Xu Hướng 2/2024 # Phân Tích Đa Thức Thành Nhân Tử # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Đa Thức Thành Nhân Tử được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Định nghĩa

Phân tích đa thức thành nhân tử (thừa số) có nghĩa là biến đổi đa thức đó thành một tích của những đa thức.

Ví dụ:

a) 2×2 + 5x – 3 = (2x – 1).(x + 3)

b) x – 2√xy +5√x – 10y = [(√x)2 – 2 y√x] + (5√x – 10y)

= √x(√x- 2y) + 5(√x- 2y)

= (√x- 2y)(√x + 5)

2. Phương pháp phân tích đa thức thành nhân tử

a) Phương pháp đặt nhân tử chung:

Nếu tất cả các hạng tử của đa thức có một nhân tử chung thì đa thức đó được biểu diễn thành một tích của nhân tử chung với một đa thức khác.

Công thức: AB + AC = A(B + C)

Ví dụ:

1. 5x(y + 1) – 2(y + 1) = (y + 1)(5x – 2)

2. 3x + 12√xy = 3√x(√x + 4y)

b) Phương pháp hằng đẳng thức:

Nếu đa thức là một vế hằng đẳng thức đáng nhớ nào đó thì có thể dùng hằng đẳng thức đó để biểu diễn đa thức này thành tích các đa thức.

* Các hằng đẳng thức đáng nhớ:

(A + B)2 = A2 + 2AB + B2

(A – B)2 = A2 – 2AB + B2

A2 – B2 = (A + B)(A – B)

(A+B)3= A3 + 3A2B + 3AB2 + B3

(A – B)3= A3 – 3A2B + 3AB2-B3

A3 + B3 = (A+B) (A2 – AB + B2)

A3 – B3 = (A – B)(A2 + AB + B2)

Ví dụ: Phân tích các đa thức sau thành nhân tử:

1. x2 – 4x + 4 = (x – 2)2

2. x2 – 9 = (x – 3)(x + 3)

3. (x + y)2 – (x – y)2 = [(x + y) + (x – y)][(x + y) – (x – y)] = 2x.2y = 4xy

Cách khác: (x + y)2 – (x – y)2 = x2 + 2xy + y2 – (x2 – 2xy + y2) = 4xy

c) Phương pháp nhóm hạng tử:

Nhóm một số hạng tử của một đa thức một cách thích hợp để có thể đặt được nhân tử chung hoặc dùng hằng đẳng thức đáng nhớ.

Ví dụ:

1. x2 – 2xy + 5x – 10y = (x2 – 2xy) + (5x – 10y)

= x(x – 2y) + 5(x – 2y)

= (x – 2y)(x + 5)

2. x – 3√x + √xy – 3y = (x – 3√x) + (√xy – 3y)

= √x(√x – 3) + y(√x – 3)

= (√x – 3)(√x + y)

d. Phương pháp tách một hạng tử: (trường hợp đặc biệt tam thức bậc 2 có nghiệm)

Tam thức bậc hai có dạng:

Ví dụ:

a) 2×2 – 3x + 1 = 2×2 – 2x – x +1

= 2x(x – 1) – (x – 1)

= (x – 1)(2x – 1)

b) y – 3√y + 2 = y – √y – 2√y + 2

= √y(√y – 1) – 2(√y – 1)

= (√y – 2)(y – 1)

e. Phương pháp thêm hoặc bớt cùng 1 hạng tử:

Ví dụ:

a) y4 + 64 = y4 + 16y2 + 64 – 16y2 

= (y2 + 8)2 – (4y)2

= (y2 + 8 – 4y)(y2 + 8 + 4y)

b) x2 + 4 = x2 + 4x + 4 – 4x

= (x + 2)2 – 4x = (x + 2)2 – (2√x)2

= (x – 2√x + 2)(x + 2√x + 2)

g. Phương pháp phối hợp nhiều phương pháp:

Ví dụ:

a3 – a2b – ab2 + b3 = a2(a – b) – b2(a – b)

= (a – b) (a2 – b2)

= (a – b) (a – b) (a + b)

= (a – b)2(a + b)

Bài Liên Quan:

Điều hướng bài viết

Phân Tích Ngô Tử Văn ❤️️15 Mẫu Phân Tích Hình Tượng Ngắn Hay

Phân Tích Ngô Tử Văn ❤️️ 15 Mẫu Phân Tích Hình Tượng Ngắn Hay ✅ Đón Đọc Tuyển Tập Bài Văn Nghị Luận Văn Học Đặc Sắc Được Chọn Lọc Tại SCR.VN.

Việc lập dàn ý chi tiết phân tích Ngô Tử Văn sẽ giúp các em học sinh nắm được bố cục và luận điểm trọng tâm khi viết bài. Tham khảo mẫu phân tích Ngô Tử Văn dàn ý như sau:

1.Mở bài phân tích Ngô Tử Văn:

Giới thiệu về tác giả Nguyễn Dữ và vị trí tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”.

