thể nào vắng mặt trong ngày tết truyền thống của nhân dân ta.

Không những thế mà bánh chưng còn để thắp hương thờ cúng ông bà tổ tiên trong những ngày tết. Nhân dân ta sẽ chọn những chiếc bánh đẹp nhất để có thể đem lên bày trên bàn thờ ông bà với những món hoa quả bánh kẹo trên đó.

Bánh chưng còn làm cho mọi người sum họp gần gũi nhau hơn và có một cái tết ấm lòng không. Anh chị em quây quần bên nhau cùng gói bánh cùng nói chuyện cười vui tươi chào mừng năm mới đến. Không kể lúc luộc bánh tất cả cùng ngồi trông bánh bên ngọn lửa hồng.

Đặc biệt bánh ăn nóng rất ngon tuy nhiên khi nó nguội rồi nhân dân ta còn có thể cắt chúng ra từng miếng nhỏ đem rán lên ăn rất là ngon và thơm. Những người không ăn được mở thì cũng có thể ăn được bởi vì khi ninh nhừ như thế rồi thì thịt mỡ không còn ngán như khi luộc bình thường nữa mà nó rất dễ ăn.

Tóm lại bánh chưng có ý nghĩa rất lớn trong đời sống cũng như tình cảm của nhân dân ta trong ngày tết truyền thống. Và từ khi xuất hiện cho đến ngày nay bánh chưng như khẳng định sự thơm ngon hấp dẫn cùng với những ý nghĩa của mình. Vì vậy bánh chưng không thể vắng mặt trong gia đình Việt nam ngày Tết.

Thuyết minh về món: Bún thang

Thuyết minh về món: Bánh chưng

Theo giải thích của người xưa, chữ thang” trong bún thang có nghĩa là canh – một món canh bổ dưỡng (cũng như sâm thang). Trong các món bún Hà Nội, bún thang là món xếp vào hàng đặc sản cao cấp và đắt tiền nhất, một thứ quà Hà Nội thanh nhã và tinh tế.

Nấu bún thang là một việc khá công phu, từ khâu chuẩn bị đến chế biến. Món bún thang tính sơ sơ phải cần đến 20 nguyên liệu. Công phu đầu tiên là chuẩn bị nồi nước dùng. Độ ngọt của nước dùng được tạo ra từ xương ống đun kỹ, xương gà, mực khô, tôm he nấu sôi cho ra hết nước cốt. Vị ngọt đậm đà của nước dùng là từ các loại nguyên liệu này, hoàn toàn không cần đến đường, bột ngọt.

Để nồi nước dùng trong, người nấu phải canh hớt bọt liên tục. Bên cạnh công thức chung trên, nồi nước dùng ngon hay không còn nằm ở bí quyết gia truyền riêng của mỗi hàng bún.

Kế đến phải kể tới công phu chuẩn bị các nguyên liệu ăn kèm như trứng, giò lụa, thịt gà nạc, thịt heo nạc (còn gọi là ruốc sỏi) và trứng vịt muối. Trứng trong bún thang phải tráng thật mỏng, sấy khô, xắt nhuyễn như sợi chỉ vàng, giò lụa ửng hồng thái rối, thịt gà nạc trắng nõn da vàng ươm xé sợi thật tơi, thịt nạc (ruốc sỏi) xắt hạt lựu, xào khô với nước mắm vừa đủ đậm …

Sau khi mọi thứ đã sẵn sàng, người nấu cho bún tươi đã chần kỹ vào bát, dưới đáy có rải chút rau răm. Bún để ăn bún thang phải là loại bún sợi nhỏ, mịn và trắng tươi. Trên mặt tô bún bày mỗi góc một chút trứng, một chút giò lụa, thịt gà, ruốc sỏi. Chính giữa tô là miếng trứng vịt muối, trên rắc thêm tôm tươi giã nhuyễn thành chà bông. Tô bún đầy sắc màu, sinh động và gợi thèm.

Ăn kèm với bún không thể thiếu củ cải ngâm chua, cay, giòn, ít mắm tôm đậm đà. Thứ mắm tôm hăng nồng, mặn gắt không hiểu sao lại rất hợp với món ăn thanh nhã như bún thang. Nhưng đặc biệt nhất là phải có thêm tinh dầu cà cuống, sẽ vô cùng thiếu sót nếu không nhắc đến thứ gia vị tinh tế này trong món bún thang. Chỉ cần một chút trên đầu tăm điểm vào, bát bún thang sẽ dậy mùi thơm đặc biệt. Cà cuống nguyên chất hiện nay rất hiếm, thay vào đó, người bán thường dùng tinh dầu cà cuống làm từ hóa chất nên mùi thơm hắc hơn, song cũng đủ làm món ăn thêm hương.

Những thứ rau thơm, hành lá xanh mướt phủ lên trên sẽ giúp cho bức tranh bún thêm phần màu sắc. Bên cạnh rau mùi, hành hoa xắt thật nhỏ, không thể thiếu rau răm cay the the. Bún thang thiếu vị cay thế này cũng hỏng. Mà xét cho cùng, bún thang là bức tranh tổng hòa của màu sắc, gia vị, nguyên liệu, nên thiếu bất cứ thứ nào trong số đó, món bún cũng mất đi vị ngon. Một điểm đặc biệt khác là bún thang thường không cần ăn kèm với rau, có lẽ vì người nghĩ ra món này sợ vị rau sẽ làm lạt nước, kém ngon.

Làm một bữa bún thang quả là tốn thời gian, cần một bàn tay nội trợ giỏi, tỉ mỉ và chu đáo. Thưởng thức một tô bún thang là tận hưởng tất cả sự khéo léo của người chế biến. Vị ngon thanh cảnh nhẹ nhàng của nó thể hiện rất rõ chất thanh lịch của ẩm thực Tràng An xưa.

Thuyết minh về món: Bún thang

Thuyết minh về món: Bánh cuốn Thanh Trì

Thuyết minh về món: Bún thang

Từ Bắc tới Nam đất nước đâu đâu cũng có lúa gạo, có bánh cuốn, bánh tráng nhưng có lẽ bánh cuốn Thanh Trì của Hà Nội vẫn đặc sắc hơn cả: lá bánh cuốn mỏng tang như một lớp lụa mịn màng. Mỗi lá chỉ cần thoa thêm chút mỡ, rắc chút hành khô phi thơm là nổi vị bát nước chấm thơm vị cà cuống đặc trưng đã làm nên phong vị đặc sắc của bánh cuốn Thanh Trì. Đặc sản của một vùng quê:

“Thanh Trì có bánh cuốn ngon

Cỏ gò Ngũ Nhục có con sông Hồng”

Làng Thanh Trì là một làng vào loại cổ nhất cua Thăng Long – Hà Nội. Hàng năm, cứ vào ngày 1 tháng 3 âm lịch, đầu làng Thanh Trì lại mở hội, trong hội có cuộc thi tráng bánh cuốn giữa các thôn trong làng. Trong cuộc thi, mỗi đội phái tráng cả bánh cuốn lá lẫn bánh cuốn nhân.

Ban giảm khảo là những cụ cao niên trong làng và đại diện chính quyền địa phương sẽ chấm điểm cho mỗi đội dựa theo quy định: các đội phải làm theo đúng phưong pháp cổ truyền, trong một thời gian quy định, đội nào tráng được nhiều bánh, bánh mỏng, dẻo, có sắc trắng mịn cùng nước chấm ngon, trình bày đẹp sẽ đạt giải.

Theo thần tích của địa phương, nhân dân đã tụ họp về đây khai khẩn đất từ thời Hùng Vương, An Quốc, Con trai vua Hùng thứ 18 (là bạn của Sơn Tinh) đã từng dựng dinh thự, dạy dân cày cấy sống giữa vùng ao hồ rộng lớn, hai phần ba dân làng sống bằng nghề làm bánh cuốn. Bánh được làm từ những loại gạo ngon, xay mịn như nước, lá bánh mỏng tang như tờ giấy, được thoa thêm một chút mỡ phi hành cho thơm. Bánh cuốn Thanh Trì bao đời nay đã là niềm tự hào của người dân nơi dây.

“Múc lưng muôi bột giàn đều trên khuôn vai, đậy nắp vung lại. Đợi khi mỡ nấp vung ra, mặt bánh phồng lên tức là bánh đã chín. Sau lấy que tre xọc ngang, nguyên một tờ gạo mong manh được nhác ra. Xoa một tý mỡ hành cho bóng bẩy rồi gấp lại…” . Chẳng thế mà những nhà văn nhu Thạch Lam hay Vũ Bằng đều dành cho bánh cuốn Thanh Trì một sự ưu ái riêng….

Thưởng thức vài lần món bánh cuốn Thanh Trì rồi. anh sẽ thấy nhớ mãi món quà đó và nhớ từ cái dáng người bán hàng đội bánh nhớ đi. nhớ thứ nước chấm, nhớ cái cảm giác bánh trơn trôi nhẹ vào trong cổ…nhớ quá, nhớ khôn nguôi!” (Miếng ngon Hà Nội – Vũ Bằng)

Cho dù ngày hôm nay, các công đoạn làm bánh cuốn đã dược cơ hóa thế nhưng trong hội làng, người dân Thanh Trì vẫn phải chế biến theo lối cổ – nghĩa là bội vần được xay từ những chiếc cối đá làm từ đá xanh Thanh Hóa. Và để bánh mỏng tang, trắng mịn thì chậu bột được pha theo một tỷ lệ riêng cua mỗi người.

Cũng thật lạ, bánh cuốn Thanh Trì nguyên liệu chẳng có gì cao sang hay pha chế biến cầu kỳ bởi chỉ cỏ bột xay. nhân làm bằng hành hoa tươi chưng với mỡ hay nhân bánh bằng mỡ thăn cùng hành khô chưng lên để có mùi thơm nhưng làm ẩm khách nhớ khôn nguôi khi thưởng thức.

Bánh cuốn Thanh Trì đặc biệt nhất ở chỗ tráng mỏng, hành mỡ thoa vào mướt mặt mà nếm thì thanh nhẹ, sắc trắng của bánh nổi bật lên một cách hiền lành cùng những đốm nhân màu nâu đỏ cua hành phi. Nhìn những thếp bánh mới làm óng ả có thể làm bất cứ ai trông thấy thôi cùng thấy thèm.

Một trong những bí quyết để có được những mẻ bánh ngon là chọn gạo ngon, gạo có ngon thì mặt bánh mới láng mượt, óng ả. Nếu gạo quá dẻo thì bánh nát, còn gạo kém thì bánh sẽ không thơm ngon. Và không thể quên khâu quan trọng là bột. Bột được xay nhuyễn nên mặt bánh cuốn mới được láng bóng, óng ả như cậy. Nếu bột loãng quá bánh sẽ nát, mà đặc quá bánh sẽ dày mình, ăn thô thì đâu được gọi là bánh Thanh Trì.

Thường thì xế chiều, dân Thanh Trì lại nổi lửa tráng bánh. Sở dĩ bánh cuốn tráng từ chiều cho tới đêm bởi bánh tráng xong phải để qua đêm thì mới bay đi mùi nồng của bột. Đến sáng bánh vừa mềm. vừa thơm mát mùi gạo… Người làng Thanh Trì xưa chỉ đội thúng bánh cuốn trên đầu rồi đi rong phố phường. Bây giờ nhiều người làng Thanh Trì vẫn đạp xe đi bán hàng rong Không gì thú vị bằng được thưởng thức đĩa bánh cuốn nóng còn vương sợi trong cái giá lạnh của mùa đông.

Ngắm nhìn bàn tay khéo léo của chị chủ quán đang thoăn thoắt tráng từng chiếc bánh, cuộn nhân lại trong không gian mờ hơi nước từ nồi tráng bánh bay lên giúp những ai đang lạnh giá cũng cảm thấy ấm áp lạ thường. Ở Hà Nội có một cửa hàng nhỏ bán bánh cuốn Thanh Trì mang cả hương vị của riêng của Hà Nội. Dù chỗ ngồi chẳng đủ, người nọ phải đợi người kia nhưng khách hàng đều chấp nhận để được thường thức một xuất bánh cuốn đúng như vị Thanh Trì.

Bánh Thanh Trì thơm dịu được chấm với nước chấm được pha rất hài hòa. không quá chua cũng không quá mặn và thêm vài lát chả. Chắc chắn, ai đã thưởng thức một lần thì sẽ không thể quên được mùi vị ngon lành đó. Bánh cuốn nóng nhân thịt được “kế thừa” từ bánh cuốn Thanh Trì mà ra.

Những chiếc bánh cuốn nóng óng mượt vỏ bóng mỏng tang, ỏng như lụa để khoe lớp nhân thịt cùng nấm hương ẩn hiện bên trong. Rồi rau thơm Láng, giò chả Ước Lễ trong một bát nước chấm ngon cũng là để tăng thêm mùi vị cho đĩa bánh cuốn nóng. Ngần đó thức dùng trong món bánh cuốn nóng đã cho ta thấy sự trau chuốt của người bán hàng trong món ăn của mình… Sau đó, bánh được tô điểm thêm bằng hành phi vàng thơm nức và chút ruốc tôm hồng như phấn làm đẹp thêm những chiếc bánh cuốn trắng.

Một đĩa bánh cuốn nóng sẽ có mùi hương của gạo mới, độ dẻo vừa phải cả miếng bánh ăn kèm với lát chả quế ngầy ngậy điểm thêm vài nhánh rau ngò, rau húng thơm. Bánh cuốn ngon không thể thiếu nước chấm, phải pha sao để mà dậy được cái mùi cà cuống lên thì thật là tuyệt vời.

Dù là bánh cuốn nguội Thanh Trì hay bánh cuốn nóng thì cần phải có nước chấm vừa miệng. Pha nước chấm thế nào là bí quyết riêng của mỗi cửa hàng mà họ luôn giữ kín công thức. Chỉ biết rằng, khách tới những cửa hàng bánh cuốn ngon đều mê mẩn thứ nước màu hổ phách thơm dịu đó.

Theo những người bán hàng thì nước chấm bánh cuốn không thiên về vị chua mà cần cân bằng giữa vị mặn của nước mắm và vị ngọt của đường. Chén nước mắm nhỏ xíu xinh xắn, không mặn quá, không chua quá, mà cũng không cay quá. Có lẽ vì bánh cuốn vốn mềm mại, thanh mát nên nước chấm đi cùng cũng dìu dịu như vậy để hài hòa.

Trước đây, người Hà Nội thường ăn bánh cuốn với đậu làng Mơ rán giòn, nhưng giờ đây bánh cuốn thường được ăn với giò chả của vùng Uớc Lễ – Hà Tây. Chả quế Ước Lễ vừa ngon, ngọt, thơm mùi quế đặc trưng rất hấp dẫn. Chả quế thơm hương vị quế rừng, hương vị thịt nướng thuở hoang sơ, giò lụa thoáng hương chuối quê đồng nội. Ăn miếng chả quế dậy mùi thơm thịt nướng, hương vị cay hấp dẫn của quế chi, ngọt của mật ong, phảng phất mùi thơm quý phái.

Những chiếc bánh cuốn ngon đặc biệt ở độ nóng, giòn và dai của bánh, ở vị thơm của hành phi, vị mặn – ngọt của nước chấm, và với một chút rau thơm, rau mùi, vài ba miếng chả cùng 1-2 giọt tinh dầu cà cuống vừa thơm vừa cay. Không cao sang, cầu kỳ, bánh cuốn là một món ăn bình dị, thân quen đối với mọi đối tượng thực khách, từ sang trọng cho đến tầng lớp bình dân.

Có thể vì thế mà những người Hà Nội đi xa hay những người từ xa tới với Hà Nội đều có chung một nhận xét rằng : Hà Nội có rất nhiều món ăn ngon và một trong những, món ăn để lại niềm thương, nỗi nhớ đó là bánh cuốn.

Thuyết minh về món: Bánh xèo

Thuyết minh về món: Bánh cuốn Thanh Trì

Trong các món bánh mặn của Nam bộ, bánh xèo là món phổ biến, được người ăn ưa thích nhất.

Ăn bánh xèo có đông người mới vui vì khi làm bánh phải qua nhiều công đoạn nên cần nhiều người. Người ta phân công nhau bằng những câu vè vui vẻ như: “Người nào xấu xấu xay bột, lật hành. Người nào lanh lanh băm nhân, dò bánh…”

Muốn cho bánh ngon phải chịu khó, chịu cực một chút. Bột bánh là phần quan trọng nhất, bánh có ngon hay không là ở khâu này. Dân nông thôn không chịu loại bột gạo bịch sẵn, bày bán ở chợ vì đó là gạo dơ ngâm nước cho bã ra nhiều nước rồi gạn lấy bột nên chất bột bị chua và lạt, không còn bổ dưỡng, thơm ngon.

Muốn cho bột bánh xèo ngon phải là loại gạo thơm, gạo mới, ngâm trong một buổi hoặc một đêm rồi đem xay nhuyễn. Ngày nay có bột bánh xèo pha chế sẵn cũng tiện dụng nhưng phải trộn thêm theo công thức, một bịch bột bánh xèo pha thêm một bịch bột chiên giòn hoặc bột bắp và nước cốt dừa thì bánh mới béo giòn.

Dùng bột gạo tươi thì sau khi lược bột xong, pha thêm một bịch bột chiên giòn, nước cốt dừa, đường, muối sao cho độ béo ngọt theo khẩu vị người ăn, bỏ thêm hành lá xắt nhỏ, bột nghệ, trứng gà đánh nhuyễn. Người Nam bộ rất thích nước cốt dừa nên pha đậm đặc càng ngon (mà vị béo của nước cốt dừa không có vị béo nào sánh kịp), bánh khi chín có nước cốt dừa rất dễ lấy ra.

Nhân bánh muốn ngon phải có nấm rơm, nấm hương, nấm kim chi hay nấm đông cô, tôm hoặc tép, thịt gà hay thịt vịt băm nhuyễn, giá sống và củ sắn, có người còn bỏ cá cơm dừa xắt sợi, hoặc đậu xanh nấu chín, nhưng hai loại này làm cho dễ ngán không ăn được nhiều. Nấm làm nhân bánh có thể thay đổi theo từng mùa. Mùa nấm rơm thì làm nấm rơm, không có nấm rơm thì hải nấm mèo trên các cây so đũa hoặc mùa mưa thì có bông điên điển…

Rau sống và nước mắm là những thành phần quan trọng làm cho bánh thêm ngon. Rau sống phải có đủ họ tộc như: diếp cá, xà lách, tần ô, húng cây, húng lủi, quế không được thiếu lá cách và cải bẹ xanh (loại cải thân nhỏ). Chén nước mắm nêm nếm cho đủ độ mặn, ngọt, chua, cỏ màu đỏ cua ớt, màu vàng của nước mắm, màu xanh của xoài sống bằm nhuyễn và màu đỏ trắng của dưa của cải.

Khi tất cả vật liệu đã sẵn sàng thì người đổ bánh mới bắt đầu nổi lửa. Nếu lượng người ăn đông phải đổ hai chảo mới kịp đãi khách, ở miền quê, các bà nội trợ đổ bánh bằng chảo gang hay chảo bằng vỏ trái bom cắt ra, ở thành phố có loại chảo không dính tương đối tiện lợi. Khi chảo thật nóng thì đổ thử một vài cái xem mùi vị và độ đặc lỏng của bột vừa hay chưa, sau đó mới đổ thật sự.

Lấy miếng mỡ heo cắt hình vuông khoảng 3 cm đảo qua chảo một lượt, bỏ tép hoặc tôm và thịt ba rọi xắt sợi nhỏ vào cháo, đảo cho đỏ lên hồng lên, tiếp đó đổ một vá hột lên chảo nghe xèo xèo rồi tráng đều cho tròn cái bánh mới khéo, lần lượt bỏ nấm, thịt gà, giá, củ sắn và đậy nắp lại. Hai phút sau, giở nắp ra, tiếp tục “dần trên lửa “ Bánh chín có màu vàng như mặt trăng rằm. Trên đó, màu đỏ của tôm, màu xanh của hành, màu nâu hoặc trắng của nấm. mùi thơm dậy của nước dừa và hột gà khiến cho chiếc bánh hấp dẫn đặc biệt. Bánh được xếp lại theo hình rẻ quạt, nóng hôi hổi trên chiếc mâm lót lá chuối hay trên chiếc đĩa sứ trắng ngà.

Ăn bánh xèo nên dùng tay, không cần đũa nĩa gì cả. Dùng tay để cuốn bánh cho gọn và cảm nhận được độ nóng ấm của bánh mới thấy ngon miệng. Ăn bánh nên uống với nước trà nóng hoặc với bia, rượu mới tiêu được mỡ dầu. Vừa ăn vừa đàm đạo chuyện trò, lúc đói bụng có người dám ăn cả chục bánh, có người ăn trừ cơm cả ngày.

Ở Huế cũng có loại bánh tương tự nhưng bánh nhỏ hơn, độ giòn và vị béo kém hơn, có lẽ họ không thích nước cốt dừa như người Nam bộ. Thành phố Hồ Chí Minh có những con đường bày bán bánh xèo sát ngay đại lộ. Một vài địa điểm có tiếng như bánh xèo A Phủ, Đinh Công Tráng với giá từ hai chục ngàn đồng đến ba, bốn chục ngàn đồng một bánh nhưng bánh của các nơi này dùng quá nhiều thịt, mỡ nên ăn không được nhiều.

Màu sắc đẹp, mùi vị hấp dẫn, chất dinh dưỡng cao, bánh xèo là món bánh độc đáo, đậm đà hương vị Nam bộ.

Thuyết minh về món: Canh chua

Thuyết minh về món: Bánh xèo

Trên mâm cơm hàng ngày thường có ba món: món canh, món mặn, món xào. Món canh thì rất phong phú, đa dạng như canh rau tập tàng, canh bí đỏ, canh cải nấu cá thác lác… Nhưng món canh ăn hoài không biết chán, có mặt thường xuyên trên mâm cơm của người Nam bộ là món canh chua.

Tương tự gỏi chua, canh chua là món có nước nhưng vẫn mang đủ hương vị chua chua, ngòn ngọt, thơm thơm, rất dễ ăn.

Đi làm việc về, trời trưa nắng chang chang, được người thân nấu cho tô canh chua vừa miệng, còn gì thích hơn. Mùa đông trời lạnh, ăn canh chua ấm lòng.

Mùa Thu trời ui ui, ăn canh chua đỡ buồn. Có khách sang trọng đãi món canh chua cá bông lau, khách cũng thích. Gặp đứa bạn thân, nấu lẩu chua cá điêu hồng nó “ô kê” liền. Nuôi người thân già yếu, miệng mồm lạt lẽo khó ăn, nấu tô canh chua lươn cho ngọt, ăn được chén cơm, mau hết bệnh.

Tuy là món ăn hàng ngày nhưng muốn nấu ngon phải biết nêm nếm vừa miệng và rau đệm biết dùng đúng cách. Chẳng hạn, lâu lươn nấu với bắp chuối mới đúng điệu. Cá lóc, cá thác lác… nên có rau chút, cà bắp, thơm. Cá linh nấu với bông điên điển hay bông so đũa… Chất chua có thể là me vắt, me trái, lá giang, lá me, khế chua hoặc cơm mẻ… Chất chua muốn dịu thì phải có khóm, cà chua, lá giang có vị chua dịu hơn me. Cơm mẻ là cơm nguội để lên men, tạo nhiều vi sinh, chất lên men chua rất dịu, dùng nấu canh chua lươn, luộc thịt trâu, thịt chó,…

Rau bổi bỏ vào cũng phải theo thứ tự, lớp lang, rau nào lâu chín cho vào trước, có loại nấu lâu sẽ dai, mất ngon như rau nhút, kèo nèo… Có quá nhiều rau bổi để nấu canh chua, mỗi món có hương vị riêng, có cách nấu riêng, tùy theo ý thích mà pha chế. Nông thôn thì có bắp chuối, chuối cây, bông điên điển, so đũa, kèo nèo, đọt choại, rau ngổ, rau muống, rau nhút… Ở chợ có giá sống, bạc hà, cà chua, khóm, rau muống,… Rau thơm như ngò gai, rau om, rau quế góp phần làm cho nồi canh chua có mùi thơm rất riêng, rất hấp dẫn.

Món lẩu chua để đãi khách nấu khá công phu. Phải lấy nước ngọt từ xương heo, xương gà để làm nước súp, sau đó luộc cá điêu hồng hay cá bông lau cho chín rồi vớt ra, nếu dùng hải sản thì tôm, mực tươi, cá thác lác vo viên xếp sẵn trên đĩa, ăn tới đâu nhúng tới đó. Rau bổi cũng vậy, không để sôi lâu vừa mất chất, vừa mất ngon, thỉnh thoảng bỏ vào lẩu hành phi, ớt và rau thơm để giữ vị thơm của món ăn. Nước lẩu pha cho đúng vị chua, ngọt (không chua quá mà cũng không ngọt quá, ngược lại, pha lơ lớ ăn rất chán, không ra mùi vị gì cả).

Ở miền Tây, khi trời vừa sa mưa là mùa của cá linh, lẩu chua cá linh bông điên điển là món ăn khoái khẩu nhất. Cả nhà xúm xít quanh cái lẩu bốc hơi nóng, nước lẩu được các bà nội trợ pha chế độ chua ngọt rất vừa miệng, rồi thì rổ rau đồng gồm bông điên điển, kèo nèo, rau muống… được nhúng vào cùng với những con cá linh trắng phau, mềm ụm, béo ngậy. Chẳng mấy chốc mà rổ rau vơi dần và nồi cơm gạo mới cùng cạn đáy.

Lẩu chua ăn với bún, canh chua ăn với cơm, canh chua thường kèm với món cá rô kho tộ, nếu không có cá kho tộ thì ăn với tép rang thịt ba rọi cũng được. Vừa qua, có cuộc thi đầu bếp giỏi do các nhà hàng lớn trong thành phố tổ chức, món canh chua bông điên điển đã đứng đầu bảng. Thế mới biết, món ăn đứng hàng “top ten” không phải “nem công, chả phụng” mà có khi chỉ là những món ăn quen.

Thuyết minh về món: Canh chua

Thuyết minh về món: Nem chua Thanh Hóa

Thuyết minh về món: Canh chua

Nem chua Thanh Hóa là món ăn nổi tiếng, là niềm tự hào của người dân nơi đây. Món này được chế biến hết sức kỳ công, qua nhiều công đoạn kỹ lưỡng, từ khâu chọn nguyên liệu cho tới khi đóng gói sản phẩm…

Thịt để làm nem phải là loại thịt nóng, nghĩa là khi heo vừa mới xẻ thịt thì người thợ làm nem phải thái, xay, chế biến ngay, không để lâu. Bởi nếu thịt nguội, nem sẽ không có độ bóng cũng như sự kết dính trong quá trình lên men.Ngày trước khi chưa có máy xay thịt, người thợ phải giã thịt bằng tay trên những cối đá lớn. Theo kinh nghiệm của những gia đình làm nem truyền thống, thì thịt giã cối đá sẽ có độ giòn, quánh, dính hơn là thịt xay máy.

Bì lợn cũng phải chọn rất kỹ, heo lấy bì phải là heo cạo chín, nghĩa là làm bằng nước sôi. Có như thế lông mới sạch và khi chế biến sẽ đỡ tốn thời gian. Để có những sợi bì trong, ngon, người thợ phải cạo thật sạch tất cả những phần mỡ còn sót lại trên bì, cho tới khi lớp bì mỏng, trắng tinh, trong suốt thì được. Bì càng làm kỹ bao nhiêu thì khi thái chỉ, bì càng giòn và dai bấy nhiêu.

Khi nguyên liệu chính là thịt và bì đã xong, người thợ sẽ trộn hai hỗn hợp này lại với nhau cùng các loại gia vị muối, bột ngọt, đường, nêm thêm chút nước mắm cho thơm. Sau đó mang hỗn hợp thịt trên ra đóng gói. Mỗi một chiếc nem được người gói cho kèm thêm chút tỏi, lá đinh lăng, ớt, những phụ gia này có tác dụng làm cho hương vị nem trở nên ngon hơn, hấp dẫn hơn và cũng là để cân bằng giữa lạnh (nem chua) với nóng (lá đinh lăng, ớt). Lá chuối gói nem phải là lá chuối ngự vừa xanh vừa dầy, bởi trong quá trình vận chuyển và lưu giữ nem vẫn tiếp tục lên men.

Để bảo quản được dài ngày, người thợ thường bọc giấy bóng thêm bên trong nem. Thông thường nem gói sau 3 ngày là chín, có thể dùng được. Bóc lớp lá chuối màu xanh ở ngoài, đã thấy lộ ra màu hồng của thịt, màu trắng của sợi bì, màu đỏ của ớt.

Khi thưởng thức sẽ gặp vị chua thanh của thịt, dai giòn của sợi bì, cay của ớt, thơm của tỏi, chát ngọt của đinh lăng … một hương vị rất riêng mà không phải nem chua nơi nào cũng có như nem chua xứ Thanh. Nem Thanh có vị lạ rất khác với nem chua Hà Nội hay nem lụi ở Huế, lại càng khác xa với nem rán hay nem tai. Nó vừa chua, vừa cay lại có cả vị mặn mà của gia vị, có vị ngọt của thịt làm ta không thể không ăn tiếp vài cái nữa.

Nem chua Thanh Hóa vừa ngon, vừa rẻ nhưng có điều rất lạ và hay là có thể làm đồ nhắm, cũng có khi ăn với cơm. Tiện hơn cả là ở đâu ta cũng có thể nhấm nháp hương vị hấp dẫn của nó. Nghĩ đến nem chua quê mình đầu lưỡi tôi lại cay cay, ngọt ngọt. Khó mà tả được cảm giác sung sướng khi được ăn một vài miếng nem chua ở quê hương mình trong lúc đang ở nơi xa xôi.

Ai đi qua xứ Thanh cũng phải nếm thử hương vị lạ của những chiếc nem xinh xắn. Người dân xứ Thanh vào Nam ra Bắc, dù bận trăm công nghìn việc, dù mang vác nặng nề cũng cố đem vài chục chiếc để cho người nhà hoặc biếu người thân. Ngày lễ Tết hoặc cưới xin, nem chua trở thành món ngon không thể thiếu. Kèm với những cặp bánh chưng xanh, những chiếc giò ngày Tết là những xâu nem chua làm từ chất liệu quê hương mời khách đến chơi nhà.

Nếu có dịp dừng chân nơi miền đất này, mời bạn hãy thưởng thức nem chua xứ Thanh.Vị chua chua, ngọt ngọt đậm đà gia vị tạo nên hương thơm khó quên của món nem chua Thanh Hóa.Nem chua Thanh Hóa nổi tiếng xưa nay khắp một dải đất dài từ Nam ra Bắc. Người Thanh Hóa tự hào với bạn bè nơi nơi vì có một thứ quà không phải nơi nào cũng cứ học là làm được, mà nó được truyền kinh nghiệm từ đời này sang đời khác qua nhiều năm nay.

Thuyết minh về món: Bánh ít lá gai

Thuyết minh về món: Nem chua Thanh Hóa

Ở Bình Định, mỗi khi về hồi dâu sau ba ngày cưới, cô gái nào cũng chuẩn bị một quả bánh ít do tự tay mình làm, mang về cúng gia tiên và biếu bố mẹ ruột làm quà để tỏ lòng hiếu thảo.Từ một câu ca đến những huyền thoại:

“Muốn ăn bánh ít lá gai

Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi” (Ca dao)

Chiếc bánh ít lá gai là một đặc trưng của xứ dừa Bình Định. Không chỉ đặc trưng từ hương vị ngọt bùi thơm dẻo kết tinh từ lao động và sáng tạo của người nông dân; không chỉ đặc trưng từ hình dáng tựa những ngôi tháp Chàm cổ kính rêu phong, từ sắc màu đen lục của lá gai và nếp dẻo mà còn đặc trưng bởi cái tên gọi mang đầy chất huyền thoại…

Theo sự tích xưa, thì sau khi chàng Lang Liêu – con trai của vua Hùng thứ sáu đã thắng cuộc trong hội thi làm các món ăn để cúng trời đất, tổ tiên trong ngày tết đầu năm mới với hai thứ bánh ngon lành và đầy ý nghĩa là bánh chưng và bánh dày, một nàng con gái út của vua thường được mọi người gọi trìu mến là nàng Út ít, vốn rất giỏi giang, khéo léo trong công việc bếp núc, đã nhân dịp đó trổ tài, sáng tạo thêm ra những món bánh mới.

Nàng Út muốn có một thứ bánh mới vừa mang hương vị bánh dày, vừa mang hương vị bánh chưng của anh mình. Nàng liền lấy chiếc bánh dày bọc lấy nhân của chiếc bánh chưng. Thứ bánh mới này quả đã đạt được yêu cầu tuy hai mà một của nàng Út.

Có thứ bánh mới, nàng Út lại suy nghĩ rồi quyết định phỏng theo hình dáng của bánh dày và bánh chưng để làm thành hai dáng bánh khác nhau, một thứ dáng tròn không gói lá, giống hệt như bánh dày, mộ thứ dùng lá gói kín thành dáng vuông giống hệt như bánh chưng để đạt được ý nghĩa “tuy hai mà một”. Nhưng cả hai thứ bánh đó đều làm nho nhỏ xinh xinh để tỏ ý khiêm nhường với thứ bậc út ít của mình trước các anh chị.

Sau hội thi, ngoài bánh dày, bánh chưng được coi như những thứ bánh thiêng liêng ra, những cặp bánh mang ý nghĩa “tuy một mà hai, tuy hai mà một” của nàng Út cũng được mọi người khen ngợi không ngớt. Sau này, những thứ bánh ấy được lưu truyền trong dân gian, mọi người làm theo và cứ gọi bánh này là bánh Út Ít. Trải qua nhiều thời đại, bánh nàng Út Ít đã được cải tiến trở thành nhiều hình vẻ hơn và tên bánh được gọi vắn tắt là bánh út ít, rồi thành bánh ít như ngày nay.

Cũng có người giải thích rằng loại bánh này nhiều hình nhiều vẻ: Thứ gói lá, thứ để trần, nặn cao, nặn dẹt, thứ trắng, xanh, đen, thứ nhân dừa, nhân đậu… nên khi làm bánh, dù là để ăn hay để bán, người ta cũng thường làm mỗi thứ một ít cho có thứ nọ, thứ kia, đủ vẻ, đủ hình, do đó mà thành bánh ít. Có câu ca dao:

Bánh thật nhiều, sao kêu bánh ít

Trầu có đầy sao gọi trầu không?

Đó là cách lý giải của người Việt xưa, còn người Bình Định thì lại lý giải bằng cách liên hệ giữa hình dáng bánh ít với tháp Chàm ở Bình Định. Hầu hết các tháp Chàm ở Bình Định đều đứng trên đồi cao, tạo môt đỉnh nhọn ở giữa như chiếc bánh ít. Và thực tế, tại Bình Định cũng có hẳn một ngôi tháp mang tên Bánh Ít đi vào ca dao:

Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di

Vật vô tri cũng thế huống chi tui với bà.

Cách lý giải thứ hai là dựa vào tục lễ hồi dâu của các cặp vợ chồng mới cưới. Ở Bình Định, mỗi khi về hồi dâu sau ba ngày cưới, cô gái nào cũng chuẩn bị một quả bánh ít do tự tay mình làm, mang về cúng gia tiên và biếu bố mẹ ruột làm quà để tỏ lòng hiếu thảo. Món quà tuy “ít”, nhưng là “của ít lòng nhiều”, ở đó nó còn có cả những giọt mồ hôi, sự nhẫn nại kiên trì, đôi bàn tay khéo léo, và đặc biệt là tấm lòng hiếu để của cô gái xa cha mẹ về làm dâu xứ người.

Dù chỉ trong ba ngày cưới, bận rộn với bao nhiêu niềm hạnh phúc, lo toan, song người con gái vẫn không quên cha mẹ mình, vẫn dành thì giờ để làm những chiếc bánh “ít” thơm thảo chờ ngày hồi dâu mang về làm quà cho bố mẹ. Nghĩa cử ấy thật không có gì bằng!

Để làm được chiếc bánh ít, người ta phải trải qua nhiều công đoạn, dụng khá nhiều công sức, sự dẻo dai, bền bỉ và khéo léo. Đầu tiên là phải chọn nếp để xay (nếp dùng làm bánh ít phải là nếp mới, thơm, độ dẻo vừa) rồi vo kỹ, ngâm với nước vài giờ, sau đó mới xay nhuyễn. Nếu xay bằng cối xay thủ công, phải đăng cho ráo nước để được một khối bột dẻo.

Để có màu xanh đen và hương vị thơm chát cho bánh, người ta hái lá gai non (Cây lá gai thường mọc sẵng ở các hàng rào quanh nhà), rửa sạch rồi luộc chín, vắt khô, sau đó trộn với bột dẻo đem đi giã. Đây là công đoạn dụng khá nhiều sức. Vì nếu giã chưa nhuyễn, bánh ăn lợn cợn, tạo cảm giác không ngon.

Tiếp đến là công đoạn làm nhân “nhưng” bánh. Nhưng bánh ít lá gai bao gồm đậu xanh, đường, dừa, có chút quế và bột va-ni cho thơm. Đậu xanh đem xay vỡ đôi rồi ngâm và đãi cho sạch vỏ trước khi luộc chín. Cùi dừa được bào ra thành sợi, bỏ vào chảo gang xào chung với đường một lúc cho đến độ chín tới mới trộn tiếp đậu xanh. Xào nhưng trên bếp lửa liu riu cho đến khi nào đường chín tới, nhưng có màu vàng sẫm, dẻo quánh, mùi thơm bốc lên ngào ngạt là vừa.

Làm bánh ít không khó, nhưng đòi hỏi phải tỉ mỉ. Sau khi đã xào nhưng xong, ngắt một miếng bột nếp tẻ thành bánh mỏng hình tròn trên lòng bàn tay, rồi vốc một nhúm nhưng bỏ vào giữa, túm bốn bên lại cho khít mối, sau đó vo tròn trong lòng bàn tay. Lúc này bột nếp đã bọc toàn bộ nhưng bánh thành một khối tròn.

Để cho bánh khỏi dính, người ta chấm một chút dầu phộng, xoa đều trên tấm lá chuối xanh, sau đó bọc bánh lại theo hình tháp rồi mang đi hấp. Có nơi, người ta hấp bánh trần, bánh chín mới gói để giữ màu xanh của lá chuối. Khi ăn chỉ cần bóc nhẹ lớp lá chuối xanh là hiện ra lớp da bánh ít màu đen bóng, đầy vẻ quyến rũ, huyền bí.

Ngoài bánh ít lá gai, có một số nơi làm bánh ít thường bằng bột nếp, màu trắng, có nhưng đậu xanh, nhân dừa đường hoặc nhân tôm, thịt; có loại gói lá chuối, có loại để trần; Cũng có loại làm bằng bột khoai mì, bột củ dong… và đều làm chín bằng phương pháp hấp như trên, song người An Nhơn, Bình Định thì chỉ làm bánh ít lá gai nhân dừa hoặc nhân đậu xanh gói lá chuối rồi mới đem đi hấp.

Ở hầu hết các làng quê Bình Định, đám giỗ nào cũng có bánh ít lá gai. Bánh cúng xong được dọn lên mâm cỗ làm món quà tráng miệng và làm quà bánh cho người ở nhà. Đây cũng là nét khác biệt trong văn hoá ẩm thực và văn hoá ứng xử của người Bình Định.

Ngày nay, dù có nhiều loại bánh hiện đại, ngon, rẻ và hấp dẫn hơn nhiều, song người Bình Định vẫn không bỏ nghề làm bánh ít lá gai. Nếu không làm để bán được thì cũng làm để cúng giỗ và làm quà cho lễ hồi dâu. Họ truyền nghề này cho thế hệ con cái, nhất là con gái, như một thứ bảo bối gia truyền, một nét đẹp văn hóa.

Thuyết minh về món: Bánh ít lá gai

Thuyết minh về món: Phở Hà Nội

Thuyết minh về món: Bánh ít lá gai

Đặc sản Hà Nội có nhiều, Hà Nội là địa điểm nổi tiếng với ẩm thực hấp dẫn, không chỉ đối với du khách nước ngoài mà còn lôi cuốn người Việt Nam. Nhưng nhắc đến món ăn Hà Nội là người ta nhắc đầu tiên đến phở. Phở như một thứ đại diện mang tính bản sắc, đặc thù của món ăn Hà Nội. Lý do thật đơn giản phở Hà Nội khác hẳn các nơi khác, nó không thể trộn lẫn với bất cứ một thứ phở nơi nào, cho dù ở đó người ta đã cố tình trương lên cái biển Phở Hà Nội.

Không biết, phở Hà Nội có tự bao giờ, chỉ biết rằng, phở đã đi vào trang viết của rất nhiều nhà văn như: Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Băng Sơn hay Vũ Bằng,… Phở, dưới những ngòi bút ấy, gần như chẳng còn ai có thể tả hay hơn nữa, và cũng chẳng cần ai phải tốn công mà viết thêm về Phở nữa vì nó đã quá đủ đầy, đã quá nổi tiếng rồi.

Và cũng không biết từ bao giờ phở đã trở thành món ngon nổi tiếng và khi thưởng thức phở ở Hà Nội người ta mới thấy được hương vị truyền thống. Phở Hà Nội là một món ăn đặc biệt của người Hà Nội đã có từ rất lâu.

Thạch Lam trong “Hà Nội ba 36 phố phường” viết: Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon”. Phở ngon phải là phở “cổ điển”, nấu bằng thịt bò, “nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt với hành tây đủ cả”, “rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một ít cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ”. Vào thời những năm 1940, phở đã rất phổ biến ở Hà Nội: “Đó là thứ quà ăn suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa và ăn phở tối….

Nguyễn Tuân, nhà văn của “Vang bóng một thời” đã có một tùy bút xuất sắc về phở. Ông cho phở có một “tâm hồn”, phở là “một miếng ăn kỳ diệu của tất cả người Việt Nam chân chính”. Cố đạo diễn điện ảnh Phạm Văn Khoa lúc sinh thời kể rằng, có lần ông cùng Nguyễn Tuân đang ăn phở, một người yêu thích nhận ra nhà văn bước lại chào nhưng Nguyễn Tuân vẫn vục đầu vào ăn. Người kia chắc chắn mình không nhầm đã kiên trì chờ đợi. Hết tô phở Nguyễn Tuân mới ngẩng mặt lên bảo “Tôi đang thưởng thức nên không trả lời, anh thứ lỗi”. Nhà văn không dùng chữ ăn mà dùng chữ thưởng thức.

Phở được dùng riêng như là một món quà sáng hoặc trưa và tối, không ăn cùng các món ăn khác. Nước dùng của phở được làm từ nước ninh của xương bò: xương cục, xương ống và xương vè. Thịt dùng cho món phở có thể là bò, hoặc gà. Bánh phở phải mỏng và dai mềm, gia vị của phở là hành lá, hạt tiêu, giấm ớt, lát chanh thái. Phở luôn phải ăn nóng mới ngon, người Hà Nội còn ăn kèm với những miếng quẩy nhỏ. Tuy nhiên, để có được những bát phở ngon còn tùy thuộc vào kinh nghiệm và bí quyết truyền thống của nghề nấu phở.

Trong món phở Hà Nội công đoạn chế biến nước dùng, còn gọi nước lèo, là công đoạn quan trọng nhất. Nước dùng của phở truyền thống là phải được ninh từ xương ống của bò cùng với một số gia vị. Xương phải được rửa sạch, cạo sạch hết thịt bám vào xương cho vào nồi đun với nước lạnh. Nước luộc xương lần đầu phải đổ đi để nước dùng khỏi bị nhiễm mùi hôi của xương bò, nước luộc lần sau mới dùng làm nước lèo. Gừng và củ hành đã nướng đồng thời cũng được cho vào.

Lửa đun được bật lớn để nước sôi lên, khi nước đã sôi thì phải giảm bớt lửa và bắt đầu vớt bọt. Khi đã vớt hết bọt, cho thêm một ít nước lạnh và lại đợi nước tiếp tục sôi tiếp để vớt bọt…Cứ làm như vậy liên tục cho đến khi nước trong và không còn cặn trong bọt nữa. Sau đó, cho một ít gia vị vào và điều chỉnh độ lửa sao cho nồi nước chỉ sôi lăn tăn để giữ cho nước khỏi bị đục và chất ngọt từ xương có đủ thời gian để tan vào nước lèo.

Có thể nói, phở Hà Nội có cái ngọt chân chất của xương bò, cái thơm của thịt vừa chín đến độ để vẫn dẻo mà lại không dai. Màu nước phở trong, bánh phở mỏng và mềm. Chỉ nhìn bát phở thôi cũng đủ thấy cái chất sành điệu, kỹ càng trong ăn uống của người Hà Nội. Một nhúm bánh phở đã trần qua nước nóng mềm mại dàn đều trong bát, bên trên là những lát thịt thái mỏng như lụa điểm mấy ngọn hành hoa xanh nõn, mấy cọng rau thơm xinh xắn, mấy nhát gừng màu vàng chanh thái mướt như tơ, lại thêm mấy lát ớt thái mỏng vừa đỏ sậm vừa màu hoa hiên.

Tất cả màu sắc đó như một bức họa lập thể hơi bạo màu nhưng đẹp mắt cứ dậy lên hương vị, quyện với hơi nước phở bỏng rẫy, bốc lên nghi ngút, đánh thức tất thảy khả năng vị giác, khứu giác của người ăn, khiến ta có cảm giác đang được hưởng cái tinh tế của đất trời và con người hợp lại. Chỉ húp một tý nước thôi đã thấy tỉnh người. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cái cay dịu của gừng, cái cay nồng của ớt, cái thơm nhè nhẹ của rau thơm, cái thơm của thịt bò tươi mềm. Tất cả cứ ngọt lừ đi, ngọt một cách hiền lành, êm nhẹ mà chân thật, tuyệt kỹ hài hòa.

Ta có thể thưởng thức nhiều hương vị phở tại Hà Nội. Có ba món phở chính: Phở nước, Phở xào, Phở áp chảo. Trong ba loại phở trên thì phở nước là phổ biến hơn cả. Phở nước gồm có: Phở Bò, phở Gà, phở Tim gan. Tuy nhiên, người sành điệu chỉ ăn phở chuộng nhất phở Bò, thứ đến là phở gà và không chấp nhận những loại phở khác.

Đối với du khách nước ngoài thì phở được coi là món ngon hấp dẫn và lạ miệng bởi sự tinh túy. Để thưởng thức phở ngon thì cần phải để phở trong bát sứ chứ không phải là bát thủy tinh hay bát nhựa. Bát đựng phở không được quá to hay quá nhỏ. Nếu bát quá nhỏ, nước dùng sẽ chóng nguội và không có đủ chỗ để thịt, rau thơm và gia vị. Nếu bát to quá thì chưa ăn hết một bát bạn đã thấy chán vì phở chỉ là một món ăn nhẹ hoặc món ăn thêm.

Khi ăn phở, một tay cầm đũa còn tay kia cầm thìa. Dùng đũa tre là thích hợp nhất vì nó giản dị và không bị trơn khi gắp bánh phở. Bàn ăn phở cần hơi thấp so với bình thường để nước dùng không vương vào quần áo bạn khi cúi xuống gắp sợi bánh phở lên ăn.

Trông bạn sẽ rất kỳ cục nếu bạn uống bia hoặc trà đá khi ăn phở. Tuy nhiên, bạn nhấm nháp một chén cuốc lủi để bát phở thêm ngon thì có thể chấp nhận được. Nhưng thường thì không dùng đồ uống hoặc các đồ ăn khác khi ăn phở, ăn như vậy mới càng thấy phở ngon.