Giới thiệu về nhân vật Ngô Tử Văn

2.Thân bài phân tích Ngô Tử Văn:

a. Lai lịch và tính cách của Ngô Tử Văn.

Lai lịch: Tên Soạn người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang.

Tính cách: Khảng khái, cương trực nóng nảy thấy sự gian tà thì không chịu được

Danh tiếng: Nổi tiếng đến mức vùng Bắc vẫn khen là một người cương trực.

-Bằng cách giới thiệu trực tiếp, Nguyễn Dữ đã tạo cho nhân vật yếu tố chính xác, qua đó giúp người đọc tin tưởng vào sự có thật của nhân vật này.

-Lời giới thiệu mang giọng điệu khen ngợi, hướng người đọc vào những hành động chính nghĩa của nhân vật.

b. Phân tích Ngô Tử Văn và hành động đốt đền:

-Phân tích nguyên nhân đốt đền của Ngô Tử Văn:

Theo quan niệm truyền thống: Đốt đền là hành động báng bổ thần linh cho nên ai cũng kiêng kị không dám đụng chạm.

Hành động của Ngô Tử Văn không phải phạm vào tín ngưỡng bởi đây là nơi trú ngụ của hồn ma tên tướng giặc họ Thôi – kẻ thù xâm lược nước ta. Đây là ngôi đền tà chẳng những không phù hộ cho dân lành mà còn làm yêu làm quái trong dân gian.

Hành động của Ngô Tử Văn là hành động chính nghĩa của người thấy gian tà thì không chịu được.

Ca ngợi, đồng tình với hành động chính nghĩa của Ngô Tử Văn

-Phân tích quá trình Ngô Tử Văn đốt đền:

+Trước khi đốt: Tắm gội chay sạch, khấn trời.

Thái độ nghiêm túc, kính cẩn. Đây không phải là hành động bộc phát nhất thời mà là hành động có chủ đích, có suy nghĩ kĩ lưỡng.

Tử Văn là con người biết suy nghĩ và làm chủ hành động của mình, kính trọng thần linh.

+Khi đốt đền: Châm lửa đốt đền mặc cho mọi người lắc đầu lè lưỡi, vung tay không cần gì…

Hành động đốt đền của Ngô Tử Văn cương quyết, dứt khoát vượt lên sự tưởng tượng của người thường

Tử Văn dũng cảm, cứng rắn, dám làm những điều không ai có thể làm để diệt trừ cái ác.

-Phân tích những sự kiện xảy ra sau khi Ngô Tử Văn đốt đền:

+Tử Văn thấy khó chịu, đầu lảo đảo, bụng run run rồi nổi lên một cơn sốt rét.

+Cuộc đối đầu giữa Tử Văn và hồn ma tên tướng giặc.

Tên tướng giặc giả làm cư sĩ đến đe dọa, mắng chửi Ngô Tử Văn, đòi dựng lại ngôi đền

Thái độ Ngô Tử Văn: Mặc kệ, ngồi ngất ngưởng, tự nhiên

Tử Văn là người can đảm, dũng mãnh khinh thường sự đe dọa, hống hách của tướng giặc

–Phân tích cuộc gặp gỡ giữa Ngô Tử Văn và Thổ Công:

Thổ công: Kể lại sự việc mình bị hại nhưng vẫn nhẫn nhịn cam chịu, căn dặn Ngô Tử Văn cách đối phó với tên tướng giặc.

Tử Văn: Kinh ngạc, hỏi kĩ lại chuyện và sẵn sàng chuẩn bị cuộc chiến với tên bách hộ họ Thôi

Ngô Tử Văn đầy can đảm bản lĩnh, dám làm những điều cả thần thánh cũng phải kinh sợ.

Ngô Tử Văn là người dũng cảm, trọng nghĩa khí, bất bình và dám đấu tranh chống lại sự phi lí ở đời

Việc đốt đền của Ngô Tử Văn phản ánh hiện thực xã hội còn tồn tại những phi lí, trắng đen, thật giả lẫn lộn và những cuộc đấu tranh chính nghĩa của những con người cương trực

c. Phân tích Ngô Tử Văn và cuộc chiến đấu dưới Minh ti:

-Phân tích những thử thách với Ngô Tử Văn:

Những lời vu cáo xảo quyệt của hồn ma tên tướng giặc.

Thái độ quát nạt, giận dữ của Diêm Vương

Tử Văn phải đương đầu với những thế lực mạnh, áp đảo

-Phân tích thái độ và hành động của Ngô Tử Văn:

Bày tỏ thái độ cứng cỏi, thể hiện chí khí của mình trước thái độ uy quyền của Diêm Vương

Bình tĩnh, khảng khái không chịu nhún nhường khi tranh đấu, đưa ra những bằng chứng thuyết phục, xin đem tư giấy đến Tản Viên chứng thực.