Thuyết minh về món: Nem rán

Thuyết minh về món: Phở Hà Nội

Việt Nam được biết đến là đất nước có nền văn hóa ẩm thực khá phong phú. Chúng ta có thể kể tên các món ăn đặc sản của dân tộc như bánh chưng, bánh cốm, phở, bún bò,… và đặc biệt là món nem rán. Đây là món ăn vừa cao quý lại vừa dân dã, bình dị để lại một mùi vị khó phai mờ trong mỗi chúng ta.

Nem rán có nguồn gốc từ Trung Quốc, thuộc nhóm các món Dimsum. Món ăn này đã theo chân những người Hoa khi di cư sang nước ta và được biến đổi thành món ăn phù hợp với khẩu vị người Việt. Nem rán không chỉ phổ biến ở Việt Nam, Trung Quốc mà nó còn góp mặt trong ẩm thực của đất nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Đức, Ba Lan và nhiều nước Trung, Nam Mĩ,… với các tên gọi khác nhau như Harumaki, Chungwon, Rouleau de printemps, Sajgonki,…Ở Việt Nam, tùy theo vùng miền mà món ăn này có những tên gọi riêng. Nem rán là cách gọi của người dân miền Bắc, người miền Trung gọi là chả cuốn và chả giò là cách gọi của người dân miền Nam.

Nguyên liệu chế biến món nem rán khá đa dạng nhưng cũng hết sức dễ tìm. Để món ăn đầy đủ các thành phần dinh dưỡng chúng ta cần chuẩn bị thịt băm, trứng gà hoặc trứng vịt, hành tây, hành lá, cà rốt, su hào, giá đỗ, rau mùi, rau thơm, mộc nhĩ, mì hoặc miến,…và một số loại gia vị như mì chính, bột canh, hạt tiêu, nước mắm,…Những gia vị này sẽ giúp món ăn thêm phần đậm đà, hấp dẫn. Một thứ không thể thiếu đó chính là bánh đa nem. Bánh đa nem được làm từ gạo và khi chọn ta cần lựa những lá bánh mềm, dẻo để khi gói không bị vỡ.

Để có được món nem rán thơm phức hoàn hảo, trước hết chúng ta cần sơ chế các nguyên liệu đã chuẩn bị. Chúng ta ngâm nấm và mộc nhĩ cho đến khi chúng nở ra rồi rửa sạch, thái nhỏ. Đồng thời các loại rau củ cũng gọt vỏ, rửa sạch và thái. Mì hoặc miến ngâm nước ấm trong khoảng năm phút rồi cũng cắt thành từng đoạn ngắn. Sau đó, cho tất cả các nguyên liệu vào âu hoặc bát to, đập thêm trứng, nêm thêm gia vị rồi trộn đều.

Số trứng dùng để làm nem không nên quá nhiều vì như thế sẽ khiến nhân nem ướt rất khó cuộn và cũng không nên quá ít vì nem sẽ bị khô. Vì vậy, khi đập trứng ta nên đập lần lượt từng quả để ước lượng lượng trứng phù hợp. Màu cam của những sợi cà rốt, màu trắng của mì, màu xanh của rau, màu vàng của trứng,… tất cả hòa quyện với nhau trông thật hài hòa. Chúng ta sẽ ướp phần nhân nem từ 5 đến 10 phút để các gia vị ngấm đều.

Tiếp theo, chúng ta trải bánh đa nem trên một mặt phẳng rồi cho nhân nem vào cuộn tròn. Bánh đa nem có loại hình tròn, hình vuông, cũng có loại hình chữ nhật, tùy theo sở thích mà mỗi người lại lựa chọn những loại bánh đa nem khác nhau. Nếu muốn bánh đa nem mềm và giòn thì trước khi cuốn nem nên phết lên bánh đa nem một chút nước giấm pha loãng với đường và nước lọc.

Chúng ta nên gấp hai mép bánh đa nem lại để phần nhân nem không bị chảy ra ngoài. Sau đó, đun sôi dầu ăn rồi cho nem vào rán. Khi rán nên để nhỏ lửa và lật qua lật lại để nem được chín vàng đều rồi vớt ra giấy thấm để nó hút bớt dầu mỡ, tránh cảm giác bị ngấy khi thưởng thức.

Nước chấm là thứ không thể thiếu để món nem trở nên đậm đà. Muốn có nước chấm ngon, chúng ta cần chuẩn bị một chút đường, tỏi, giấm, ớt, chanh và nước mắm. Đầu tiên, ta hòa tan đường bằng nước ấm rồi cho thêm tỏi, ớt đã băm nhỏ. Sau đó đổ từ từ giấm và nước mắm vào rồi khuấy đều cho các gia vị ngấm đều. Ta có thể thay giấm bằng chanh hoặc quất. Tùy khẩu vị của mỗi người mà nước chấm có độ mặn ngọt khác nhau.

Cuối cùng, bày nem ra đĩa, trang trí thêm rau sống, cà chua hay dưa chuột thái lát để đĩa nem trông thật đẹp mắt. Những bông hồng được làm từ cà chua, những bông hoa được tỉa từ dưa chuột sẽ khiến món ăn vô cùng hấp dẫn. Nem rán chấm với nước chấm tỏi ớt sẽ mang lại cảm giác rất thú vị. Bánh đa nem vàng giòn cùng nhân nem thơm phức quyện hòa với nhau cùng vị cay cay của ớt, chua chua của giấm, ngòn ngọt của đường sẽ khiến những ai thưởng thức nó không bao giờ có thể quên được mùi vị đặc biệt này.

Nem rán đã trở thành một món ăn phổ biến trên khắp đất nước Việt Nam. Nó không chỉ có mặt trong những bữa cơm bình dị thường nhật mà còn xuất hiện trong mâm cơm thờ cúng tổ tiên. Đây là món ăn mang ý nghĩa trang trọng, cao quý. Ngoài ra nem rán còn dùng để ăn kèm với bún đậu và các món ăn khác. Giữa tiết trời se lạnh như thế này còn gì tuyệt vời hơn khi thưởng thức món em rán nóng hổi. Sự kết hợp các nguyên liệu làm nên nhân nem như mang một ý nghĩa biểu tượng về sự đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của người dân đất Việt.

Nem rán không chỉ là món ăn giàu chất dinh dưỡng mà còn là món ăn góp phần tạo nên nền ẩm thực Việt với những đặc trưng và sự độc đáo riêng biệt. Món ăn này tuy dễ thực hiện nhưng lại đòi hỏi sự kì công và khéo léo nên người chế biến cần có sự tập trung nhất định. Đây còn là một trong những món ăn thu hút khách quốc tế khi đến thăm Việt Nam. Có thể nói, món nem rán nói riêng và ẩm thực Việt nói chung đang ngày càng khẳng định được giá trị trên thế giới.

Đăng bởi: Hiếu Nguyễn

Từ khoá: 9 bài văn thuyết minh về một món ăn hay nhất

Thuyết Minh Về Cây Ổi ❤️️ 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Thuyết Minh Về Cây Ổi ❤️️ 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất ✅ Tham Khảo Tuyển Tập Văn Mẫu Giới Thiệu Về Giá Trị Và Ý Nghĩa Của Cây Ổi Quê Hương.

Việc lập dàn ý thuyết minh về cây ổi là điều rất quan trọng và cần thiết trong quá trình làm bài giúp các em học sinh định hướng và triển khai bài viết.

I. Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu về đối tượng cần thuyết minh – cây ổi

II. Thân bài:

-Nguồn gốc cây ổi: Xuất hiện ở khu vực Brasil, rừng nhiệt đới châu Mỹ.

-Đặc điểm hình dáng cây ổi:

Cây ổi cao trung bình từ 3m – 4m.

Gốc cây to bằng cái cổ chân của của em bé.

Từ gốc cây tẽ ra ba nhánh đều nhau.

Thân ổi màu nâu. Cành có màu nâu nhạt.

Lá ổi dày, mặt dưới hơi trắng, mặt trên màu xanh.

Hoa Ổi trắng muốt. Khi những cánh hoa ổi rụng là kết trái

Khi còn xanh, quả có màu xanh đậm. Khi chín, ổi có màu xanh nhạt.

Khi ăn, mình thấy ổi rất giòn và ngọt.

-Lợi ích, công dụng của cây:

Là loại cây ăn quả giàu chất dinh dưỡng và tốt cho sức khoẻ

Mang lại giá trị kinh tế cao.

Cải thiện nâng cao đời sống con người.

III. Kết bài: Khẳng định lại một lần nữa vai trò của cây ổi đối với con người.

Chia sẻ cùng bạn 🌹 Thuyết Minh Về Một Loài Cây Cối Em Yêu 🌹 15 Mẫu Hay Nhất

Bài văn mẫu thuyết minh về cây ổi đã thể hiện được những ý nghĩa không thể thiếu của loài cây này trong đời sống của con người.

Trên khắp mọi miền của đất nước Việt Nam thân yêu, nơi đâu cũng ngập tràn hoa thơm trái ngọt. Mỗi vùng miền lại có những loại quả đặc trưng khác nhau, mang hương vị khác nhau. Ổi cũng là một trong những loại quả được nhiều người yêu thích nhất. Cây ổi là loại cây ăn quả phổ biến ở nước ta.

Cây ổi từ lâu đã trở nên quen thuộc trong đời sống của người dân Việt Nam, đặc biệt là ở các vùng nông thôn giản dị, thanh bình. Là một thành viên thuộc dòng họ Sim, cây ổi là loài cây ăn quả thường xanh lâu năm. Nó có nguồn gốc từ Brasil và những miền nhiệt đới châu Mỹ, rồi lan tới những vùng nhiệt đới châu Á. Không ai rõ thời điểm cây ổi xuất hiện ở Việt Nam chính xác là bao giờ, chỉ biết rằng từ rất lâu trước kia, cây ổi đã mọc hoang dại ở nhiều vùng rừng núi hoặc được đem trồng trong vườn, xung quanh nhà ở để lấy quả ăn.

Nhà ổi có rất nhiều anh em, không chỉ có những giống ổi phổ biến như ổi găng, ổi thóc mà còn có cả ổi trâu, ổi bo, ổi đào, ổi mỡ, ổi nghệ…những cái tên rất thú vị và có vẻ kỳ lạ. Đặc biệt là ổi đào, ổi nghệ tuy quả không to như ổi trâu, ổi bo…nhưng rất ngọt và thơm.

Xét về hình thể cùng anh em nhà vải và nhãn, xoài, cây ổi nhỏ bé hơn. Chiều cao trung bình chỉ khoảng 6 – 7 m, có cây cao nhất sẽ lên tới 10 m, đường kính thân tối đa chỉ khoảng 30cm. Những giống ổi mới còn nhỏ và lùn hơn thế nữa. Cây ổi ra cành và nhánh sớm nên thân nó chắc khỏe và ngắn, bù lại thân cây ấy nhẵn nhụi, chẳng mấy khi bị sâu đục rỗng như nhãn, vải… Khi vỏ già rồi tróc ra bên dưới còn có một lớp vỏ mới cũng nhẵn, màu xám xám xanh xanh rất đẹp.

Rễ cây mọc thành chùm, bám vào nhau đâm sâu xuống lòng đất để hút chất dinh dưỡng nuôi cây. Cây ổi có rất nhiều cành, trên cành đầy những lá xanh hình bầu dục, nhỏ bằng khoảng nửa bàn tay. Trên mỗi chiếc lá lại có những đường gân xếp đều tăm tắp, nhẹ tay sờ vào cũng thấy ram ráp. Lá ổi có mùi thơm dịu nhẹ rất dễ chịu.

Ổi cũng ra hoa rồi mới kết trái như những cây ăn quả thông thường khác. Hoa ổi màu trắng, moc thành từng chùm khoảng 2 – 3 bông, thường mọc ở nách lá mà không phải đầu cành. Hoa có 5 cánh trắng bao bọc lấy nhụy vàng bên trong với nhiều hạt phấn nhỏ. Mùa ổi ra hoa là vào tháng 3 – tháng 4 cuối xuân đầu hạ. Nhưng đến thời điểm giao mùa thu độ tháng 8 – tháng 9 thì mới đến mùa quả. Qủa ổi là loại quả trông mọng, hình dáng không cố định mà thay đổi theo từng giống, hình cầu, hình trứng hoặc hình quả lê đều có, rất đa dạng, bắt mắt.

Quả ổi lớn hay nhỏ cũng phụ thuộc vào giống, như giống ổi thóc nhỏ bé chỉ bằng một nửa ổi găng, ổi đào lại to hơn, có giống ổi còn to như quả lê. Trên đầu mỗi quả luôn có một vết sẹo do cuống ổi, vỏ quả ổi mỏng, mịn, thịt quả bên trong dày màu trắng, hồng, vàng… Ổi là giống quả có khá nhiều hạt, sau này người ta nghiên cứu thêm mới cho ra đời những giống quả không hạt. Vị quả ngọt thanh thanh, thêm thịt cùi giòn, kết hợp với nhau tạo ra hương vị đặc biệt chỉ có ở quả ổi.

Không phải tự nhiên mà cây ổi trở nên thân thuộc trong đời sống của con người Việt Nam. Nó không chỉ đem đến những giá trị từ quả ổi với vai trò của một cây ăn trái mà còn có nhiều giá trị khác. Qủa ổi có hương vị ngọt thơm, là loại trái cây mà nhiều người yêu thích. Thậm chí được đưa đến các thị trường thế giới và nhận được sư phản hồi tích cực.

Ổi hái từ trên cây xuống có thể thưởng thức ngay hay chế biến thành những miếng mứt ngọt ngọt thơm thơm, ép ra thành nước ổi đóng hộp, làm kẹo… Các bộ phận trên cây như búp non, lá non, quả, vỏ thân hoặc rễ đều có công dụng chữa bệnh, dùng làm các vị thuốc lành tính, an toàn. Trong y dược cổ truyền của dân tộc, lá ổi có thể giải độc, quả ổi vừa ngon, vừa đẹp da lại có tác dụng tiêu thực. Dân gian xưa còn dùng lá non và búp ổi để chữa đau bụng, dùng lá tươi cho những vết thương bầm dập, chảy máu… Và rất nhiều công dụng khác.

Ngày nay, khoa học kĩ thuật phát triển, có rất nhiều loại cây ăn quả ra đời nhưng người ta vẫn dành tình cảm đặc biệt cho cây ổi. Mỗi dịp Tết Nguyên Đán, tết Trung Thu trên mâm hoa quả chẳng bao giờ thiếu bóng dáng loại quả xanh và ngọt này. Cây ổi vì lẽ đó chính là một phần trong cuộc sống của nhân dân ta, cần được trân trọng, giữ gìn.

SCR.VN tặng bạn 💧 Tả Cây Ổi Hay Nhất 💧 15 Bài Văn Tả Về Cây Ổi Điểm 10

Tham khảo cách hành văn súc tích và giàu ý nghĩa biểu đạt với bài thuyết minh về cây ổi ngắn gọn sau đây:

Hạ vừa là mùa của nắng của gió lại vừa là mùa nở rộ của biết bao nhiêu loại trái cây thơm ngon. Là xoài vàng ươm chín ngọt, là sấu xanh chua chua, là mít thơm lừng ngọt sắc, và còn là ổi dịu nhẹ mà thơm giòn. Ổi là loài cây, là thức trái quen thuộc và gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ.

Ổi là cây thân gỗ, cao từ năm đến bảy mét. Từ thân, cây mọc ra nhiều cành cây như những cánh tay với những tầng lá rậm rạp. Trên nền xanh của lá còn điểm xuyết sắc trắng tinh tiết của hoa ổi. Hoa ổi nhỏ thường mọc thành chùm ở đầu cành. Có hoa thì sẽ có quả, khi hoa ổi già rồi rụng xuống thì quả ổi bắt đầu đâm trổ thành những quả bé xíu. Vỏ ổi màu xanh thẫm, nhẵn bóng. Hạt ổi nhỏ, cứng và nằm lẫn trong thịt quả. Lớp cùi ổi có màu trắng ngà, hơi trong, vị ngọt và giòn.

Ổi cũng có nhiều loại, các loại ổi thường có sự khác biệt ở quả, đặc biệt là phần cùi ổi, có những loại ổi ruột trắng và cũng có những loại ruột đỏ. Là cây cho quả nên quả ổi là loại thực phẩm, được ăn trực tiếp mà không phải qua chế biến. Bên cạnh đó thì ổi cũng được làm thành ổi sấy khô để sử dụng quanh , là nguyên liệu làm bánh kẹo… Ổi là loại quả chứa nhiều vitamin C giúp chống các bệnh cao huyết áp, bệnh tim hoặc các bệnh về xương khớp. Vì tác dụng và chất dinh dưỡng nó bao chứa nên ổi được nhiều người yêu thích.

Cây ổi là một hình ảnh quen thuộc của làng quê với những vườn ổi xanh mướt quanh năm, với những chùm quả lúc lắc trên cành vào mùa ổi chín. Mùa hè nóng nực mà được thưởng thức những trái ổi thanh ngọt với hương thơm dễ chịu, cảm nhận những cùi ổi dày mát giòn thì còn gì bằng.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Đón đọc bài thuyết minh về cây ổi hay giúp các em học sinh có thêm những ý tưởng và thông tin cần thiết cho bài viết của mình.

Mùa hè là thiên đường của các loại hoa quả. Quả nào cũng thơm ngon và có hương vị riêng. Trong đó, quả ổi là một trong những loại quả ngon hấp dẫn nhất của mùa hè. Để có được những quả ổi ngọt thơm là nhờ có công vun trồng và chăm sóc cây ổi của những người nông dân. Đối với nhiều người dân Việt Nam, cây ổi cũng không còn quá xa lạ nữa.

Tại vùng Đông Nam Á cây ổi được trồng ở hầu khắp mọi nơi. Ở Việt Nam, cây ổi là loại cây ăn quả được nhiều người yêu thích vì hương vị quả ổi dễ ăn, phù hợp với khẩu vị của người Việt. Mỗi cây ổi thường có chiều cao từ 3 – 5m. Có những giống ổi cây có thể cao hơn. Có những giống ổi chỉ cần đứng dưới gốc là có thể dễ dàng hái được những chùm ổi chín mọng. Ngoài ra, tùy thuộc vào cách chăm sóc mà những cây ổi ở các vùng khác nhau có chiều cao khác nhau. Chất lượng của chúng vì vậy mà cũng có sự khác nhau.

Cây ổi có thân màu nâu, lá của chúng giống như những cái lông chim mọc so le với nhau. Trước khi ra quả, cây ổi ra hoa với những bông hoa trắng nhỏ. Hương thơm của hoa ổi có mùi thoảng thoảng rất dễ chịu. Khi hoa rụng là lúc những quả ổi bắt đầu sinh sôi. Vỏ quả ổi khi chín có màu xanh bóng, nhưng bên trong có lớp cùi trắng giòn ngọt.

Để cây ổi phát triển thì điều kiện khí hậu là vô cùng quan trọng. Ổi thích hợp với khí hậu nhiệt đới, nóng và độ ẩm cao. Đất trồng cây ổi cũng nên là loại đất thoát nước tốt và giàu mùn. Tùy vào từng giống ổi mà thời gian thu hoạch khác nhau. Ổi thường chín rộ vào mùa hè nhưng cũng có giống chín muộn hơn. Quả ổi thường được mọi người ăn trực tiếp như một thứ quả tráng miệng. Ngoài ra, từ quả ổi người ta cũng chế biến tạo hương vị cho các loại bánh, kẹo, làm ổi khô hay làm trà ổi uống giải khát ngày hè. Tuy nhiên, cách thưởng thức mà nhiều người yêu thích nhất có lẽ vẫn là ăn trực tiếp.

Giới thiệu đến bạn 🌟 Tả Cây Ăn Quả Em Yêu Thích 🌟 15 Bài Văn Tả Hay Nhất

Bài văn mẫu giới thiệu về cây ổi quê em không chỉ giúp các em học sinh luyện tập cách diễn đạt mà còn nuôi dưỡng tình yêu thiên nhiên, yêu mảnh đất quê hương phong phú cây trái.

Trên khắp mọi miền của Tổ quốc thân yêu, nơi đâu cũng có những loài cây đặc trưng cho xứ sở của mình. Hà Nội thoang thoảng hương hoa sữa, miền Tây nức tiếng cây trái miệt vườn. Nông thôn bình dị quê tôi lại không thể vắng bóng hình ảnh cây ổi.

Nhắc đến nông thôn Việt Nam không thể không nhắc đến cây ổi. Trên khắp mọi miền quê, nơi đâu ta cũng thấy màu xanh những tàu lá ổi căng tràn sức sống. Cây ổi là một loại cây ăn trái đã được thuần hóa từ bao đời nay, phổ biến ở các khu rừng nhiệt đới. Ổi ở Việt Nam lại có nguồn gốc từ các giống ổi dại và có số lượng lớn. Mỗi giống lại có đặc điểm hình dáng, hương vị khác nhau.

Cây ổi gắn bó thân thiết với cuộc sống người dân quê tôi và con người Việt Nam. Vốn gần gũi trong đời sống của người nông dân. Chỉ một loài cây bình dị nhưng ẩn chứa rất nhiều công dụng. Quả ổi có giá trị dinh dưỡng cao. Ổi chín có rất nhiều vitamin tốt cho sức khỏe, người già và người trẻ đều yêu thích.

Người ta còn làm thành mứt ổi, ổi sấy rất ngon. Lá ổi dùng gói nem, gói giò tạo mùi thơm dịu nhẹ. Lá ổi khô để đốt. Người ta dùng lá ổi trong một số phương thuốc Đông y chữa bệnh. Những ngày rằm, ngày lễ trên mâm bàn thờ tổ tiên luôn có những quả ổi thơm ngon nhằm cầu mong phúc lành trong cuộc sống.

Từ bao đời nay, ổi đã gắn bó và dâng hiến cho cuộc sống con người Việt Nam, cả về vật chất và tinh thần. Cây ổi cũng chính là loài cây biểu tượng cho quê hương thân yêu mà mỗi lần đi xa tôi luôn ghi nhớ.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Thuyết Minh Về Cây Xoài 🌼 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về cây ổi đạt điểm cao sẽ cung cấp cho người đọc những thông tin đa dạng, phong phú về giá trị và ý nghĩa của loại cây này.

Nhắc đến mùa thu, con người ta không khỏi nhớ tới hình ảnh những khóm cúc vàng tươi hay cái se lạnh của làn sương sớm ban mai chùng chình. Và đặc biệt hơn cả, chúng ta không thể không nhắc đến hương thơm dìu nhẹ của từng chùm ổi chín thoang thoảng theo làn gió thu. Họ nhà ổi chúng tôi tự hào khi trở thành loại quả đặc trưng cho mùa thu, một loại cây vô cùng quen thuộc với con người đất Việt.

Họ nhà ổi chúng tôi thuộc dòng cây gỗ nhỏ, cao từ 3-6 m, đường kính thân tối đa 30cm. Thân cây non có màu xanh, tiết diện vuông, có 4 cánh uốn lượn màu xanh do cuống lá kéo dài; thân già màu nâu xám, tiết diện tròn, có lớp vỏ mỏng trơn nhẵn bong ra thành từng mảng. Cây có nhiều lông mịn ở thân non, lá và các bộ phận của hoa.

Lá đơn, mọc đối có cuống ngắn, không có lá kèm. Phiến lá hình bầu dục, nhẵn hoặc hơi có lông ở mặt trên, mặt dưới có lông mịn, đầu có lông gai hoặc lõm, lá dài 11-16 cm, rộng 5-7 m, mặt trên màu xanh đậm hơn mặt dưới. Bìa phiến nguyên, ở lá non có đường viền màu hồng tía kéo dài đến tận cuống lá. Gân lá hình lông chim, cuống lá màu xanh, hình trụ.

Hoa của họ nhà ổi chúng tôi nở rất đẹp, trắng trong, tinh khiết khác hẳn với nhiều loài hoa khác. Những bông hoa to màu trắng, mọc từng chùm tựa như những bông tuyết nhỏ, li ti trên đầu cành. Hoa có lá bắc con dạng vẩy, màu xanh hơi nâu. Quả ổi là một loại quả mọng hình dáng thay đổi tùy theo loài như hình cầu, hình trứng hay hình quả lê. Qủa của chúng tôi có đường kính khoảng 3-8cm, ở đầu có sẹo của đài tồn tại, vỏ quả mỏng, thịt giữa dày màu trắng, hồng, đỏ, vàng tùy loài.

Bên trong thịt quả có rất nhiều hạt, hình đa giác không đều, màu vàng nâu. Ổi ra hoa quả nhiều năm, nhưng thơm và ngon nhất vẫn là vào những ngày mùa thu se lạnh. Những ngày trời thu, còn gì tuyệt vời hơn khi có thể ngửi được hương ổi từ những chìm ổi chín trong vườn quê thanh bình yên ả hay đơn giản chỉ là có thể thưởng thức được hương vị giòn ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của những trái ổi chín thôn quê!

Không chỉ là loại cây cho hương thơm, quả ngọt, chúng tôi còn có rất nhiều công dụng khác nữa như làm mứt đông hay thành các loại nước uống tốt cho sức khỏe, chăm sóc cho da. Điều thú vị mà ít người biết đến đó chính là búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vỏ thân chúng tôi đều có thể làm thuốc. Theo y dược học cổ truyền, lá ổi có công dụng giải độc, quả ổi vị ngọt hơi chua có công dụng tiêu thực… Lá non và búp ổi non là một vị thuốc chữa đau bụng đi ngoài kinh nghiệm lâu đời trong nhân dân. Lá tươi còn được dùng khi bị chấn thương bầm dập, vết thương chảy máu và vết loét… Hương ổi thơm nồng nàn còn khêu gợi lên biết bao tâm hồn người thi sĩ:

Với nền kĩ thuật công nghệ áp dụng vào nuôi giống cây trồng như ngày này, họ nhà ổi chúng tôi được nhân giống và nuôi trồng trên khắp mọi miền trên tổ quốc, và được lai tạo với rất nhiều giống loài khác nhau, thậm chí để tăng nhu cầu tiêu dùng và khả năng xuất khẩu, nâng cao thu nhập đời sống người dân con người đã lai tạo được giống ổi không hạt, ổi ruột hồng,… Chúng tôi giờ đây có thể tự hào mang những tinh hoa của đất trời nước Việt giới thiệu với bạn bè quốc tế.

Họ nhà ổi chúng tôi luôn luôn cố gắng hết mình, hiến dâng những điều tốt đẹp nhất đến cho con người. Ổi giản dị, mộc mạc mang đạm dấu ấn thôn quê nhưng ẩn sâu trong đó là tâm hồn, nét đẹp của con người Đât Việt nơi đây- cần cù, chất phác.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Bài văn thuyết minh về cây ổi đặc sắc sẽ giúp các em học sinh có được góc nhìn độc đáo và sự quan sát tinh tế đối với sự vật được thuyết minh.

Trên quê hương tôi có biết bao nhiêu là cây ăn quả, thế nhưng nhiều nhất phổ biến nhất có lẽ phải nói đến cây ổi. Mỗi nhà trong thôn phải có đến ít nhất một cây ổi không thì là ba bốn cây, có những nhà trồng lấy quả đi bán thì có hẳn một vườn ổi. Trong cuộc sống của chúng ta không thể nào thiếu loại cây ăn quả thơm ngon và bổ dưỡng này.

Trước hết là về đặc điểm của cây ổi. Loài cây này thường được trông bằng cây con khi người ta đã ươm hạt lớn chừng hai đến ba mươi đến năm mươi xăng ti mét sau đó sẽ đem ra để trồng. Khi cây ổi còn nhỏ thì cây có thân rất bé và yếu. Chỉ cần sức một đứa trẻ con cũng có thể bẻ gãy cây ra làm đôi. Lúc này nó giống như một người đứa trẻ con yếu ớt vậy. Lá của cây ổi khi này vẫn còn vẻ mỏng manh của những lá non, màu của nó là màu xanh vàng nhẹ nhàng. Rễ cũng ít và cành nhỏ.

Lúc này cây vẫn phải chăm sóc một cách kĩ lưỡng, tưới nước hàng ngày. Khi lớn hơn một chút những chiếc lá non trước đó sẽ già đi mang một màu xanh lá cây đậm, còn thân cũng trở nên cứng cáp hơn. Những chiếc lá to hơn, cứng hơn. Và cứ thế nó sống ở đó cao dần, lớn dần đến khi thành một bóng mát tỏa một góc vườn.

Cây ổi ra có hoa rất đẹp, nó mọc thành những chùm màu trắng ở đầu cành. Sau một thời gian thì những bông hoa ấy rụng dần và để lại quả non bé nhỏ nhú ra và lớn lên dần theo năm tháng. Những quả ổi khi chưa chín thì có màu xanh nhạt còn khi ăn được thì nó có màu xanh vàng bóng bẩy. Ổi chiếm vai trò quan trọng trong đời sống hiện nay của chúng ta mà vai trò thứ nhất và thiết yếu nhất đó chính là một cay ăn quả ngon hấp dẫn. Ổi khi chín có mùi rất thơm và ngọt. Tùy theo từng loại ổi mà có vị ngọt khác nhau. Không chỉ ăn trực tiếp, người ta còn ăn cả ổi chấm muối ớt cũng rất ngon.

Như vậy qua đây ta thấy được đặc điểm và công dụng của cây ổi. Chính vì thế mà nó có ý nghĩa rất lớn đền đời sống của nhân dân ta. Nó không chỉ là một loài cây ăn quả mà người đời con dùng nó với nhiều công dụng. Mỗi quê hương nên gìn giữ những cây ổi hữu ích này.

Gợi ý cho bạn 🍀 Thuyết Minh Về Cây Mít 🍀 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về cây ổi chọn lọc sẽ mang đến cho các em học sinh những ý văn hay để trau dồi văn phong và cách diễn đạt.

Cây Ổi là một cây trồng quá đỗi quen thuộc, không chỉ trong đời sống hàng ngày mà còn trong cả ngành y học cổ truyền. Hiện nay, ổi ta không còn được trồng để lấy quả, vì quả nhỏ, số lượng hạt nhiều, thịt quả mỏng. Trên thị trường có đa dạng các loại ổi khác nhau, cho chất lượng quả tốt, vì thế ổi ta hiện được trồng chủ yếu để làm cây cảnh.

Ổi ta có tên khoa học là Psidium guajava, thuộc họ Đào kim nương, có nguồn gốc xuất xứ từ vùng đất Brasil. Ổi thuộc dạng thân gỗ, có chiều cao đạt từ 3-6m. cành cây khi còn non có màu xanh,có 4 cạnh đặc trưng, khi già thân có màu nâu, nhẵn nhụi. Hoa thuộc dạng hoa lưỡng tính, mọc thành chùm, có màu trắng, 5 cánh. Quả nhỏ, có nhiều hạt, thịt quả mỏng, khi còn xanh có màu xanh đậm, khi chín chuyển dần sang vàng.

Lá ổi có chứa rất nhiều tinh dầu, đặc biệt là trong lá ổi và búp non, thành phần tanin pyrogalic 7-10%, có tác dụng điều trị các bệnh như viêm ruột thừa cấp, tình trạng khó tiêu ở trẻ em. Đôi khi lá ổi tươi còn được dùng để chữa trị các vết thương, vết loét, bệnh zona.. Hiện nay, việc trồng ổi ta làm cây cảnh bon sai rất phổ biến, đặc biệt là ở các nhà vườn, nó tạo nên một không gian vô cùng thú vị, độc đáo.

Ổi là loại cây ăn quả dễ trồng, không cần quá nhiều công chăm sóc, có thể trồng ổi từ tháng 3-5 và từ tháng 8-10 đối với miền Bắc và từ tháng 5-6 đối với miền Nam. Đất trồng ổi không yêu cầu quá khắt khe, nhưng yêu cầu có khả năng thông thoáng, giữ nước tốt, có tầng canh tác đất trên 50 cm. Cần cung cấp đầy đủ độ ẩm cho cây, vào những ngày trời mưa lớn, cần tháo hết nước, để rễ cây không bị ngập úng. Có thể thường xuyên cắt tỉa cành cho cây, để tạo độ thông thoáng cho cây, để có hình dáng như mong muốn.

Ổi là một loại trái cây rất thơm ngon, phù hợp với tất cả mọi người. ngoài ra đây còn là một loại cây có công dụng chữa các loại bệnh như đau bụng, khó tiêu rất tốt. Cây ổi ta được trồng phổ biến hầu hết trên khắp các tỉnh thánh ở nước ta. Với đặc tính dễ thích nghi và dễ trồng, nó đã trở thành một loại cây quen thuộc với người dân ta.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Thuyết Minh Về Cây Dừa 🌟 15 Bài Thuyết Minh Hay

Để làm bài văn thuyết minh về cây ổi sinh động, các em học sinh có thể kết hợp sử dụng nhiều phương thức biểu đạt để làm bài viết của mình thêm ấn tượng.

Thiên nhiên muôn hình muôn vẻ, ban cho con người một sức sống xanh tươi với hàng ngàn loài cây phong phú và đa dạng. Trong đó em thích nhất là cây ổi- một loại cây ăn quả quen thuộc với mọi người. Nhà em có một khu vườn nhỏ sau nhà. Ở đây, ba em trồng rất nhiều những loại cây khác nhau nhưng đối với em, cây ổi vẫn là loài cây thú vị nhất. Cây ổi được bà ngoại em trồng ở khu vườn đã được 5 năm. Nó mang trong mình một sức sống căng tràn.

Nhìn xa xa cây ổi như một chiếc xanh ngát giữa khu vườn tràn ngập các sắc xanh khác nhau. Thân ổi khá to vừa nửa vòng ôm, mọc thẳng và nhẵn. Em nhìn gốc của cây phình ra, sần sùi tỏa ra các rễ đủ hình thù kì quái như những con giun cắm sâu xuống đất để hút các chất dinh dưỡng từ đất, vận chuyển ngược lên nuôi thân và những cành lá xum xuê. Lá cây ổi to, xanh mượt căng bóng nổi trên mặt lá là những đường gân rõ nét.

Lá ổi mùa xuân mang một sức sống tươi mới, dường như được nàng xuân ve vuốt thêm một màu xanh dìu dịu. Khi đông về, lá ổi ngả màu đậm hơn, lá cây heo hắt cùng những cơn gió mùa lạnh lẽo. Chỉ lúc ấy, em mới biết cây ổi tiềm tàng sự sống mãnh liệt nhường nào. Một chiếc lá lay lắt, gió thổi mạnh nhưng quyết không lừa cành, vẫn ở đó bám lên thân mẹ hút từng giọt nhựa trắng ngọt lành. Đến mùa ra hoa, hoa ổi nhỏ xinh, hương dìu dịu trong gió.Quả ổi tròn, to mọc ra từng chùm nặng trĩu nhìn rất thích mắt.

Khi hái những trái ổi, em thích nhất là được thưởng thức chúng, cắn giòn giòn trong miệng, hạt màu vàng nhạt rất nhiều ở giữa quả. Quả ổi mang một hương vị riêng biệt, hương ổi đối với em mang một nỗi nhớ, nhớ về bà ngoại và nụ cười hiền dịu của bà. Thỉnh thoảng, những cơn gió mang hương ổi vương vấn trong không gian thu hút vài chú ong vàng bay qua và vài chú chim sơn ca hay đến để bắt những con sâu đang nằm sau những tán lá giúp cây ổi không bị lũ sâu tàn phá.

Cây ổi, đối với em không chỉ là một cây ăn quả bình thường mà nó còn chan chứa tình thương của người bà kính yêu. Bà rất thích ăn ổi, cây ổi này được chính tay bà trồng khi em còn học tiểu học. Lớn dần, dường như tình thương của bà từ cây ổi lan truyền đến em một cách kì diệu. Bà đã đi xa, em ngày một trưởng thành còn cây ổi cứ thế xanh tươi tràn đầy sức sống nơi góc vườn nhỏ. Ngày ngày em ngắm nhìn cây ổi , tưởng tượng rằng trong lớp vỏ cứng khỏe kia là từng mạch nhựa đang vận hành, chúng đã lớn lên từng ngày từng giờ dưới bàn tay chăm sóc của em và ba. Cây ổi- cứ thế xanh tươi như tình bà còn mãi, vương vấn trong hương ổi dịu dàng.

Cây ổi – loại cây quen thuộc và thân thiết đối với chúng ta biết bao. Em tự hứa dù có bận nhiều việc đến mấy em cũng sẽ chăm sóc cho cây ổi ngày một thêm xanh.

Tìm hiểu hướng dẫn 🔥 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🔥 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

Bài văn thuyết minh về cây ổi học sinh giỏi sẽ giúp các em học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản và phương pháp viết thể loại văn thuyết minh.

Từ xưa đến nay, cây ổi vẫn luôn là một trong những loại cây ăn quả được mọi người ưa chuộng. Bởi đây là giống cây dễ trồng, dễ chăm sóc, dễ cho ra quả. Hơn nữa, ổi được trồng hầu như khắp các địa phương, cả vùng đồng bằng lẫn miền núi ở nước ta.

Ổi là loài cây ăn quả thường xanh lâu năm, thuộc họ Đào kim nương. Cây ổi có nguồn gốc từ miền nhiệt đới Châu Mỹ. Ở Việt Nam, phần nhiều người ta trồng ổi để lấy quả ăn. Ổi là loại cây chịu nắng tốt, thích hợp với nhiều vùng miền, đặc biệt là những vùng có khí hậu ẩm, khí hậu nhiệt đới.

Ổi có thể trồng được ở nhiều loại đất, độ pH khoảng từ 4,5 đến 8,2. Cây cần nhiều nước để phát triển, phải thuờng xuyên tưới đủ nước để đảm bảo độ ẩm cho cây. Hiện nay có nhiều giống ổi như: ổi Bo, ổi xá lị có quả to nhưng kém thơm ngọt, ổi mỡ, ổi đào, ổi nghệ tuy quả nhỏ nhưng ngọt và rất thơm; gần đây có một số giống mới không hạt như: ổi không hạt Đài Loan, ổi Phugi,…

Cây ổi là loài cây gỗ nhỏ, cao từ 3-10m, đường kính thân tối đa 30cm. Những giống ổi mới còn nhỏ và lùn hơn nữa. Thân cây ổi chắc chắn và khỏe, tuy nhiên có phần ngắn vì phân cành sớm. Thân cây nhẵn nhụi rât ít bị sâu đục. Thân cây già màu nâu xám, tiết diện tròn, có lớp vỏ mỏng trơn nhẵn bong ra thành từng mảng. Thân cây non lại có màu xanh, tiết diện vuông, có 4 cánh uốn lượn do cuống lá kéo dài. Cây có nhiều lông mịn ở thân non, lá và các bộ phận khác của hoa.

Lá ổi là lá đơn, mọc đối xứng có cuống ngắn. Phiến lá hình bầu dục, nhẵn hoặc hơi có lông ở mặt trên, mặt dưới có lông mịn. Lá ổi dài khoảng 11 – 16 cm, rộng từ 5 – 7 cm, mặt trên màu xanh đậm hơn mặt dưới. Ở những lá non có đường viền màu hồng tía kéo dài đến tận cuống lá. Hoa ổi to có màu trắng, mọc từng chùm 2-3 chiếc, ít khi ở đầu cành mà thường ở nách lá. Hoa lưỡng tính có năm cánh gần đều, rời nhau và mang màu trắng mỏng, dễ rụng khi hoa nở. Cuống hoa dài từ 1,5 đến 2,5 cm, màu xanh, đế hoa hình chén cũng mang màu xanh.

Quả ổi là một loại quả mọng to từ khoảng 4 – 5g đến 500 – 700g, có hình dáng thay đổi tùy theo loài như hình cầu, hình quả trứng hoặc hình quả lê. Đường kính quả khoảng 3 – 8cm, ở đầu có vết sẹo màu nâu của đài để lại. Vỏ ổi mỏng, thịt giữa dày màu trắng, hồng, đỏ vàng tùy loại. Bên trong thịt quả có rất nhiều hạt cứng, hình đa giác không đều có màu vàng nâu. Ổi ra hoa và quả trong nhiều năm. Cụm hoa thường xuất hiện trên những cành non mới ra cùng năm, được thụ phấn nhờ gió hoặc côn trùng. Vòng đời của một cây ổi có thể kéo dài từ 40 – 60 năm. Mùa hoa ổi là vào tháng 3, 4 và mùa quả vào tháng 8, 9.

Cây ổi được trồng trong vườn làm cây ăn quả. Tuy vậy, các bộ phận khác của cây từ lá, hoa, quả đến vỏ đều có công dụng riêng. Quả ổi có thể được ăn tươi hoặc chế biến thành mứt khô hay các loại đồ hộp nước ép ổi. Ổi còn cung cấp các bộ phận như búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vỏ thân để làm thuốc.

Ổi là một loại cây có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống nhân dân ta không chỉ về vật chất mà còn về tình thần. Trong tương lai, cuộc sống ngày một hiện đại hơn, nhưng những giá trị tinh thần vẫn vẹn nguyên và không bao giờ thay đổi. Cũng giống như vậy, cây ổi sẽ mãi gắn bó với người dân Việt Nam để giúp mảnh đất quê hương thêm phong phú và màu mỡ hơn.

Tặng bạn 🌹 Thuyết Minh Về Cây Sầu Riêng, Trái Sầu Riêng 🌹 15 Bài Hay

Bài văn thuyết minh về cây ổi luyện viết sẽ giúp các em học sinh nâng cao cách hành văn và xây dựng những chi tiết đặc sắc trong bài viết của mình.

lại có một đặc điểm riêng và cho ra những loại quả với hương vị khác nhau. Trong số những cây ăn quả ấy, em thích nhất vẫn là cây ổi lê.

Cây ổi lê này do chính tay ông ngoại em trồng vào năm mà ông bà lấy nhau. Chính vì vậy mà cây ổi đã nhiều tuổi lắm rồi. Hàng ngày cũng chính ông là người đã chăm bón cho cây. Cây ổi giống như một người bạn thân thiết của ông. Dù không mất quá nhiều thời gian để chăm sóc nhưng ngày ngày ông đều ra vườn để ngắm nhìn chúng lớn lên.

Cây ổi ông em trồng tuy đã nhiều tuổi rồi nhưng nhìn nó vẫn cường tráng lắm. Thân cây ổi không lớn lắm. Chúng có một lớp vỏ nâu bóng bao bọc phía bên ngoài. Chúng mọc thẳng và có nhiều cành nhỏ trên ngọn cây. Lá cây ổi cũng không quá to. Chúng có màu xanh non khi mới mọc và chuyển sang xanh đậm khi đã già. Mùa xuân đến cũng là mùa mà những búp ổi non đua nhau mọc. Đôi khi nghịch ngợm, em vẫn thường hái búp ổi để ăn phần thân của chúng. Bà em nói lá ổi có tác dụng chữa bệnh nên ăn vào sẽ rất tốt. Khi ăn, lá ổi sẽ cho chúng ta cảm giác hơi đắng ở cổ họng. Những lá ổi già, người ta còn dùng để làm các vị thuốc hay dùng để nấu rượu nữa đấy.

Không phụ công chăm sóc của ông ngoại nên bao nhiêu năm qua, năm nào cây ổi cũng sai trĩu quả. Gọi là quả ổi lê vì chúng có hình dáng bên ngoài giống như những quả lê. Quả ổi khi mới mọc trông còn nhỏ xíu. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau chúng sẽ to dần lên. Đến một mức độ nhất định thì dừng lại. Nhìn những quả ổi lủng lẳng trên cây không khác gì những chiếc chuông nhỏ xinh. Màu sắc của quả ổi cũng chuyển dần từ xanh đậm sang xanh nhạt. Quả ổi càng chín thì màu sắc của chúng càng nhạt dần đi. Khi chín mềm chúng sẽ có màu sắc hơi ngà ngà vàng chứ không vàng óng như nhiều loại quả khác.

Ổi khi chín ương là có thể ăn được rồi. Sau khi rửa sạch, lớp vỏ ngoài của ổi cũng có thể ăn được chứ không cần gọt bỏ. Bên trong, phần thịt ổi có màu trắng xanh. Ở giữa là phần hạt ổi. Hạt ổi hơi cứng một chút nhưng phần thịt liên kết chúng ăn lại rất mềm và ngon. Khi ăn ổi, em thích nhất là cảm giác giòn tan ở trong miệng. Những quả ổi lê do ông em trồng ăn giòn mềm chứ không hề bị cứng. Khi có đông người, mẹ thường bổ ổi ra thành từng miếng giống như những miếng cau. Ai đến chơi ăn ổi cũng đều tấm tắc khen ổi ngon và đậm vị.

Mặc dù em đã được thưởng thức rất nhiều loại ổi khác nhau như ổi đào, ổi găng,… nhưng em chưa thấy loại ổi nào ngon như những quả ổi lê mà ông em đã trồng. Cây ổi lê giờ đây không chỉ còn là kỉ niệm của ông mà nó còn là kỉ niệm tuổi thơ của em.

Sau này, em sẽ thay ông chăm sóc cho cây ổi để chúng luôn luôn được xanh tốt. Để hàng năm em sẽ lại được ăn những quả ổi thơm ngon.

Chia sẻ 🌼 Thuyết Minh Về Cây Cau 🌼 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về cây ổi ngắn gọn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các em học sinh dễ dàng ôn tập và chuẩn bị cho bài kiểm tra trên lớp.

Hiện nay, cây ổi có rất nhiều loại được trồng ở Việt Nam và khắp nơi trên thế giới.

Hiện nay, ở nước ta trồng khá nhiều loại cây ổi. Trong đó chủ yếu là một số giống ổi sau: ổi Bo, ổi xá lị nghệ, ổi sẻ, ổi mỡ, ổi đào, ổi nghệ; ruột hồng (da láng, da sần). Gần đây còn có một số giống cây ổi mới không hạt như: ổi không hạt Đài Loan, ổi không hạt Thái Lan, ổi không hạt Mã Lai. Trong đó, giống ổi xá lỵ nghệ được trồng nhiều nhất do có những đặc điểm nổi bật như quả to, ít hạt, thịt dày, giòn, vị chua ngọt. Năng suất có thể đạt cây 2 – 4 năm tuổi có thể đạt năng suất 20-60 tấn/ha/năm và cây từ 5 năm tuổi trở đi có thể đạt năng suất 70-80 tấn/ha/năm.

Cây ổi giống có thể trồng gần như quanh năm, đặc biệt là khi trồng trong vườn, chăm sóc chu đáo. Tuy nhiên nên trồng vào mùa xuân, tháng 2, 3, hoặc khi trời có mưa, đất đủ ẩm. Sau khi trồng cần phủ gốc và tưới ẩm thường xuyên đến khi cây ra lá ổn định. Vùng có gió bão nên cắm cọc và buộc chặt cây để không bị lay gốc khi cây còn nhỏ. Hàng năm cần cắt tỉa những cành không cần thiết như cành vượt, cành tăm, cành sâu bệnh,… nên tỉa vào thời gian sau vụ thu hoạch quả, vào những ngày nắng.

Cây ổi từ lâu là cây trồng bản địa được trồng ở nhiều nơi trên toàn quốc. Mỗi vùng miền lại có một loại ổi riêng mang nhiều đặc điểm tốt. Ổi là cây rất dễ trồng mà lại cho giá trị kinh tế vô cùng cao.

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Trong khu vườn của làng quê không thể thiếu cây bưởi, cây ổi….. Nó tạo cho làng quê trở nên ấm áp và sinh động hơn, nếu không có cây cối thì không làng quê không còn giống với vẻ đẹp thuờng ngày của nó!

Nhưng loài cây mà em cẩm thấy thích nhất là chắc là cây ổi, nó đã được bố em trồng trong sân nhà từ khi em mới 5 tuổi cho đến nay cũng đã 7 năm rồi… Cây ổi này đã gắn bó với em từ đó đến bây giờ, có biết bao nhiêu là kỉ niệm buồn vui. Em còn nhớ hôm trăng trung thu năm lớp 3, em rủ mấy đứa nhỏ hàng xóm qua chơi, ai cũng đều cầm lồng đèn được ba mẹ mua cho đem ra khoe cho nhau rồi ngồi xuống gần cây ổi ba em trồng, cùng nhau trò chuyện, tâm sự về những chuyện buồn chuyện vui trong năm vừa rồi.

Bên cạnh cây ổi có một cái hồ nhỏ do mẹ em làm trông rất đẹp và dễ thuơng nữa nên tụi em hay chơi ở đó vừa tiện hái ổi ăn, nói chung là rất vui! Đôi lúc, mẹ em phun vòi sương cho chúng em chơi xung quanh nó, tạo thành vồng tròn chạy xung quanh cây ổi. Còn về cây ổi, tuy không lớn như nhiều loại cây khác nhưng em lại rất thích cây ổi vì tán lá dày, những chiếc lá xanh, mùi thơm mát như bạc hà vậy!

Vào mùa hè, cây ổi càng đẹp hơn thu hút sự chú ý của mọi người trong nhà. Đây là khoảng thờ gian em có thể chăm sóc cây ổi nhiều hơn vì là mùa hè nên em được nghỉ học mà! Ngày còn nhỏ, mùa hè nào em cũng lấy đồ làm thủ công cùng với vài đôi giấy ngồi dựa vào gốc cây ổi rồi tự làm một cuốn sổ tay để theo dõi sự lớn lên và phát triển của từng loài câ, nhất là cây ổi.

Nổi bật nhất trong cuốn sổ của me là những chùm hoa trắng nở tung cánh ra đón ánh sáng mặt trời. Vào buổi trưa hè, em thuờng trốn mẹ ra ngoài sân trèo lên cây, hái ổi ăn. Cây ổi trở là người bạn thân thiết nhất của em.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Thuyết Minh Về Cây Điều, Hạt Điều 🌟 15 Bài Hay Nhất

Để hoàn thành tốt bài văn thuyết minh về cây ổi lớp 9, các em học sinh sẽ cần tham khảo nhiều nguồn thông tin để làm phong phú kiến thức và hiểu biết của bản thân về đối tượng cần thuyết minh.

Nếu như đặc trưng của mùa xuân là mưa phùn se lạnh, hoa đào hoa mai khoe sắc, thì dấu ấn riêng của mùa hè lại là hương vị thơm mát ngọt lành của hoa trái. Đó là hoa phượng đỏ rực một góc trời, là bằng lăng tím bâng khuâng cùng tà áo trắng, là cái ngọt thanh của dưa hấu hay ngọt bùi của khoai lang. Mùa hè còn là mùa của ổi -thứ quả chín từ cái nắng chang chang của khí hậu nhiệt đới đã trở thành một thứ hoa trái không thể thiếu của mảnh đất Việt Nam.

Ổi là cây thân gỗ, có nguồn gốc khu vực rừng nhiệt đới châu Mỹ, từ lâu đã du nhập về Việt Nam. Tán ổi xum xuê xanh mướt, bao phủ quanh gốc cây. Lá ổi có hình lông chim, hai phiến lá hơi cụp lại từ gân chính, được xếp so le trên từng nhánh cành. Hoa ổi có năm cánh màu trắng, mọc ở đầu cành, nổi bật giữa muôn vàn tán lá. Dưới cái nắng gay gắt, rực rỡ của mùa hạ, từng chùm hoa dần trở thành những chùm quả sai trĩu. Quả ổi còn non có màu xanh lá mạ. Khi ổi chín thì chuyển dần sang xanh thẫm, vỏ cũng trở nên nhẵn bóng.

Bởi vẻ thanh mát, ngọt lành, ổi hấp dẫn nhiều người. Sau mỗi bữa ăn, ổi được dùng làm đồ tráng miệng. Vào những ngày hè oi ả, ổi ướp lạnh như một thức quà để giải khát. Ở một vài nơi, cây ổi còn được xem như một loại cây cảnh, góp phần làm nên màu xanh tươi mát cho ngôi nhà.

Giống như các loại cây khác, ổi cũng cần có cách chăm sóc riêng. Khi trồng cần bới sẵn một hố nhỏ, sâu tầm 20cm, đặt cây con vào chính giữa hố rồi lấp đất. Điều quan trọng nhất chính là phải dùng tay để lấp và chèn đất cho thật chặt. Sau đó rào cẩn thận xung quanh để các tác nhân bên ngoài không làm ảnh hưởng đến cây. Trong thời gian cây phát triển, cần chú ý tưới nước, bón phân, phun thuốc cho đúng thời điểm, liều lượng.

Ngày nay, khi Xã hội ngày một phát triển, ổi nhanh chóng trở thành một trong những mặt hàng nông sản có thương hiệu, được bày bán rộng rãi trên khắp cả nước. Quả ổi có giá trị không nhỏ về mặt kinh tế, giúp hàng loạt hộ gia đình thoát nghèo, đem lại lợi nhuận và danh tiếng cho nông sản Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, bằng sự cải tiến về Khoa học kĩ thuật, những giống ổi không hạt, cùi dày, phòng trừ sâu bệnh tốt đã thu hút rất khách hàng quốc tế, đưa ổi Việt Nam xuất khẩu sang thị trường nước ngoài.

Thật chẳng sai khi nói ổi là thứ quả nổi bật trong bữa tiệc đầy hương thơm vị ngọt của mùa hè. Cây ổi đã trở thành loài cây thân thuộc và gần gũi, gắn bó mật thiết với cái nắng rực rỡ ở Việt Nam, là thứ quà mà mỗi người con xa xứ khi trở về đều làm quà biếu. Hi vọng rằng, trong thời đại Khoa học Kĩ thuật ngày một phát triển, con người sẽ lai tạo ra nhiều giống ổi ngon hơn, ngọt hơn, hấp dẫn hơn, để quả ổi được đến gần hơn với mọi người mọi nhà, và thương hiệu Ổi Việt Nam sẽ lan truyền trên toàn thế giới.

Tham khảo văn mẫu 💧 Thuyết Minh Về Cây Bưởi, Quả Bưởi 💧 15 Bài Hay Nhất

Cùng với bánh Cáy làng Nguyễn, ổi Bo từ lâu đã trở thành đặc sản của người Thái Bình, được nhiều người biết đến bởi nó là hội tụ những tinh túy của đất và người Thái Bình. Trái ổi Bo giòn, thơm lừng và ngọt đậm đã trở thành sản vật riêng có của quê lúa Thái Bình

Tương truyền rằng cách đây đã lâu lắm rồi, một người đàn ông nhà ở làng Bo cạnh sông Trà Lý, trong một lần đi dạo, thấy có một quả lạ nổi trên dòng nước liền vớt về ném ở sau vườn, sau thấy cây lên quả ăn rất ngon mới đem nhân rộng ra để trồng. Cũng từ đó làng Bo có giống ổi như ngày nay, ổi Bo rất dễ trồng và được nhân giống bằng hạt.

Quả ổi Bo có nhiều loại: Có loại quả nhìn giống như quả cam dẹt, có loại quả lại như quả lê, lại có quả giống như quả găng có năm múi và năm khe. Nhưng chất lượng và vị ngon của giống ổi Bo chính hiệu là loại quả được trồng trên đất nguyên thổ của làng Bo với chất đất phù sa nhẹ tốt, mỗi năm chỉ cho thu hoạch một vụ vào tháng 7 hằng năm thì không giống ổi ở đâu sánh bằng.

Để có được trái ổi Bo thơm ngọt man mát, cùi dầy, ít hạt là cả một quá trình gồm nhiều công đoạn chăm sóc vun trồng cầu kỳ: Từ gieo giống, chăm sóc tới khi thu hoạch, muốn lấy được giống tốt phải gieo hạt vào tháng 8 là lúc thời tiết có mưa nhiều. Cây được chọn để lấy giống phải là cây mới bói, quả ở cành ngồng để cho thật chín, ruột ổi (chứa hạt) để trong khoảng một tuần cho nhũn ra thành nước, sau đó cho vào rá đãi lấy hột. Từ công đoạn gieo hạt đến khi được thu hoạch trái ổi đầu mùa phải mất tới ba năm. Cũng là giống ổi Bo được ươm trồng ở đất Thái Bình nhưng khi mang đi trồng ở tỉnh khác thì hương vị và chất lượng lại thay đổi hoàn toàn.

Nét riêng đặc biệt mà người trồng ổi Bo chia sẻ: Khi hái ổi phải hái bằng nèo không được trèo lên cây và cành ổi cũng không được rũ xuống gần đất có như vậy ổi mới không bị chua. Khi ăn ổi Bo không nên cắt miếng , phải ăn một cách bình dị dân dã mới ngon, cắn vào quả ổi để cảm nhận hương vị đặc trưng của nó. Đầu tiên là thấy vị chát, sau là chua dịu, rồi vị ngọt , vị thơm thấm dần vào đầu lưỡi, hương phù sa, vị mát lành của dòng nước sông Bo …nhờ những hương vị đặc trưng đó, mà ổi Bo đã trở thành một thứ đặc sản mang đậm hồn quê.

Trên sạp của bà bán hoa quả hiện nay có nhiều giống ổi , ổi Việt nam có , ổi ngoại có , những quả ổi to , bắt mắt , nhưng vị ngọt đậm , thơm đặc trưng của trái ổi Bo thì vẫn không gì thay thế . Những người đã ăn ổi Bo vẫn tìm đến những trái ổi xanh thẫm, vừa một bàn tay ôm, gói trong đó hương vị đất đai, sông nước, của một vùng quê đồng bằng châu thổ sông Hồng

Trong những năm gần đây, cùng quá trình đô thị hóa, diện tích canh tác vườn ao giảm, thu nhập mang lại từ việc trồng ổi Bo thấp dần, với những giá trị đặc trưng của cây ổi Bo, chúng ta nên chung tay bảo vệ loại cây này.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Bài mẫu thuyết minh về cây ổi bằng tiếng Anh sẽ giúp các em học sinh luyện tập cách sử dụng các cấu trúc ngữ pháp cơ bản và trau dồi những từ vựng mới.

Tiếng Anh:

Guava tree is woody, the trunk is small and not rough like other fruit trees. Guava leaves are dense, large and thick, guava leaves have their own characteristic smell. Guava ripens in late summer, early autumn, every time you see the scent of guava, you know that autumn has come, ripe guava is fragrant in the garden. Guava is a delicious and nutritious fruit tree that brings many benefits to humans.

Tiếng Việt:

Cây ổi thân gỗ, thân ổi nhỏ và không xù xì như các cây ăn quả khác. Lá ổi rậm, to và dày, lá ổi có mùi đặc trưng riêng. Ổi chín vào cuối mùa hè, cứ mỗi khi thấy hương ổi là biết mùa thu đã đến, khi ổi chín thơm lừng vườn quê. Ổi là một loại cây ăn quả thơm ngon và bổ dưỡng, mang lại nhiều lợi ích cho con người.

Gửi tặng bạn 💕 Thuyết Minh Về Cây Nhãn 💕 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo Hay ❤️️Cách Làm Bánh Xèo

Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo Hay ❤️️ Cách Làm Bánh Xèo ✅ Là Một Món Ăn Truyền Thống Thuần Túy Và Rất Quen Thuộc Đối Với Người Việt Nam Ta.

Cùng tham khảo mẫu Dàn Ý Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo chi tiết được chia sẻ sau đây sẽ giúp các em diễn đạt bài văn logic nhất.

Mở bài: Giới thiệu về bánh xèo:

Bánh xèo là món bánh mặn thân thuộc đối với con người Việt Nam. Với màu sắc bắt mắt và vị ngon đặc biệt nên bánh xèo luôn được mọi người yêu thích.

Thân bài: Nguồn gốc của bánh xèo: Có rất nhiều ý kiến khác nhau về sự ra đời của bánh xèo. Theo một số ghi chép cho rằng món bánh này bắt nguồn từ miền Trung Việt Nam. Từ thời Tây Sơn bánh xèo đã trở thành một món ăn rất phổ biến.

Nguyên liệu làm bánh:

Vỏ bánh: gồm có bột gạo, bột chiên giòn, bột nghệ, nước cốt dừa, trứng gà, đường, muối, hành lá…

Nhân bánh: chuẩn bị nấm, tôm hoặc tép, thịt lơn hoặc thịt gà, giá sống hoặc hành tây, tùy đặc điểm vùng miền có thể chuẩn bị thêm dừa sợi và đậu xanh.

Rau sống và nước mắm, tỏi, ớt

Quy trình làm bánh xèo:

Pha bột gạo bột chiên giòn bột nghệ cùng đường, muối, trứng gà và nước cốt dừa sao cho vừa miệng. Sau đó rắc hành lá vào.

Dùng chảo gang hoặc chảo chống dính để đổ bánh. Cho một lượng dầu vừa phải vào chảo để xào nhân: tôm hoặc tép, thịt, nấm… khi nhân gần chín, đổ bột vào, tráng mỏng sai đó lật lại và cho giá, hành tây hoặc đậu xanh vào…

Lật bánh đến khi vàng giòn là bắt ra.

Thưởng thức: Ăn bánh xèo cùng rau sống và nước mắm chua ngọt để cảm nhận hết hương vị của bánh.

Sự khác biệt của bánh xèo giữa các vùng miền: Mỗi miền trên đất nước lại có cách chế biến và nguyên liệu làm bánh khác nhau. Tạo nên chiếc bánh xèo với hương vị và nét đặc trưng riêng.

Kết bài: Bánh xèo là món ăn đặc biệt, độc đáo của đấy nước Việt Nam.

Xem Thêm Bài 💦 Thuyết Minh Về Món Ăn Ngày Tết ❤️️ Ngoài Mẫu Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo

Giới Thiệu Bánh Xèo Văn Mẫu Ngắn là tài liệu tham khảo hữu ích để các em có thêm nhiều kiến thức hay và thú vị.

Ở thời điểm hiện tại, vẫn chưa có kết luận chính xác về nguồn gốc của bánh xèo. Theo một số ghi chép, món bánh này bắt nguồn từ miền Trung Việt Nam. Được biết từ thời Tây Sơn bánh xèo đã trở thành một món ăn rất phổ biến. Một số khác lại cho rằng, bánh xèo được lấy cảm hứng từ món bánh khoái của người Huế. Có rất nhiều ý kiến khác nhau về sự ra đời của bánh xèo, tuy nhiên bánh xèo ở miền Trung vẫn ngon và chuẩn vị nhất.

Để làm ra được một chiếc bánh xèo ngon và đẹp mắt thì khâu chuẩn bị rất quan trọng. Đầu tiên là vỏ bánh, ngoài bột gạo, thì người thợ cần phải chuẩn bị bột chiên giòn, nước cốt dừa, trứng, đường, muối, bột nghệ và hành lá. Nguyên liệu làm nhân bánh có thể thay đổi theo vùng miền. Về cơ bản thì cần chuẩn bị nấm, thịt gà hoặc thịt lợn, tép hoặc tôm nhỏ, giá đỗ. Bên cạnh đó vó thể thêm đậu xanh hoặc dừa nạo tùy khẩu vị.

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các nguyên liệu, người thợ sẽ bắt tay vào thực hiện. Gạo làm bánh phải là loại gạo thơm, gạo mới. Nếu dùng loại gạo đã lâu ngày thì bánh sẽ hôi. Trước khi đưa vào xay nhuyễn, người ta sẽ ngâm gạo qua đêm. Như vậy bột mới có độ mềm và mịn. Gạo xay xong sẽ chắt thật sạch nước rồi mới đem pha. Pha bột gạo cùng bột chiên giòn và nước cốt dừa để tăng độ giòn và ngậy.

Sau đó cho thêm trứng và bột nghệ vào đánh đều cho tan hẳn. Điều đó sẽ giúp bánh xèo lên màu đẹp hơn. Cuối cùng cho thêm chút hành lá cắt nhỏ. Để tráng bánh, người ta sử dụng chảo sâu lòng hoặc chảo chống dính. Quét lớp mỡ mỏng xuống dưới đáy chảo, đợi chảo nóng rồi đổ nấm, tôm, thịt vào đảo đều. Khi các nguyên liệu đã gần chín, người thợ sẽ đổ bột vào, tráng cho thật mỏng.

Bước này đòi hỏi sự khéo léo và cẩn thận. Bột tráng càng mỏng thì bánh sẽ càng giòn và hấp dẫn. Sau đó rắc giá đỗ lên trên cùng (có thể cho thêm đậu xanh đã nấu chín). Cuối cùng, lật giở bánh lại nhiều lần trên lửa nhỏ cho đến khi vàng đều rồi cho ra đĩa.

Tiếp theo là công đoạn pha nước chấm. Nước chấm bánh xèo là sự hòa quyện, kết hợp giữa bốn vị chua, cay, mặn, ngọt. Tùy vào khẩu vị mà mức độ các vị sẽ khác nhau. Chiếc bánh xèo giòn rụm cùng đĩa rau sống, thêm chén nước mắm tỏi ớt thơm ngon sẽ là lựa chọn khó có thể chối từ. Khi thưởng thức, người ta sẽ cắt một miếng bánh, đặt lên rau sống sau đó mới chấm cùng nước mắm tỏi ớt, uống cùng ly trà nóng hoặc một ly bia đều rất hợp.

Bánh xèo ở mỗi miền Bắc, Trung, Nam lại có một cách chế biến cùng hương vị đặc trưng riêng. Ở miền Bắc, bánh xèo được tráng trong chảo lòng sâu để bánh chín nhanh và vàng đều. Nhân bánh thường được cho thêm hành tây thái nhỏ để tăng độ ngọt. Bên cạnh đó, loại nước chấm ở miền Bắc thường thiên về cay và mặn nhiều hơn.

Còn ở miền Trung người ta sẽ sử dụng dầu lạc để xào nhân và tráng bánh. Phần nước chấm của bánh xèo cũng khác hoàn toàn so với miền Bắc. Nước chấm bánh là sự kết hợp giữa gan heo, đậu phộng và bột gạo. Tạo nên một hương vị thật đặc biệt, khó quên. Bánh xèo miền Nam lại níu chân du khách bằng cách biến tấu các nguyên liệu trong chế biến và thưởng thức. Sử dụng ốc để làm nhân bánh, dùng cà rốt để cho vào nước chấm kết hợp chung với hơn 20 loại rau sống ăn kèm làm cho món bánh miền Nam có mùi vị khác lạ, độc đáo.

Bánh xèo là một món ăn thơm ngon, độc đáo mang đậm hương vị vùng miền nhờ sự kết hợp nguyên liệu đa dạng, phong phú. Cùng với các món ăn khác, bánh xèo đã và đang làm nên nét đẹp độc đáo trong ẩm thực Việt.

SCR.VN Giới Thiệu 💦 Thuyết Minh Về Cách Làm Bánh Chưng, Cách Gói❤️️ Ngoài Mẫu Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo

Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo Việt Nam, một món ăn dẫn dã rất quen thuộc đối với mỗi người dân.

Ẩm thực Việt Nam mùa nào thức nấy, luôn nổi tiếng bởi sự phong phú, đậm vị cỏ cây đồng nội. Bánh xèo là một trong số đó.

Bánh xèo là một loại bánh phổ biến ở các nước Á Đông nhất là Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên… Tuy cùng làm từ gạo, xong mỗi quốc gia lại có cách làm bánh xèo riêng, hình dáng và cách thưởng thức riêng. Bánh xèo Triều Tiên gồm một lớp bột bên ngoài, bên trong có nhân gồm tôm, thịt, giá đỗ, kim chi, khoai tây, hẹ… Bánh xèo Nhật Bản lại là nhân tùy ý, tức là tùy sở thích để cho vào nhân. Bánh xèo thường được nặn nhúm lại thành hình tròn hoặc gấp lại thành hình bán nguyệt rồi rán vàng.

Ở Việt Nam, mỗi vùng miền bánh xèo lại có tên gọi khác nhau và cách chế biến cũng rất khác nhau, nhưng chủ yếu là chia làm hai kiểu: bánh xèo giòn và bánh xèo dai. Miền Bắc và miền Trung, bánh xèo khá nhỏ, còn miền Nam làm bánh xèo cỡ lớn hơn. Bánh xèo có nguồn gốc ra đời hết sức giản dị đúng như cái tên của nó. Khi lớp bột vàng đổ vào chảo dầu nóng sẽ phát ra tiếng “xèo xèo”, nên nó được gọi với cái tên bánh xèo.

Ở miền Tây, có loại bánh xèo vỏ gốc gác từ đồng bào Khmer Nam Bộ, thường không có nhân. Ở Huế, bánh xèo thường gọi là bánh “khoái”, có cho thêm trứng. bánh xèo Phan Thiết chỉ bằng cái chén nhỏ, khi ăn rim chìm trong nước chấm. Ở Sài Gòn có loại “bánh xèo hoa sen” là sự kết hợp nguyên liệu truyền thống cùng hạt sen, ngó sen, củ sen… Nhiều loại bánh xèo nổi tiếng như bánh xèo A Phủ, bánh xèo Đinh Công Tráng cũng có hương vị riêng đặc trưng không lẫn với các loại khác.

Để làm ra những chiếc bánh xèo truyền thống cũng không quá. Gạo ngon đem ngâm nước qua đêm cho nở sau đó đem xay nhuyễn thành bột. Thông thường, người dân sẽ dùng máy xay thay vì cối xay đá như ngày xưa để tiết kiệm thời gian và công sức. Nếu muốn rút ngắn giai đoạn, bạn có thể mua một số loại bột bánh xèo xay sẵn. Có thể xay cùng chút nghệ tươi để tạo cho bánh có màu vàng hoặc sử dụng nước màu dừa để tạo màu nâu vàng đẹp mắt.

Tiếp đến, cho nước cốt dừa nạo nhuyễn vào hỗn hợp với bột đã xay xong, để bột nghỉ chừng nửa tiếng, rồi thêm ít hành lá cắt nhỏ vào hỗn hợp bột, trộn đều. Phần nhân bánh thường gồm thịt ba chỉ, tôm, giá… ướp với chút muối, gia vị. Khi chiên nên dùng chảo to để chiên bánh. Múc từng muỗng bột đổ vào chảo dầu đã sôi già, sau đó nghiêng chảo sao cho bột tráng dàn đều thành một hình tròn.

Đậy nắp lại đến khi bột hơi chín thì mở ra, cho nhân vào giữa vỏ bánh, gấp bánh lại, tiếp tục đậy nắp lần nữa. Sau vài giây là bánh đã chín giòn, thơm phức. Bánh xèo thường có nước chấm và rau sống ăn kèm. Nước chấm bánh xèo làm từ nước mắm ngon pha với nước dùng, chanh, đường, cà rốt thái nhuyễn, ớt, tiêu… Các loại rau ăn kèm với bánh xèo cũng rất đa dạng gồm rau diếp, cải xanh, tía tô, húng, quế, lá chiết, quả chua…

Không chỉ là hương vị, bánh xèo còn hấp dẫn thực khách ở chỗ cách ăn. Ăn bánh xèo chuẩn điệu phải là phải dùng tay cầm chiếc bánh lên gói lại bằng lá rau sống rồi chấm nước mắm chua ngọt. Thế rồi, cứ ngồi vừa nhâm nha nhai miếng bánh vừa tận hưởng cái hồn quê đang tan hòa trên đầu lưỡi.

Bánh xèo giàu năng lượng và chứa nhiều các chất khác rất có lợi cho sức khỏe. Bánh xèo thích hợp nhất là ăn vào thời tiết lạnh và ngon nhất khi ăn nóng. Đây là món ăn ưa thích không chỉ riêng đối với người Việt mà cả du khách quốc tế. Du khách từ mọi nơi về thăm Việt Nam không quên thử miếng bánh xèo nóng hổi, đậm đà hương sắc đồng nội.

Ngày nay, ẩm thực trở nên vô cùng đa dạng, từ món Âu, món Á… nhưng bánh xèo vẫn có một vị trí không thể nào thay đổi với mỗi người Việt Nam và cả trong tinh hoa ẩm thực dân tộc.

Tham Khảo Bài 🌹 Thuyết Minh Về Bánh Tét, Cách Làm, Phương Pháp ❤ 15 Mẫu

Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo Nam Bộ giúp các em có thể học hỏi và rèn luyện thêm kĩ năng viết của mình.

Món bánh xèo của người Miền Nam có từ rất lâu đời và là một món ăn vô cùng quen thuộc với người dân Nam Bộ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung.

Chiếc bánh xèo thường được ăn vào mùa mưa giúp cho người ăn ấm bụng hơn. Bánh xèo của từng vùng thì có mùi vị hơi khác nhau một chút, những người dân miền tây thì bánh xèo thường được tráng khá to như một chiếc bánh đa. Người miền trung thì chiếc bánh xèo nhỏ hơn một chút và thường có vị cay hơn chiếc bánh xèo của người Miền Nam, còn người miền Bắc chiếc bánh xèo thường được cuộn tròn lại rồi cắt ra thành từng miếng nhỏ để người ăn có thể dễ dàng ăn từng miếng nhỏ.

Nguyên liệu làm thành chiếc bánh xèo khá cầu kỳ được tạo thành bột gạo nhưng mùi vị thì tùy vùng, gia vị có thể có vị cay mặn ngọt tùy theo sở thích ăn uống của từng miền. Nhưng đa số người ta thường làm bánh xèo nhân thịt bò, thịt lợn, hoặc nhân tôm, có nhiều nơi bánh xèo còn trộn thêm nấm, mộc nhĩ, giá đỗ nhiều hành tươi tạo nên mùi vị dễ ăn hơn.

Ở từng vùng miền khác nhau chiếc bánh xèo thường có mùi vị đặc trưng của vùng miền đó thể hiện được hương vị văn hóa của họ. Đồng thời cũng thể hiện được thói quen ăn uống của vùng miền. Người miền Nam thường thích ăn vị hơi cay và ngọt, người miền trung thì thường có nhiều loại gia vị đi kèm, rau thơm rau húng, người miền Bắc thì không thích ăn vị ngọt nhiều nên giảm đi vị ngọt, Khi ăn bánh xèo người ta thường cuộn với bánh tráng, kèm theo rau thơm tạo nên hương vị dễ ăn và không ngán.

Để làm được một chiếc bánh xèo phải trải qua rất nhiều công đoạn nghệ thuật. Trong đó khâu tạo bột là quan trọng nhất, kết hợp nước cốt dừa để tạo nên bột tạo độ ngậy cho bánh xèo, nhân của bánh làm từ thịt xay, trộn với mộc nhĩ, nấm hương, tạo cho nhân thơm ngon và không bị béo. Khi làm nhân bánh người làm thường nêm nếm gia vị cho vưa miệng hoặc hơi nhạt một chút để khi ăn người ăn có thể chấm nước chấm.

Khách ăn bánh xèo đúng điệu, thường phải dùng tay gói, người ăn phải trải chiếc lá non trên tay rồi bỏ bánh xèo kết hợp với các loại rau sống cuộn tròn lại rồi chấm nước chấm được pha từ nước mắm, chan, tỏi, ớt, đường, tiêu… rồi cho vào miệng thưởng thức vị ngon của bánh.

Bánh xèo miền Nam là một món ăn quen thuộc của người dân nhiều vùng miền nước ta, nhưng chỉ ăn ở miền Nam là đúng vị nhất. Bạn chỉ cần ăn một lần là các bạn sẽ nhớ mãi hương vị đậm đà khó quên của món bánh này. Bánh xèo chính là một món ăn ẩm thực thể hiện được nét đẹp ẩm thực của người dân Việt Nam.

Gợi Ý Bài 💦 Thuyết Minh Về Loài Hoa Ngày Tết ❤️️15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo Miền Trung được giới thiệu đến các bạn sau đây để có thêm nhiều thông tin cho mình.

Những chiếc bánh to bằng bàn tay người lớn, có độ nóng, giòn vừa phải ăn kèm với rau và nước chấm mang lại cho bạn cảm giác ngon miệng. Bánh xèo là một món ăn quen thuộc của người dân miền Nam và miền Trung. Chiếc bánh đơn giản với bột gạo, nhân tôm, thịt… ăn kèm với rau sống, nước chấm từ lâu đã trở thành món ăn chơi bình dị của người dân quê.

Khác với bánh xèo miền Nam khá to, bánh xèo của người miền Trung có kích thước khoảng bằng bàn tay người lớn, ít nhân, thường chỉ là một con tôm nhỏ, hoặc vài ba lát thịt, mực.. thêm một ít giá tươi. Không hấp dẫn người ăn bởi màu vàng tươi của bột nghệ, cũng không có cái vị béo đặc trưng của nước cốt dừa như bánh xèo miền Nam, chiếc bánh của người miền Trung hấp dẫn người ăn bởi hương vị thơm ngon của chiếc bánh, bên cạnh đó là vị đậm đà của chén nước chấm ăn kèm với rau sống làm cho món ăn thêm thơm ngon.

Nước chấm của bánh xèo miền Trung rất phong phú, ngoài chén nước chấm chua ngọt như cách ăn của người miền Nam, còn có chén nước chấm mắm nêm được pha đậm đà, vừa ăn hay chén nước chấm pha với đậu phụng thơm ngon và có vị hơi béo.

Bánh xèo miền Trung tuy giản dị, dân dã nhưng lại chiếm được cảm tình của người Sài Gòn vì cái hấp dẫn rất riêng của nó. Chiếc bánh nhỏ, nóng hổi và giòn rụm, các loại rau ăn kèm phong phú, ngoài rau cải, xà lách, diếp cá, tía tô, húng thơm, húng quế… còn có thêm chuối chát, khế chua thái lát.

SCR.VN Gợi Ý 🌹 Thuyết Minh Về Một Loài Hoa Mà Em Yêu Thích ❤️️15 Bài Hay

Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo Miền Nam đặc biệt được rất nhiều bạn đọc yêu thích và chia sẻ.

Bánh xèo là một trong những món ăn đậm đà hương vị miền Nam. Đây là loại bánh vừa rẻ vừa ngon, được người bình dân ưa chuộng. Có thể nói bánh xèo hiện diện khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn. Giờ đây, nó đã thành món ăn quen thuộc đối với người dân thành phố và bước đầu chiếm được cảm tình của du khách nước ngoài.

Nguyên liệu chính để làm bánh xèo là bột gạo xay nhuyễn pha với nước cốt dừa và bột nghệ. Ngoài ra còn có thịt heo, tôm tươi, giá đỗ, đậu xanh hấp chín… Các loại rau ăn kèm gồm có xà lách, cải bẹ xanh, rau thơm các loại. Nước chấm được pha bằng nước mắm ngon, ớt tỏi giã nhuyễn, chanh, đường cát trắng, bột ngọt cùng với đồ chua là củ cải, cà rốt xắt nhỏ ngâm dấm.

Bánh được tráng trong chiếc chảo sâu lòng đặt trên bếp than hồng. Người tráng múc bột đổ vào chảo nóng đã thoa dầu (hoặc mỡ), nhanh tay láng bột rộng ra sao cho ngoài mỏng, trong dày. Xếp thịt heo luộc xắt mỏng, tôm hay tép bạc, đậu xanh đãi sạch vò hấp chín và giá sống lên trên. Khi bánh chín giòn thì gập chiếc bánh làm đôi, xúc ra đĩa. Mỗi đĩa để ba, bốn cái xếp liền nhau. Đĩa bánh xèo vàng tươi, thơm phức đặt lên bàn cùng với đĩa rau sống xành mướt và chén nước chấm màu ớt đỏ tươi trông vô cùng hấp dẫn.

Cách ăn bánh xèo của người Nam Bộ thể hiện rất rõ phong thái tự nhiên, phóng khoáng. Dùng tay xé một miếng bánh xèo nóng hổi đặt vào lá cải, thêm xà lách, rau sống, cuốn chặt rồi chấm nước mắm pha đủ vị chua, cay, mặn, ngọt; thêm vài sợi cà rốt, củ cải, rồi vừa ăn vừa xuýt xoa khen ngon quá! Điều đặc biệt của bánh xèo là càng đông người ăn càng cảm thấy ngon. Lúc nông nhàn hay những ngày mưa gió, cả nhà quây quần bên bếp lửa. Bánh tráng đến đâu ăn đến đấy, vừa ăn vừa chuyện trò rôm rả, thú vị vô cùng!

Giờ đây, bánh xèo gốc gác miền Tây đã có mặt ở Sài Gòn, Hà Nội. Tối tối, các quán bánh xèo đông nghịt khách. Vợ chồng, con cái, anh em, bè bạn mời nhau, đãi nhau một bữa bánh xèo. Trong không khí vui vẻ, nhộn nhịp, hương vị đặc biệt của món ăn dân dã này tưởng chừng như tăng lên gấp bội.

Xem Thêm Bài 🌿 Thuyết Minh Về Hoa Lan ❤️️ 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Nói đến món bánh căn, bánh xèo ở Phan Rang – Ninh Thuận, đầu tiên phải nói đến đây là món ăn không thể thiếu vào mỗi buổi và những buổi xế chiều. Vốn dĩ nói vậy là vì từ lâu nó đã trở thành món ăn no chiếm một vị trí quan trọng trong list món ăn thường được người Ninh Thuận ưa chuộng như: bún, phở, xôi, bánh mì, cháo lòng hay cơm tấm.

Thật khó có thể hiểu vì sao lại như thế. Nhưng, nếu có dịp đặt chân đến các ngôi chợ quê, các con đường hay góc ngỏ tập trung nhiều hàng quá bán đồ ăn ở huyện Ninh Hải. Đâu đâu cũng có thể bắt gặp hàng quán bánh căn, bánh xèo. Ở chợ, ít thì hai quán, nhiều thì ba, bốn quán. Ở các con đường, góc ngõ thì lúc nào cũng thấy khói với mùi đặc trưng của bánh căn, bánh xèo bay lên. Và điều hay là quán lúc nào cũng có người ăn, người chờ. Đông đúc, tranh nhau, hối thúc nhau. Không khí rất vui nhộn.

Mặc dù là như vậy, nhưng muốn để hiểu cặn kẻ vì sao người Ninh Thuận, nhất là người dân ở huyện Ninh Hải lại thích ăn bánh căn, bánh xèo lại như thế. Đặc biệt hơn là chỉ vào lúc sáng sớm và giờ xế chiều thì nó đều có lí do của nó hết. Đầu tiên, món bánh căn bánh xèo khi ăn làm no lâu vì uống nhiều nước, nguyên nhân là do cách ăn bánh “vừa ăn vừa húp” nước mắm nên ăn xong rất khác nước.

Thứ hai, sau mỗi chuyến đi biển đánh bắt thủy hải sản về, người dân làng biển thường đem mực, cá cơm, tôm hay ruốc về để chế biến các món ăn. Nhưng mới sáng vào, bụng đói lại không có nhiều thời gian để chế biến các món ăn cầu kỳ (do cả đêm ngoài biển đã mệt), nên khi đi ngang qua quán bánh xèo thì tấp vào ăn luôn. Ai ngờ, tôm, mực, ruốc hay cá lúc còn tươi đem làm nhân đỗ bánh ngon ngon hết sẩy. Thế là có một bữa sáng ngon lành.

Thứ ba, ăn bún, ăn phở, ăn bánh mì hay cơm tấm vào buổi sáng hoặc canh xế chiều một hai ngày là ngán. Nhưng với món bánh căn, bánh xèo thì không. Bữa nay ăn, no, uống nước rồi nghỉ. Mai không biết ăn gì thì cứ lại tìm ra quán bánh căn, bánh xèo ăn tiếp. Cứ thế hai, ba thậm chí là bốn bữa, cứ thấy thích là ra quán ăn khỏi phải đi đâu xa. Và đó là lí do vì sao mà món bánh căn, bánh xèo không thể thiếu vào mỗi buổi sáng và những buổi xế chiều của các làng biển Ninh Thuận.

Giới Thiệu Bài 🌿 Thuyết Minh Về Hoa Hướng Dương ❤️️15 Bài Văn Hay Nhất

Thuyết Minh Về Bánh Xèo Quảng Ngãi giúp các em có thêm nhiều ý tưởng mới và thú vị để làm bài văn của mình thật tốt.

Tên bánh xèo có lẽ xuất phát từ âm thanh “xèo xèo” khi đổ bột gạo vào khuôn bánh có dầu hoặc mỡ heo đang nóng trên lửa đỏ rực. Nguyên liệu chính để làm bánh khá đơn giản, dân dã đó là thịt heo và bột gạo. Gạo lúa cũ thường được dùng để đúc bánh. Gạo ngâm nước vài giờ sau đó đem xay thành bột và pha với nước có bỏ hành lá theo tỉ lệ tùy ý để cho ra bánh mỏng hay dày. Để món ăn thêm phần ngon và hấp dẫn hơn, người ta cho thêm tôm, giá, nấm mối hoặc thịt vịt băm nhỏ.

Bánh xèo đặc sản Quảng Ngãi có phần nhỏ hơn so với bánh xèo của các vùng miền khác. Bánh được đúc trong khuôn có đường kính khoảng 20cm. Theo kinh nghiệm của người dân Quảng Ngãi thì khuôn bánh đúc dùng càng lâu thì bánh đúc ra càng ngon, không bị dính và cháy.

Bánh xèo ngon nhất khi ăn kèm với chuối cắt lát, dưa leo, rau thơm, rau xà lách, diếp cá,… chấm với nước mắm pha ớt, tỏi Lý Sơn. Cách làm bánh xèo Quảng Ngãi rất đơn giản. Đầu tiên, cho bột gạo cùng với bột nghệ vào bát to trộn đều cùng với muối. Sau đó cho 150ml nước lọc cùng 100ml nước cốt dừa và 100ml bia vào hỗn hợp bột đã trộn ở trên. Khuấy đều liên tục để hỗn hợp tan hết, không vón cục, có thể điều chỉnh lượng nước cho phù hợp.

Đổ hành lá thái nhỏ vào và để khoảng 30-45 phút. Ướp tôm và thịt với nước mắm, hành, bột ngọt, hạt tiêu trong khoảng 20 phút. Cho hành tây cùng tôm và thịt vào xào chín tới. Để chảo lên bếp, cho dầu ăn vào đến khi sôi dầu đổ bột vào tráng đều, cho phần nhân tôm thịt và giá đỗ lên trên, đậy nắp khoảng 3-4 phút rồi gập đôi bánh lại. Chiên sao cho hai mặt bánh cùng vàng đều, sau đó gắp ra đĩa để ráo dầu, ăn kèm với nước mắm pha tỏi, ớt và rau sống.

Bánh xèo Quảng Ngãi là một món ăn bình dị, dân dã, mang đậm hồn quê vùng đất này.

SCR.VN Gợi Ý Bài 🌿 Thuyết Minh Về Hoa Cúc ❤️️ 15 Bài Thuyết Minh Hay Nhất

Bài Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo Ngắn Nhất được chúng tôi chọn lọc và chia sẻ đến bạn đọc sau đây.

Bánh xèo là một món ăn dân gian nổi tiếng của người dân đất phương Nam, Việt Nam. Ngày nay tuy món ăn này đã có nhiều biến tấu khác đi để phù hợp với khẩu vị của từng vùng miền nhưng hương vị của nó vẫn đậm chất phương Nam. Nếu bạn đã từng được ăn món này rồi thì chắc hẳn là bạn không thể quên được hình ảnh những cái bánh vỏ mỏng, giòn tan thơm mùi nước cốt dừa, nhân bánh thơm ngọt hương vị của tôm, thịt, giá và nấm.

Đặc điểm: là món ăn được hình thành từ phương thức chế biến các loại nguyên liệu như: bột bánh xèo, tôm, thịt, nấm, nước cốt dừa… tạo nên chiếc bánh vàng giòn thơm ngọt. Nguồn gốc: từ các nước Châu Á như: Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Phân loại: bánh xèo kiểu miền Trung, Bánh xèo kiểu Nam Bộ, Bánh xèo kiểu miền Bắc, Bánh xèo kiểu miền Tây.

Bánh xèo kiểu miền Trung có vỏ ngoài màu vàng đậm đẹp mắt và được gập đôi cũng thật là khéo léo. Lớp vỏ bánh đủ mỏng, giòn tan thơm mùi nước cốt dừa. Nhân bánh thơm ngọt hương vị của tôm, thịt, giá đỗ và nấm có hương vị khá gần gũi với bánh gối. Khi ăn cùng với các loại rau sống thanh mát tạo lên một hương vị đặc trưng hấp dẫn riêng cho loại bánh này. Tại các tỉnh miền Trung , ngoài rau sống, dưa leo thì còn có quả vả chát, quả khế chua… được đặt cùng với bánh xèo được cắt nhỏ rồi cho vào bánh tráng cuộn lại và chấm với nước mắm chua ngọt để thưởng thức.

Bánh xèo kiểu Nam bộ ngoài các loại thức ăn như các loại bánh xèo khác thì thường có thêm trứng và ăn bánh xèo chấm với nước mắm chua ngọt. Tại các tỉnh miền Bắc, nhân bánh xèo ngoài các thành phần như ở các nơi khác thì ở đây còn có thêm củ đậu thái mỏng hoặc khoai môn thái sợi khiến cho món ăn càng thêm thanh mát, dễ chịu khi ăn và không bị ngán.

Tại các tỉnh miền Tây, ngoài những loại rau sống như các nơi khác thì ở Cần Thơ có thêm lá chiết, ở Đồng Tháp thêm lá bằng lăng, ở Vĩnh Long có thêm lá xoài non, ở Bạc Liêu có thêm lá cách.

Chia Sẻ Bài 💧 Thuyết Minh Về Hoa Sen ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Hay Nhất

Có thể nói được rằng trong biết bao các món bánh mặn của Nam bộ, bánh xèo là món phổ biến, được người ăn ưa thích nhất và nó như trở thành một món ăn đặc trưng cho con người nơi đây.

Quả thật nếu như chúng ta ăn bánh xèo có đông người mới vui. Ngay cả công đoạn để có thể làm ra những chiếc bánh này cũng đã rất cầu kỳ và cũng cần phải trải qua rất nhiều công đoạn. Nên việc nhiều người làm và cũng ăn thì chắc chắn sẽ vui biết bao nhiêu. Nào là phải trải qua được các công đoạn như xay bột nấu bột, nhân bánh, nước chấm,…

Nếu như chúng ta mà muốn làm cho chiếc bánh trở lên ngon lành thì chắc chắn cũng phải chịu khó, chịu cực một chút. Ta cũng rất dễ có thể nhận thấy được rằng phần bột bánh là phần quan trọng nhất. Và cũng không sai khi ta nói được rằng bánh có ngon không chính là do phần bột bánh đó. Những người làm bánh chuyên thì chắc chắn rằng họ sẽ không chịu loại bột gạo vô bịch sẵn, bày bán ở chợ vì đó là gạo đã bẩn rồi. Còn đến khi cho gạo vào ngâm nước cho bã ra.

Người ta cũng phải như té rất nhiều nước rồi gạn lấy bột nên chất bột bị chua và lạ lúc này đây gạo lại không còn bổ dưỡng, thơm ngon nữa. Mà nếu như chúng ta mà muốn cho bột bánh xèo ngon phải là loại gạo thơm, gạo mới. Những hạt gạo này chúng ta cũng phải ngâm trong một buổi hoặc một đêm rồi đem xay nhuyễn.

Ngày nay, chúng ta cũng thấy được rằng khi có bột bánh xèo pha chế sẵn cũng tiện dụng nhưng phải trộn thêm theo công thức, và thế ta cũng thấy được để có một bịch bột bánh xèo pha thêm một bịch bột chiên giòn hoặc cùng với đó cũng chính là bột bắp và nước cốt dừa thì bánh mới béo giòn thơm ngon được.

Nếu như chúng ta mà dùng bột gạo tươi thì sau khi lược bột xong, pha thêm một bịch bột chiên giòn, thêm vào đó chính là nước cốt dừa, đường, muối sao cho độ béo ngọt như thế nào thì lại phải tùy thuộc và khẩu vị người ăn. Không chỉ thế thôi, người nấu cũng phải biết bỏ thêm hành lá xắt nhỏ, bột nghệ, trứng gà đánh nhuyễn. Nói thêm món bánh xèo chuẩn chất Nam Bộ thì nên cho nhiều nước cốt dừa nó sẽ béo ngậy và thơm ngon dậy mùi rất lớn.

Một phần quan trọng hơn nữa không thể thiếu đó chính là phần nhân bánh muốn ngon phải có nấm rơm, và cũng có cả nấm hương, nấm kim chi hay nấm đông cô thơm nữa. Không thể thiếu thì những con tôm hoặc tép, thịt gà hay thịt vịt băm nhuyễn, cho đến giá sống và củ sắn cũng được cho vào trong bánh xèo.

Chưa hết ta như thấy được rằng lại có người còn bỏ cá cơm dừa xắt sợi, hoặc đậu xanh nấu chín. Điều có thể nhận ra được rằng nếu như mà cho quá nhiều gia vị như đậu xanh và dừa thì mang lại cảm giác ngán ngẩm khó có thể nuốt được. Ta cũng cần đặc biệt chú ý đó chính là nấm trong bánh có thể thay đổi theo từng mùa, màu nào thì nấm đó. Mùa nấm rơm thì cho nấm rơm, không có thì cho mộc nhĩ cũng được.

Thế rồi không thể không nói đến rau sống và nước mắm là những thành phần quan trọng làm cho bánh thêm ngon. Đặc biệt hơn ta như thấy được rau sống phải có đủ họ tộc có thể kể đến đó chính là các loại rau như diếp cá, xà lách, tần ô, húng cây, húng lủi, quế. Và người chế biến cũng như người ăn phải lưu ý đó chính là không được thiếu lá cách và cải bẹ xanh. Và quan trọng đó chính là nước mắm chua ngọt để ăn kèm được pha mắm, đường, tỏi ớt và chanh theo tỷ lệ nhất định mới làm món bánh xèo ngon được.

Khi tất cả mọi thứ chuẩn bị đã xong thì ta bắt đầu vào công đoạn rán bánh xèo. Bánh xèo rán phải khéo thì mới có thể dậy mùi được. Khi chảo thật nóng thì đổ thử một vài cái xem mùi vị và độ đặc lỏng của bột vừa hay chưa, sau đó mới đổ thật sự.

Lưu ý đặc biệt nữa đó chính là người ta ăn bánh xèo nên dùng tay, đồng thời người ta ăn cũng không cần đũa gì cả. Dùng tay để có thể cuốn bánh cho gọn và cảm nhận được độ nóng ấm của bánh mới thấy ngon miệng. Màu sắc đẹp kết hợp với mùi vị hấp dẫn, chất dinh dưỡng cao bổ dưỡng thì bánh xèo thực sự chính là món bánh độc đáo, đậm đà hương vị Nam bộ.

Gợi ý cho bạn ☘ Thuyết Minh Về Hoa Đào Ngày Tết ❤️️ 15 Bài Về Cây Đào Hay

Bánh xèo đã có ở miền Nam tự thuở nào chẳng ai nhớ được. Có lẽ nó đã có từ trước thời phở Bắc vào Nam hay bánh mì Sài Gòn bắt đầu có mặt từ những năm 40 – 50 thế kỷ trước. Ngày xưa ở chợ, khu xóm, từ thành thị đến thôn quê miền Nam thế nào cũng có hàng bánh xèo như một món ăn bình dân phổ biến mà ai cũng biết.

Đầu thập niên 80, với những khó khăn của đất nước sau chiến tranh, hàng quán ở Sài Gòn giảm đáng kể, trong đó có cả những hàng bán bánh xèo. Nhưng đến giữa thập niên 80, đột ngột trên những đoạn đường nhiều người qua lại, xuất hiện một số quán bán một thứ bánh chiên bằng bột có màu vàng như bánh xèo.

Tuy nhiên khuôn đổ bánh chỉ nhỏ bằng khuôn đổ bánh khoái, nhân bao gồm tép, thịt ba rọi, giá, củ hành như bánh xèo và nước chấm là nước mắm chứ không phải bằng nhân và nước chấm của bánh khoái. Đa số người bán là người miền Trung, thế nên món bánh được đặt tên là “bánh xèo miền Trung”. Bánh xèo miền Trung chiếm được cảm tình của nhiều người thành phố lúc bấy giờ vì sự hấp dẫn riêng của mình: độ nóng giòn vừa phải, ăn với nhiều rau và nước mắm, ngon miệng…

Từ thập niên 90 trở đi bánh xèo Nam bộ bắt đầu khởi sắc trở lại với những nơi bán có tiếng như bánh xèo Đinh Công Tráng – Q.1, Ngô Quyền – Q.5, A Phủ. Và đến năm 2007, bánh xèo Ăn Là Ghiền xuất hiện với quy mô lớn, bài bản, chuyên nghiệp hơn nhằm giới thiệu cho công chúng món bánh xèo miền Tây và những món ăn dân dã Việt Nam.

Sau đó một năm, bánh xèo Mười Xiềm của Cần Thơ cũng góp mặt tại thành phố. Vậy là bánh xèo Việt Nam bắt đầu sánh vai cùng các thương hiệu bánh crêpe Pháp, pizza Ý, bánh xèo Nhật, bánh roti pum Ấn Độ, bánh tasco Mexico…

Ăn nóng là điều bắt buộc với chiếc bánh xèo nên khi bánh vừa lấy ra khỏi chảo là phải đến ngay tay người ăn. Tiếng “xèo xèo!” của bột chiên trên lửa, những làn khói bốc lên như còn vương vấn trên mặt bánh vàng ươm. Bánh bột gạo chiên ấy được gọi tên là “bánh xèo”, rất dân dã và gần gũi với mọi người Việt. Bánh xèo hiện nay do có thêm phiên bản mới giữa bánh xèo miền Nam và bánh khoái miền Trung nên được tạm coi là có hai loại, khác nhau chủ yếu ở kích thước.

Nếu chiếc bánh xèo miền Trung nằm gọn trong lòng chiếc chảo nhỏ, đường kính khoảng 10 – 15cm, trông dày dặn và giòn rụm thì bánh xèo miền Nam kích thước bằng cái chảo lớn, bột đổ thật khéo để tạo lớp rìa mỏng tang và giòn xốp, ít ngậm dầu như bánh xèo miền Trung.

Vẫn với tép tươi, thịt ba rọi, giá sống, củ hành, phần nhân bánh ở miền Nam có thêm đậu xanh nên béo và bùi hơn. Tuỳ theo mùa, bánh xèo miền Nam có thể thêm vào nấm mối, kim châm, nấm tràm, cổ hũ dừa, bông điên điển… Thời gian qua, các thương hiệu bánh xèo nổi tiếng như Ăn Là Ghiền, Mười Xiềm đã mạnh dạn cải tiến nên bánh xèo đã có nhiều loại nhân khác nhau giúp chiếc bánh xèo trở nên đa dạng, phong phú hơn.

Bánh xèo có cách ăn đặc trưng, đó là ăn bằng tay. Bánh vừa lấy ra khỏi chảo còn nóng hôi hổi, tay xé một miếng vỏ vàng ruộm, thêm đầy đủ nhân, cuốn thành cuộn dày cộp toàn những rau là rau, từ cải bẹ xanh, cải xà lách và năm, sáu thứ rau thơm. Tai nghe được tiếng bột “xèo” trên mặt chảo nóng, nghe tiếng rôm rốp giòn tan khi bẻ và nhai bánh. Mũi ngửi hương thơm lựng. Mắt nhìn được đủ sắc màu vàng óng của bánh, xanh mượt mà của rau và đỏ au của nước mắm ớt.

Cuộn miếng bánh xèo từ từ cho vào miệng, vị ngọt của bột hòa cùng vị ngọt của tép, thịt, vị béo của mỡ vừa được đưa đẩy chạm đến ngưỡng của đô ngậy. Tức khắc mùi vị the nhẩm của cải bẹ xanh, thơm nồng của rau thơm hòa quyện đưa vị béo bay biến đi. Bao nhiêu hương vị mặn, ngọt, chua, cay như thay nhau đánh thức toàn bộ vị giác của người thưởng thức.

Không gì khoái khẩu cho bằng được thưởng thức món ăn đơn sơ mà tinh tế đến tuyệt vời. Bánh xèo được chọn lựa để trở thành một món ăn độc đáo, đại diện cho những món ăn Việt trong cuộc bình chọn “TP.HCM – 100 điều thú vị” lần này đã giới thiệu thêm kho tàng ẩm thực Việt còn nhiều lắm những món ăn thú vị.

Xem Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Cây Mai Ngày Tết Hay ❤️️ 15 Mẫu Hay

Thuyết Minh Về Món Ăn Bánh Xèo Ấn Tượng thể hiện qua từng câu văn, hình ảnh miêu tả chân thực và sinh động, sáng tạo.

Trong các món bánh mặn của Nam bộ, bánh xèo là món phổ biến, được người ăn ưa thích nhất.

Ăn bánh xèo có đông người mới vui vì khi làm bánh phải qua nhiều công đoạn nên cần nhiều người. Người ta phân công nhau bằng những câu vè vui vẻ như: “Người nào xấu xấu xay bột, lật hành. Người nào lanh lanh băm nhân, dò bánh…”

Muốn cho bánh ngon phải chịu khó, chịu cực một chút. Bột bánh là phần quan trọng nhất, bánh có ngon hay không là ở khâu này. Dân nông thôn không chịu loại bột gạo bịch sẵn, bày bán ở chợ vì đó là gạo dơ ngâm nước cho bã ra nhiều nước rồi gạn lấy bột nên chất bột bị chua và lạt, không còn bổ dưỡng, thơm ngon.

Muốn cho bột bánh xèo ngon phải là loại gạo thơm, gạo mới, ngâm trong một buổi hoặc một đêm rồi đem xay nhuyễn. Ngày nay có bột bánh xèo pha chế sẵn cũng tiện dụng nhưng phải trộn thêm theo công thức, một bịch bột bánh xèo pha thêm một bịch bột chiên giòn hoặc bột bắp và nước cốt dừa thì bánh mới béo giòn.

Dùng bột gạo tươi thì sau khi lược bột xong, pha thêm một bịch bột chiên giòn, nước cốt dừa, đường, muối sao cho độ béo ngọt theo khẩu vị người ăn, bỏ thêm hành lá xắt nhỏ, bột nghệ, trứng gà đánh nhuyễn. Người Nam bộ rất thích nước cốt dừa nên pha đậm đặc càng ngon (mà vị béo của nước cốt dừa không có vị béo nào sánh kịp), bánh khi chín có nước cốt dừa rất dễ lấy ra.

Nhân bánh muốn ngon phải có nấm rơm, nấm hương, nấm kim chi hay nấm đông cô, tôm hoặc tép, thịt gà hay thịt vịt băm nhuyễn, giá sống và củ sắn, có người còn bỏ cá cơm dừa xắt sợi, hoặc đậu xanh nấu chín, nhưng hai loại này làm cho dễ ngán không ăn được nhiều. Nấm làm nhân bánh có thể thay đổi theo từng mùa. Mùa nấm rơm thì làm nấm rơm, không có nấm rơm thì hải nấm mèo trên các cây so đũa hoặc mùa mưa thì có bông điên điển…

Rau sống và nước mắm là những thành phần quan trọng làm cho bánh thêm ngon. Rau sống phải có đủ họ tộc như: diếp cá, xà lách, tần ô, húng cây, húng lủi, quế không được thiếu lá cách và cải bẹ xanh (loại cải thân nhỏ). Chén nước mắm nêm nếm cho đủ độ mặn, ngọt, chua, cỏ màu đỏ của ớt, màu vàng của nước mắm, màu xanh của xoài sống bằm nhuyễn và màu đỏ trắng của dưa của cải.

Khi tất cả vật liệu đã sẵn sàng thì người đổ bánh mới bắt đầu nổi lửa. Nếu lượng người ăn đông phải đổ hai chảo mới kịp đãi khách, ở miền quê, các bà nội trợ đổ bánh bằng chảo gang hay chảo bằng vỏ trái bom cắt ra, ở thành phố có loại chảo không dính tương đối tiện lợi. Khi chảo thật nóng thì đổ thử một vài cái xem mùi vị và độ đặc lỏng của bột vừa hay chưa, sau đó mới đổ thật sự.

Lấy miếng mỡ heo cắt hình vuông khoảng 3 cm đảo qua chảo một lượt, bỏ tép hoặc tôm và thịt ba rọi xắt sợi nhỏ vào cháo, đảo cho đỏ lên hồng lên, tiếp đó đổ một vá hột lên chảo nghe xèo xèo rồi tráng đều cho tròn cái bánh mới khéo, lần lượt bỏ nấm, thịt gà, giá, củ sắn và đậy nắp lại. Hai phút sau, giở nắp ra, tiếp tục “dần trên lửa “ Bánh chín có màu vàng như mặt trăng rằm.

Trên đó, màu đỏ của tôm, màu xanh của hành, màu nâu hoặc trắng của nấm. mùi thơm dậy của nước dừa và hột gà khiến cho chiếc bánh hấp dẫn đặc biệt. Bánh được xếp lại theo hình rẻ quạt, nóng hôi hổi trên chiếc mâm lót lá chuối hay trên chiếc đĩa sứ trắng ngà.

Ăn bánh xèo nên dùng tay, không cần đũa nĩa gì cả. Dùng tay để cuốn bánh cho gọn và cảm nhận được độ nóng ấm của bánh mới thấy ngon miệng. Ăn bánh nên uống với nước trà nóng hoặc với bia, rượu mới tiêu được mỡ dầu. Vừa ăn vừa đàm đạo chuyện trò, lúc đói bụng có người dám ăn cả chục bánh, có người ăn trừ cơm cả ngày.

Ở Huế cũng có loại bánh tương tự nhưng bánh nhỏ hơn, độ giòn và vị béo kém hơn, có lẽ họ không thích nước cốt dừa như người Nam bộ. Thành phố Hồ Chí Minh có những con đường bày bán bánh xèo sát ngay đại lộ. Một vài địa điểm có tiếng như bánh xèo A Phủ, Đinh Công Tráng với giá từ hai chục ngàn đồng đến ba, bốn chục ngàn đồng một bánh nhưng bánh của các nơi này dùng quá nhiều thịt, mỡ nên ăn không được nhiều.

Màu sắc đẹp, mùi vị hấp dẫn, chất dinh dưỡng cao, bánh xèo là món bánh độc đáo, đậm đà hương vị Nam bộ.

Tham Khảo Bài 💧 Thuyết Minh Về Chiếc Cặp Sách ❤️️ 15 Bài Mẫu Về Cái Cặp Hay

Bài Văn Thuyết Minh Về Bánh Xèo Điểm 10 giúp các em có thêm nhiều ý tưởng mới và thú vị để hoàn thiện bài văn mình hay nhất.

Bánh xèo có từ rất lâu, không biết nó xuất xứ từ đâu, nhưng bánh xèo hiện nay có mặc ở rất nhiều nơi trên đất nước và ở thế giới nữa. Bánh xèo là một món ăn dân dã, bình dị nhưng bánh xèo nó mang một cái gì đó rất riêng cho dân tộc ta.

Bánh xèo thường hay được mọi người làm bán vào mùa mưa, có lẽ nó ăn rất ấm bụng nên mọi ngoài rất thích. Bánh xèo có nhiều vùng làm khác nhau. Ở miền tây thì bánh xèo được làm rất to, miền trung thì vừa và miền bắc thì hơi nhỏ một tí. Mỗi nơi chọn nguyên liệu giống nhau đều là bột gạo nhưng nhân và gia vị thì khác nhau. Gia vị nó tượng trưng cho mỗi vùng miền. Nhưng có vùng thì làm bằng tôm thịt bò, thịt heo nạc… có vùng thì làm nấm và giá công với một tí thịt rất ngon.

Ở mỗi vùng với mỗi gia vị nó tượng trưng tính vùng miền và thể hiện được những nét đặc sắc văn hóa của họ. Phải chăng đó là cái sở thích của mỗi vùng không phải mà nó chính là nền văn hóa lịch sử của họ.

Để làm được một chiếc bánh xèo không phải đơn giản tí nào, đó là cả một nghệ thuật. Cách gia bột, trộn bột rất quan trọng nó có thể làm bánh ngon hay dở thế nào đều phụ thuộc vào nó. Ta có thể dùng thêm các nguyên liệu khác như nước cốt dừa để lấy khuấy bột. Nước dừa này dùng để pha bột nhằm làm tăng độ béo cho bánh. Ta cho khoảng 1 lít nước ấm vào 0,5 kg dừa khô đã nạo, nhào trộn và vắt, lược lấy phần nước cốt để riêng, sau đó cho thêm nước vào phần xác dừa, tiếp tục vắt lấy nước nhì và nước ba.

Bước tiếp theo ta khuấy đều bột gạo với một ít nước ấm và tất cả nước dừa ở trên, cho thêm hành lá cắt nhuyễn và bột nghệ để tạo màu vàng đặc trưng cho bánh. Bổ sung thêm gia vị như muối, đường, bột ngọt. Cũng có thể cho thêm trứng gà đã đánh nhuyễn vào bột để bánh giòn và nở hơn hay bổ sung bột mì để tăng độ giòn của bánh.

Nhưng tùy theo sở thích của mỗi người. tôm bóc vỏ để ráo, thịt thái mỏng và ướt gia vị. Sau đó ta sào sơ qua cho thịt và tôm săn lại, vừa chín tới. bên cạnh đó ta có thể cho thêm giá, nấm rửa để ráo. Tí khi làm bánh, ta cho cho vào lên trên bột.

Ăn kèm với bánh gồm có rau sống và nước chấm. Hai món ăn kèm này cũng phải chuẩn bị chu đáo qua việc sơ chế nó. Nước chấm thì ta cho tỏi tươi và ớt được bằm thật nhuyễn, cho vào nước ấm. Thêm đường, nước chanh (hay giấm) và khuấy đều, sau đó cho từ từ nước mắm vào, nêm nếm vừa ăn. Nước chấm ngon cho bánh xèo phải có vị mặn vừa phải của nước mắm hài hòa với vị chua của chanh và vị ngọt của đường.

Rau sống gồm có nhiều loại và tùy sở thích của từng người, mà ta nên chọn các loại rau sau: xà lách, rau thơm, diếp cá, cải xanh, lá lốt, đọt bằng lăng, đọt xoài, sôi nhái. Rau phải được rửa sạch, để ráo và xếp ra mâm. Rau nên ngâm trong nước có muối với nồng độ loãng và ngâm trong thời gian ngắn khoảng 3-5 phút để hạn chế các nguy cơ vi sinh vật.

Cách đổ cũng không khó. Ta chỉ cần bắt chảo nóng, cho dầu vào sôi lên ta cho bột vào vào cho nhân cộng với ít giá và nấm vào úp vung lại để khoảng 2 3 phút ta lấy ra và làm tiếp cá khác. Nếu muốn bánh giòn hơn thì ta để khoảng 5 phút và lấy ra. Cái quan trọng để có chiếc bánh xèo ngon đó là nguyên liệu và cách pha bột. Một cái bánh xèo cung cấp năng lượng trung bình khoảng 300-350 kcal với sự có mặt đầy đủ các thành phần dinh dưỡng khác nhau từ nguyên liệu chế biến (tinh bột, đạm, chất béo).

Bánh xèo Nam bộ được chế biến từ bột gạo, nước cốt dừa, tôm, thịt… đặc biệt hấp dẫn thực khách bằng cách thêm giá, củ sắn, bông điên điển, bông thiên lý hay bông so đũa… làm nhân bánh.

Ăn bữa bánh xèo thơm ngon không những bạn được thưởng thức hương vị ngon, tươi của các loại rau, mà còn tạo điều kiện cho cơ thể có khả năng tiếp nhận các vị thuốc tốt qua các loại rau đó. Kim thất thì thơm như tía tô, có nhiều tinh dầu, bổ máu; cát lồi giúp những người suy thận phục hồi chức năng; đọt vông giúp an thần, dễ ngủ…

Có mặt trong các loại rau ăn với bánh xèo còn có lá lốt có tác dụng giảm đau, đầy hơi, khó tiêu, trị nôn mửa… Rau diếp cá lại có tác dụng kháng khuẩn, điều trị mụn nhọt và thông đường tiểu tiện hoặc dùng cho phụ nữ kinh nguyệt không đều. Nghệ là thuốc thông mật, điều trị viêm gan, giảm viêm khớp và còn dùng để sản xuất thuốc làm hạ tỷ lệ cholesterol trong máu, điều trị viêm loét dạ dày…

Giá đậu xanh trong nhân bánh có nhiều chất dinh dưỡng như vitamin C và E, lượng calo thấp, dùng tốt cho người bị viêm thanh quản mất tiếng, mỏi cơ, người béo phì…. Hành tây cắt thành khoanh mỏng vừa tăng hương vị thơm ngon cho nhân bánh, vừa có tác dụng kích thích tiêu hóa, điều trị nhu động ruột kém, hoặc còn có tác dụng điều trị xơ mỡ động mạch và viêm họng…

Vượt ra khỏi biên giới quốc gia, bánh xèo đã được mang đi giới thiệu ở rất nhiều nơi trên thế giới và đã được rất nhiều người ưa thích không chỉ ở mùi vị đặc trưng của bánh mà còn giá trị dinh dưỡng cao ở những cái bánh xèo nóng hổi.

SCR.VN Gợi Ý 💦 Thuyết Minh Về Cái Phích Nước Lớp 8 ❤️️ 15 Bài Ngắn Gọn Hay

Thuyết Minh Về Cách Làm Bánh Xèo Đơn Giản được nhiều bạn đọc quan tâm và chia sẻ trên các diễn đàn văn học nổi tiếng sau đây.

Bánh xèo đã trở thành món ăn nổi tiếng của ẩm thực Việt Nam. Đặc biệt, món bánh xèo kết hợp các nguyên liệu đặc trưng của ẩm thực dân gian Nam Bộ rất được người miền Tây yêu thích. Thay vì phải ghé hàng quán, bạn cũng có thể tự tay vào bếp với cách làm bánh xèo miền Tây chuẩn vị, giòn tan sau đây.

Do khi đổ bột vào chảo nóng nghe tiếng “xèo… xèo” nên món ăn này được đặt tên là bánh xèo. Cũng giống như tính cách hào sảng, thoải mái của người miền Tây mà bánh xèo miền Tây luôn rất to. Vỏ bánh được tráng mỏng, giòn tan, có màu vàng ươm đẹp mắt của tinh bột nghệ, nhân bên trong lại thơm mềm, kết hợp các nguyên liệu thịt heo, đậu xanh, tôm và sắn… quyện cùng hương vị béo ngậy của nước cốt dừa, tạo nên một món ăn vô cùng hấp dẫn.

Bánh xèo miền Tây được thưởng thức cùng chén nước mắm tỏi ớt chua ngọt, cay nhẹ và nhiều loại rau phong phú như rau cải xanh, rau diếp cá, tía tô, đọt xoài, lá điều, lá cách… Gắp một miếng bánh xèo nóng hổi, chấm nước mắm chua ngọt cay cay, tất cả hòa quyện, giòn tan trong miệng, tạo nên hương vị cực ngon khó có thể quên được.

Mua thịt ba chỉ tươi, miếng thịt sáng màu, sờ vào không dính tay và có độ đàn hồi tốt. Thịt ba chỉ mua về rửa sạch, cắt thành miếng mỏng. Khi mua tôm, bạn chỉ nên chọn những con còn sống, vỏ trơn bóng, sống giữa thân tươi và trong, đó là những con tôm tươi, chắc thịt. Tôm sú lột bỏ vỏ, cắt phần râu cứng, rút chỉ đen ở lưng rồi rửa sạch.

Cho tôm, thịt ba chỉ vào tô sạch, ướp với nửa muỗng hạt nêm, 1 muỗng tiêu, trộn đều cho thấm gia vị và ướp trong khoảng 15 phút. Hành tây bóc vỏ, rửa sạch, thái mỏng. Hành lá nhặt gốc, rửa sạch, thái nhỏ. Cà rốt, củ cải trắng gọt vỏ, rửa sạch, bào sợi. Rau thơm, giá đỗ rửa sạch, ngâm với nước muối loãng khoảng 15 – 20 phút rồi vớt ra để ráo.

Hòa tan nước cốt dừa cùng 400ml nước, sau đó cho bột bánh xèo vào, thêm 1 muỗng bột nghệ, một ít hạt nêm, muối, rắc hành lá vào rồi khuấy đều đến khi bột mịn và không còn vón cục. Để bột nghỉ khoảng 20 – 30 phút cho bột nở hoàn toàn.

Do bột bánh xeo đóng gói thường được nêm nếm sẵn nên bạn không cần nêm thêm quá nhiều gia vị. Chú ý không nên pha bột quá đặc sẽ khiến vỏ bánh bị dày, khó chín. Bạn có thể thêm vào 1 chén bia vào hỗn hợp bột để khi chiên lớp vỏ bánh sẽ giòn ngon hơn. Đây là cách làm bánh xèo giòn lâu được nhiều người đúc kết lại và áp dụng. Để chảo dầu lên bếp, khi dầu sôi bạn cho thịt vào xào săn với lửa nhỏ. Khi thịt đã chín thì vớt ra, tiếp tục cho tôm vào, xào trong khoảng 5 phút đến khi tôm chín thơm.

Cho 1 muỗng dầu ăn vào chảo chống dính, chờ dầu sôi. Đổ một vá bột vào, nghiêng chảo để tráng đều lớp bột. Thả tôm, thịt, hành tây và một ít giá vào, đậy vung khoảng 30 giây cho bột chín. Chiên bánh ở đến khi vỏ bánh vàng giòn, gập đôi bánh và chiên phần còn lại đến khi bánh giòn đều 2 mặt. Lần lượt làm cho đến khi hết lượng bột.

Nếu bạn không ăn được giá sống thì cho giá vào đảo qua với dầu hoặc trụng sơ cho chín. Bạn có thể dùng mỡ heo để chiên bánh xèo, bánh sẽ giòn hơn và thơm hơn. Chú ý khi làm bánh xèo không để lửa to, vỏ bánh dễ bị cháy sém, thịt sẽ dai và không ngon.

Giới Thiệu Bài 💦 Thuyết Minh Về Xe Đạp Điện, Xe Máy Điện ❤️️ 15 Mẫu Hay

Thuyết Minh Cách Làm Bánh Xèo Văn Ngắn giúp các em học sinh nắm vững bố cục và cách sử dụng từ ngữ sáng tạo trong bài viết.

Bánh xèo là một loại bánh Việt Nam, có bột bên ngoài, bên trong có nhân là tôm, thịt, giá đỗ, được rán màu vàng, nặn hình tròn hoặc bán nguyệt. Tuỳ theo từng địa phương tại Việt Nam mà bánh được thưởng thức với nét đặc trưng riêng. Thường có 2 phong cách: đổ bánh xèo giòn và bánh xèo dai.

Cách làm bánh: Đầu tiên, đậu xanh ngâm nước nóng ấm khoảng 1 tiếng cho bóc vỏ. Đãi vỏ sạch, hấp/luộc chín sao cho đậu vẫn còn nguyên dạng hạt, không bị bể. Giá rửa sạch để ráo. Hành lá rửa sạch cắt nhỏ. Tôm lột vỏ, làm sạch đường chỉ. Ướp tôm thịt với một tí xíu muối, tiêu, tỏi ép nhỏ khoảng nửa tiếng cho ngấm gia vị. Cho bột gạo, bột bắp, muối, bột nghệ và nước soda vào trộn đều. Cho hành lá vào. Bỏ hỗn hợp vào tủ lạnh khoảng nửa tiếng trước khi làm.

Cách chiên bánh cũng phải tài tình mới ngon: Chảo nóng, cho một ít dầu vào. Dầu nóng, cho ít lát thịt heo và vài ba con tôm vào xào chín tái, thơm. Dùng vá tròn to( loại múc canh) múc một vá hỗn hợp bột bánh xèo (4) đổ tròn vào chảo. Vừa đổ vừa quay cán chảo cho bột chạy dàn đều một lớp mỏng khắp đáy chảo.

Rắc một ít đậu xanh đều lên bề mặt, cho giá vào phần nửa cái bánh. Đậy nắp lại, đợi khoảng 2~3 phút cho bánh chín vàng. Dùng vá dẹp bẻ gập bánh lại làm đôi. Lấy bánh ra.Cứ thế lập lại cho đến khi hết bột và tôm thịt rau.

Cách thưởng thức bánh: Khi ăn cuốn với rau xà lách hoặc cải cay và rau thơm, chấm với nước mắm pha chua ngọt. Pha nước chấm bánh xèo sao cho có đủ vị ngọt-chua-cay nhưng rất nhạt, nhạt đến độ có thể húp chén mắm như canh vậy. Tham khảo cách pha nước chấm ở đây. Tuy nhiên, phải gia giảm đường-nước và nước mắm sao cho thoả điều kiện trên. Mình thường pha theo tỉ lệ gồm: 2 phần đường, 1 phần mắm và 4 phần nước.

Điều mang đến cho mọi người cảm giác thích thú và muốn thưởng thức món ăn này chính là vị ngọt thanh của chén nước mắm chấm bánh xèo lấy từ nước dừa tươi và đường (nếu không có dừa tươi thì dùng nước dừa tươi đóng lon/ hoặc không nữa thì phải dùng đường thay thế)- chua của chanh hoặc dấm -cay của ớt- thơm của tỏi. Nếu không có nước dừa thì phải dùng nước nấu sôi để nguội cũng được nhưng dĩ nhiên là chất lượng sẽ thay đổi.

Tại Huế, món ăn này thường được gọi là bánh khoái và thường kèm với thịt nướng, nước chấm là nước lèo gồm tương, gan, lạc. Tuy nhiên, đối với món ăn này tại miền Nam Việt Nam, mọi người lại có công thức và cách chế biến hơi khác bánh có cho thêm trứng và người ta ăn bánh xèo chấm nước mắm chua ngọt. Tại miền Bắc Việt Nam, nhân bánh xèo ngoài các thành phần như các nơi khác còn thêm củ đậu thái mỏng hoặc khoai môn thái sợi.

Nếu có dịp, bạn hãy thưởng thức món ăn tuyệt vời này một lần trong đời. Nó không chỉ đơn giản là món ăn dân dã, món ăn hè phố. Mà hơn nữa, đó chính là ẩm thực, là văn hóa của người Việt.

Đọc Thêm Bài 💦Thuyết Minh Về Chiếc Xe Đạp ❤️️15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Miền Tây cũng có món bánh xèo, nhưng nó lại không giống với bánh xèo miền Trung từ nguyên liệu đến cách ăn và cả hương vị. Tùy vào gu của mỗi thực khách, riêng với mình, chắc vì từ nhỏ đã ăn bánh xèo ở quê nhà nên vị bánh xèo quê mình vẫn thích hơn.

Ở quê, bánh xèo có thể ăn quanh năm, tuy vậy vì đặc thù có vị béo hơi dầu mỡ nên món ăn này được chuộng hơn cả và dịp cuối năm, khi thời tiết mưa lạnh kéo dài. Mặc cái lạnh giá ẩm ướt bên ngoài, được ngồi cuốn bánh xèo kèm rau sống, bánh tráng rồi chấm nước mắm cay cùng cả nhà thì còn gì bằng.

Bánh xèo Quảng Ngãi được đáng giá là ngon khi vỏ bánh mỏng chính đều, ráo dầu/mỡ có thể mềm hoặc giòn tùy sở thích. Nhân bánh mềm ngọt. Đồ ăn kèm như bánh tráng phải mới, dẻo, rau sống tươi rửa sạch đầy đủ loại rau. Đặc biệt là nước chấm phải cay cay, mặn mặn đầy đủ gia vị ( không quá ngọt như nước chấm miền Nam).

Bánh xèo Quảng Ngãi có nhiều loại nhân, được ưa chuộng nhất có lẽ là nhân thịt heo, tôm đất, thịt vịt, thịt bò và ngày rằm thì có bánh xèo chay nhân nấm. Về phần chuẩn bị nguyên liệu gồm nhiều phần khác nhau.

Phần vỏ bánh: Bạn pha bột làm bánh xèo và nước theo tỉ lệ 3:5, không đặc quá mà cũng không quá lỏng. Mình thường mua sẵn hủ bột gạo đúc bánh xèo nên công đoạn này đỡ mệt hơn. Sau đó, bạn thêm vào hỗn hợp này ít bột nghệ. Nếu nghệ tươi thì bạn giã nghệ vắt lấy nước và cho phần nước nghệ vào hỗn hợp vỏ bánh. Bạn dùng vá khoáy đều, lúc này bạn được hỗn hợp có màu vàng.

Phần nhân bánh: Bạn cắt thịt (heo/ bò) thành miếng dài mỏng, ướt gia vị tiêu, hành và một ít muối, hạt nêm. Sau khoảng 10 phút, bạn xào qua cho phần nhân vừa chín tới và cho ra tô. Phần rau sống: Bạn nhặt rau, rửa sạch, dưa leo thái lát mỏng. Bạn cho tất cả loại rau và 1 cái rổ, đảo lên để cho được rổ rau ăn kèm như hình bên dưới. Phần nước chấm: bạn bóc tỏ, rửa sạch ớt, chanh để sẵn.

Cách làm bánh xèo đơn giản qua các bước, sau khi chuẩn bị và sơ chế xong nguyên liệu, chúng ta bắt đầu đổ bánh xèo. Bạn cần từ 1- 2 khuôn đúc bánh xèo, bạn có thể dùng chảo bình thường, nhưng sẽ không được ngon và đúng kích thước bánh. Bạn chờ khuôn đúc nóng, bạn quết qua dầu/mỡ trước khi đổ hỗn hợp bột vào. Lưu ý, lượng bột bạn canh tầm 1/3 cái chén nhỏ ( tùy kích thước khuôn), đổ 1 lần theo chiều trong ra ngoài.

Sau đó cho 1 ít nhân, giá đỗ. Chờ đến khi bột chín tầm 1 -2 phút, bạn dùng thanh tre ( đũa cả) gấp bánh lại để bánh chính đều. Sau đó cho bánh ra đĩa lót giấy thấm dầu hoặc lá chuối hay trên vỉ nướng để bánh ráo. Nếu bạn muốn ăn vỏ bánh giòn, bạn có thể cho thêm vào hỗ hợp bột 1 ít bia, và đúc bánh trên khuôn dày, lửa to. Lần lượt bạn tiếp tục quết dầu vào khuôn và đúc tiếp cho đến hết bột và nhân.

Chia Sẻ Bài 💦 Thuyết Minh Chiếc Nón Lá Lớp 9 ❤️️15 Bài Mẫu Về Cái Nón Hay

Thuyết Minh Về Một Món Bánh Xèo Đạt Điểm Cao sẽ cung cấp cho các bạn nhiều thông tin hay và hữu ích để bạn biết thêm về món ăn đặc biệt này.

Cái tên “ Bánh xèo Việt Nam “ bắt nguồn từ đâu? Vì sao mà nó lại được gọi một cách đặc biệt như vậy? Nói ra chắc không ít người ngạc nhiên. Bởi chính là bắt nguồn từ âm thanh phát ra khi đổ bánh, lúc đổ bột vào chảo sẽ vang lên “ xèo xèo “. Từ đó, người dân quen gọi món ăn này là Bánh xèo.

Nhiều người bảo “ Bánh xèo miền Trung xuất phát từ Bình Định”, còn “bánh xèo miền Tây là bắt nguồn từ người Khmer”…. Nhưng vẫn chưa có một công bố chính thức nào khẳng định nguồn gốc đầu tiên của bánh xèo là ở đâu. Bởi hầu như ở bất cứ địa phương nào trên khắp Việt Nam đều có bánh xèo. Tuy nhiên, ngày nay bánh xèo được chia làm hai loại rõ rệt, đó là bánh xèo nhỏ hay phổ biến ở miền Trung. Loại còn lại là bánh xèo to, được nhiều người dân miền Nam ưa chuộng.

Bánh xèo là món ăn thường được ăn và bán phổ biến hơn vào mùa mưa. Bởi lẽ vì sự giòn rụm, nóng hổi được vớt từ trong khuôn ra, ăn ngay tại chỗ, dễ khiến cho người ta cảm thấy ấm bụng. Khác với những món ngon đắt tiền, bánh xèo Việt Nam đơn giản nhưng đậm nét ẩm thực riêng. Từ khâu nguyên liệu, cách chế biến cũng như thưởng thức. Mọi thứ đều rất đơn giản và gần gũi. Hòa quyện lại với nhau cho người ta cảm giác bình yên, mộc mạc nhưng vô cùng đậm đà.

Tuy có cùng một tên gọi nhưng tùy vào vùng miền và sở thích ăn uống của mỗi vùng mà bánh xèo được chia làm hai loại. Về cơ bản gọi là bánh xèo miền Trung và bánh xèo miền Nam.

Ở miền Trung, bánh xèo thường có kích thước nhỏ gọn. Nhân thường được làm từ thịt heo hoặc tôm. Ngoài ra ngày nay bánh xèo còn được chế biến với nhân nấm, thịt vịt… Đặc điểm đặc trưng của bánh xèo miền Trung đó là phần vỏ bánh không quá dày cũng không quá mỏng. Bánh đổ ra thường mềm, hơi dẻo khi ăn. Người dân địa phương thường để bánh xèo vào chén hoặc đĩa rồi ăn chung với rau sống và nước chấm.

Ngoài ra, đặc biệt hơn là bánh xèo ở Huế. Người dân ở đây thường ăn kèm với thịt nướng, nước chấm lại là nước lèo gồm tương, gan, lạc, chứ không phải là nước mắm. Đây là một cách ăn khá đặc biệt, cũng vô cùng thú vị.

Trái ngược lại với bánh xèo miền Trung, bánh xèo miền Nam phải có kích thước to gấp 3 – 4 lần bánh xèo miền Trung. Vỏ bánh xèo ở miền Nam thì được làm cho giòn hơn, hơi dai dai ở phần giữa. Điều đặc biệt hơn nữa là bánh xèo miền Nam thường thơm hơn. Vì nó có hương vị của nước cốt dừa. Nhân bánh xèo thường được làm từ thịt ba chỉ, tôm, đậu xanh….Cũng chính đặc điểm của bánh khác nhau nên cách thưởng thức bánh xèo của miền Nam cũng khác so với miền Trung.

Ở miền Nam cách ăn bánh xèo có phần công phu hơn. Họ ăn bánh xèo kèm với rau rừng và nước chấm chua ngọt. Khi ăn, thực khách sẽ cuốn bánh xèo và rau lại cùng với nhau rồi chấm với nước mắm pha sẵn. Ngày nay nhiều người thích cuốn bánh xèo với bánh tráng ăn hơn. Đấy cũng là một trong những cách thưởng thức độc lạ của từng người.

Tham Khảo Bài 🌿 Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá ❤️️15 Bài Văn Về Cái Nón Lá Hay

Thuyết Trình Bánh Xèo Chi Tiết Nhất, cùng tham khảo bài văn sau để dễ dàng ôn tập và đạt hiệu quả cao trong bài kiểm tra.

Bánh xèo là một loại bánh phổ biến ở châu Á, phiên bản bánh xèo của Nhật Bản và Triều Tiên có bột bên ngoài, bên trong có nhân là tôm, thịt, giá đỗ, kim chi, khoai tây, hẹ, (bánh xèo Triều Tiên); tôm, thịt, cải thảo (Nhật Bản) được rán màu vàng, đúc thành hình tròn hoặc gấp lại thành hình bán nguyệt. Tuỳ theo từng địa phương tại Việt Nam mà bánh được thưởng thức với nét đặc trưng riêng. Thường có 2 phương pháp chính: đổ bánh xèo giòn và bánh xèo dai. Ăn bằng hai cách: ăn bốc hoặc ăn bằng đũa.

Tại Huế, món ăn này thường được gọi là bánh khoái và thường kèm với thịt nướng, nước chấm là nước lèo gồm tương, gan, lạc. Tại miền Nam Việt Nam, bánh có cho thêm trứng và người ta ăn bánh xèo chấm nước mắm chua ngọt. Tại miền Bắc Việt Nam, nhân bánh xèo ngoài các thành phần như các nơi khác còn thêm củ đậu thái mỏng hoặc khoai môn thái sợi.

Các loại rau ăn kèm với bánh xèo rất đa dạng gồm rau diếp, cải xanh, rau diếp cá, tía tô, rau húng, lá quế, lá cơm nguội non… Ở Cần Thơ có thêm lá chiết, ở Đồng Tháp thêm lá bằng lăng, ở Vĩnh Long có thêm lá xoài non, ở Bạc Liêu có thêm lá cách. Cầu kỳ nhất là ở các vùng miền Trung Việt Nam, ngoài rau sống, còn thêm quả vả chát, khế chua.. Bởi vậy, dân sành ăn cứ thấy ngờ ngợ như món này thực sự được bắt nguồn từ Huế.

Bánh xèo Phan Thiết khác với bánh xèo ở những nơi khác là bánh nhỏ chỉ bằng cái lòng chén và không cuốn với rau xà lách mà thả vào tô nước mắm chín (nước mắm đã được giã với tỏi và ớt).

Đọc Thêm Bài 🌿 Thuyết Minh Về Cây Bút Chì ❤️️15 Mẫu Về Cái Bút Chì Hay Nhất

Thuyết Trình Về Bánh Xèo Hay Nhất được chúng tôi chọn lọc và chia sẻ đến các bạn đọc yêu thích sau đây.

Khi nhắc đến ẩm thực Việt Nam, bạn bè quốc tế thường nhớ đến phở và bánh mì, gần đây còn có thêm bún chả. Nhưng với người Việt chúng ta, có một món ăn dân dã rất quen thuộc khác nữa mà hầu như ai cũng yêu thích — đó là bánh xèo.

Thường được bán ở góc đường hay trong quán nhỏ khiêm tốn, món bánh hấp dẫn này luôn là một trong những đại diện tiêu biểu của ẩm thực đường phố Việt Nam. Và nếu được hỏi, những người sành ăn hẳn sẽ trả lời rằng để hiểu về bánh xèo, ta không nên chỉ biết mỗi một phiên bản riêng của vùng miền nào.

Cái tên “bánh xèo” bắt nguồn từ âm thanh khi lớp bột gạo “hạ cánh” trên chiếc chảo nóng và chiên đến giòn rụm. Ở mỗi vùng miền, bánh có kích cỡ và thành phần nguyên liệu khác nhau, nhờ đó mà chúng ta có rất nhiều phiên bản bánh xèo đặc sắc và ngon miệng. Tuy không rõ thời điểm ra đời, nhưng bánh xèo thường được cho là xuất xứ từ miền Trung nước ta. Vào thời Tây Sơn, món ăn này thậm chí phổ biến đến mức được dùng thay cơm vào ngày 2 và ngày 16 âm lịch hàng tháng.

Có khá nhiều ý kiến về nguồn gốc bánh xèo. Có người cho rằng nó là biến thể của bánh khoái của Huế; người khác lại cho rằng công thức này được học từ người Chăm trong nhiều thế kỷ trước; cũng có ý kiến nói rằng ẩm thực Nam Ấn trước thế kỷ XI mới đúng là nguồn cảm hứng tạo nên bánh xèo.

Nhưng bất kể nguồn gốc thật sự là gì, phải thừa nhận rằng chiếc bánh xèo miền Trung vẫn là nguyên bản của vô số biến thể khác. Ở các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi hay Quảng Nam, bánh xèo có kích cỡ vừa và được cuốn trong bánh tráng. Đi về phía Nam đến các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận, người ta dùng hải sản làm nhân bánh thay cho thịt heo và giá đỗ, với nước chấm là nước mắm pha với ớt và sốt đậu phộng rang; bánh xèo ở đây có kích cỡ nhỏ hơn và thỉnh thoảng được cuốn với rau sống.

Bánh xèo miền Trung thường được ăn kèm với khế chua, chuối chát và nhiều loại rau thơm. Trong khi đó, các đầu bếp miền Nam pha nước cốt dừa vào khâu trộn bột, rồi cho thêm nấm hoặc ngó sen vào làm nhân. Mỗi người làm bánh xèo lại có một công thức riêng, kết hợp các nguyên liệu cơ bản là nước mắm, chanh và ớt với một loạt gia vị khác, tạo nên sự đa dạng về hương vị cho món ăn.

Càng đi dọc đất nước về phía Nam sẽ thấy kích cỡ của chiếc bánh xèo càng lớn dần. Tại Cần Thơ, Biên Hòa và Sài Gòn, ta thấy những chiếc bánh xèo to thật to với phần nhân bao gồm nào là đậu xanh, thịt heo, tôm, và giá, đi kèm là đĩa rau sống và rau thơm tươi sạch.

Tặng Bạn 🌵 Thẻ Cào Miễn Phí ❤️ Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo Lớp 9 Ngắn Hay giúp các em có thể học hỏi và trau dồi thêm cho mình nhiều kĩ năng, cách dùng từ sáng tạo và sinh động.

Từ lâu bánh xèo đã trở thành loại bánh mang tính đặc trưng của vùng quê Việt Nam, đặc biệt ở miền Nam và miền Trung. Hiện nay bánh xèo rất nổi tiếng ở Việt Nam và cộng đồng người Việt trên khắp thế giới. Bánh xèo là một món ăn dân dã, ra đời ở các vùng quê từ khá lâu. Không ai biết thời gian xuất hiện và thuộc miền xứ sở nào vì từ Huế trở vào phía Nam nơi nào cũng có.

Cái tên gọi “bánh xèo” cũng làm người ta nghĩ suy “có phải rằng tiếng xèo xèo khi đổ làm nên tên gọi của chiếc bánh”. Chiếc bánh ở từng vùng cũng khác nhau về kích cỡ và cách làm nhân: bánh xèo Huế, bánh xèo Phan Thiết thường nhỏ nhưng bánh xèo Nam Bộ lại khác hẳn, to và nhiều nhân. Nhất là ai đã về miền Tây Nam Bộ thưởng thức chiếc bánh xèo giòn rụm với đủ loại rau chắc khó thể nào quên.

Bánh xèo Nam Bộ thường thì mùa nào thức nấy, ngày thường bà nội trợ hay dùng giá hoặc củ sắn thái sợi cùng thịt ba chỉ, tép bạc làm nhân. Đến mùa mưa măng mọc, nấm mối rộ trong vườn, bánh xèo được thay nhân mới bằng măng tươi thái sợi, nấm mối xào ngon tuyệt cú mèo, đến mùa nước lên điên điển đơm bông, nhân bánh lại rực một màu vàng. Ngày nay trong các nhà hàng sang trọng bánh xèo được sáng tạo nên nhiều loại nhân khác nhau: nấm kim châm, hải sản, phi lê gà…cũng hấp dẫn không kém.

Với chiếc bánh xèo đầy màu sắc lẫn mùi vị đó khi ăn lại được cuốn trong các loại rau xanh và chấm với nước mắm chua ngọt, trong có để cà rốt và củ cải trắng ngâm giấm. Rau xanh đủ loại, đủ thành phần từ trong vườn, dưới ruộng và cả ven sông: đọt lụa, lá cách, lá điều, đọt xoài, đọt cóc, đinh lăng, quế nước, xà lách, cải bẹ xanh, các loại rau thơm: tía tô, quế, húng lũi, húng cây…

Ðể được cái bánh xèo cho khéo là cả một nghệ thuật. Bánh có màu đặc trưng là sắc vàng của nghệ, thêm vị béo, hương thơm của nước cốt dừa, mép ngoài của bánh mỏng và giòn. Cái để lại dấu ấn cho bữa ăn bánh xèo chính là các loại lá để ăn với bánh. Từ cái vị chát chát, chua chua của đọt xoài non, bằng lăng, đến cái mùi hăng hăng của cải xanh, diếp cá, rau thơm…

Vượt ra khỏi biên giới quốc gia, bánh xèo đã được mang đi giới thiệu ở rất nhiều nơi trên thế giới và đã được rất nhiều người ưa thích không chỉ ở mùi vị đặc trưng của bánh mà còn giá trị dinh dưỡng cao ở những cái bánh xèo nóng hổi.

Hướng Dẫn 🌵 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí ❤️️ Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo Lớp 10 Chi Tiết giúp ích rất nhiều cho quá trình ôn tập của các em đạt được điểm cao.

Núi Cấm là ngọn núi nổi tiếng của An Giang. Ngọn núi này cao 705m, cao nhất trong Thất Sơn. Vì phong cảnh tươi đẹp, thiên nhiên trong lành nên núi Cấm thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Không những thế, nhờ có nhiều loại cây cối tốt tươi, rau trái um tùm mà món bánh xèo Núi Cấm trở nên hết sức đặc sắc.

Bánh xèo Núi Cấm có bột bánh được làm từ gạo lúa Sóc. Tất cả các công đoạn đều làm bằng tay, từ xay gạo bằng cối đá rồi dằn bằng những tấm thớt nặng cho bột ráo nước đến nạo dừa, vắt nước cốt nghệ tươi. Bột bánh xèo Núi Cấm phải được trộn làm sao cho không bị khô nhưng cũng không nhão, khi đổ bánh phải có vị ngọt bùi của gạo, mùi thơm của dừa, vị dịu nhẹ của nghệ tươi.

Người đổ bánh cũng phải rất khéo tay để làm sao chiếc bánh xèo vừa mỏng nhẹ lại vừa giòn rụm mà không bị cháy, hai mặt chín đều một màu vàng ươm đẹp mắt. Nhân của bánh xèo Núi Cấm thường là đậu xanh và tép đồng tươi rói. Nước chấm bánh xèo Núi Cấm cũng rất khác biệt với ớt, tỏi, chanh, đường và trái trúc. Trái trúc là một loại trái cây thường mọc ở vùng núi Cấm An Giang. Vị của trái trúc chua chua và khi cho vào nước chấm đã tạo nên một hương vị hết sức đáng nhớ.

Nước chấm bánh xèo Núi Cấm vừa có vị mặn, ngọt lại vừa có vị chua, bùi, hăng nồng. Khi chấm với bánh xèo quả thật là rất hợp vị. Bánh xèo Núi Cấm ăn kèm với các loại rau rừng rất phong phú như cải trời, mã đề, lá lốt, hồng ngọc, càng cua, đinh lăng, kim thất, đọt xoài non, đọt vừng, sung, cát lồi…

Mỗi loại rau có một hương vị riêng, khi ăn kèm bánh xèo và chấm với nước chấm trái trúc đã tạo nên những hương vị đậm đà, dân dã khó quên. Do đó, dù các nguyên liệu làm nên bánh xèo Núi Cấm khá đơn giản nhưng chính sự mộc mạc, đậm chất thiên nhiên đã làm cho món ăn này trở nên hấp dẫn. Không chỉ người dân địa phương mà ngay cả khách du lịch các nơi đến Núi Cấm cũng đều rất thích thú thưởng thức món ăn này.

Gợi Ý Cách 🌵 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí ❤️ Kiếm Thẻ Cào Free

Cập nhật thông tin chi tiết về Làm Văn Hay: Thuyết Minh Về Chiếc Áo Dài Việt Nam trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!