Tử Văn được xử thắng kiện và được cử làm chức phán xử ở đền Tản Viên.

Tính cách Ngô Tử Văn là con người cứng cỏi, không chùn bước trước những thế lực xấu xa, quyết tâm đến cùng để bảo vệ lẽ phải.

d. Ngô Tử Văn nhận chức phán sự đền Tản Viên:

Là chi tiết kì ảo thể hiện niềm tin vào chân lí, khẳng định chính nghĩa luôn chiến thắng gian tà. Sự dũng cảm, kiên cường, khảng khái diệt trừ cái ác của Tử Văn được đền đáp xứng đáng.

Cuộc gặp gỡ của quan phán sự với người dân làng: Sự tin tưởng của nhân dân vào vị quan tốt.

e. Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật Ngô Tử Văn:

Xây dựng cốt truyện hấp dẫn với những xung đột kịch tính

Xây dựng nhân vật thông qua thông qua hành động, lời nói để xây dựng tính cách

Sử dụng các thủ pháp nghệ thuật: Đối lập tương phản, liệt kê,..

Sử dụng các chi tiết kì ảo

3.Kết bài phân tích Ngô Tử Văn:

Khái quát nội dung và nghệ thuật xây dựng nhân vật Ngô Tử Văn

Khái quái về những bài học nhân sinh chính – tà, thiện – ác

Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀 Tóm Tắt Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên 🍀 15 Mẫu Hay

Sơ Đồ Tư Duy Dàn Ý Phân Tích Ngô Tử Văn Ngắn Nhất

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Thuyết Minh Về Nhân Vật Ngô Tử Văn 🌼 12 Bài Văn Hay Nhất

Nguyễn Dữ là tác giả nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Tên tuổi của ông gắn liền với danh tiếng của bộ truyện “Truyền kỳ mạn lục”, tác phẩm được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút” của nền văn học nước nhà. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, gồm 20 truyện, ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI, ghi chép lại những câu chuyên lạ trong dân gian. Tác phẩm thực sự là một sáng tác văn học với sự gia công, hư cấu, sáng tạo, trau chuốt, gọt giũa của Nguyễn Dữ chứ không phải chỉ là một công trình ghi chép đơn thuần.

Bằng trí tưởng tượng phong phú và bằng một bút pháp linh hoạt, tác giả Truyền kỳ mạn lục đưa người đọc vào một thế giới huyền bí vừa có người, vừa có thần, vừa hư, vừa thật nhưng xuyên qua các lớp mù linh ảo, ly kỳ được thêu dệt ra một cách tài giỏi ấy vẫn hiện rõ một thế giới thật của cuộc đời mà ở đó nhan nhản những kẻ có quyền thế độc ác, tham lam.

Tuy nhiên, bên cạnh sự tung hoành của cái xấu cái ác, Nguyễn Dữ vẫn nhìn thấy những phẩm cách lương thiện, trung thực, những tâm hồn thanh cao, tình người, tình yêu của nhân dân, của cái thiện vĩnh hằng và ông đã mô tả nó thật đẹp đẽ, mỹ lệ. Trong số đó có tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” đã đề cao tinh thần khẳng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn; đồng thời thể hiện niềm tin công lí, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng gian tà.

Câu chuyện đề cao nhân vật Ngô Tử Văn – đại diện cho tầng lớp trí thức nước Việt: khảng khái, nhân cách cứng cỏi, cao đẹp, giàu tinh thần dân tộc, chuộng chính nghĩa, dũng cảm, cương trực, dám đấu tranh chống lai cái ác trừ hạ cho dân qua đó bộc lộ niềm tin vào công lí, vào việc chính thắng tà gian. Truyện thông qua cuộc đấu tranh của Ngô Tử Văn còn ngầm phản ánh thế giới thực của con người với đầy rẫy sự việc xấu xa như nạn ăn của đút, tham quan dung túng che dấu cho cái ác hoành hành, công lí bị che mắt.

Mời bạn tham khảo 🌠 Cảm Nhận Về Nhân Vật Ngô Tử Văn 🌠 13 Bài Văn Mẫu Hay

Với đề văn yêu cầu anh chị hãy phân tích nhân vật Ngô Tử Văn, các em học sinh cần nắm vững nội dung văn bản cũng như tham khảo cho mình những bài văn hay.

Nguyễn Dữ là một danh sĩ thời Lê sơ, thời nhà Mạc và là tác giả của “Truyền kỳ mạn lục”, một tác phẩm truyền kỳ nổi tiếng tại Việt Nam được coi là áng “thiên cổ kì bút”. “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là một trong số hai mươi truyện viết bằng chữ Hán, tiêu biểu trong “Truyền kì mạn lục”. Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật chính Ngô Tử Văn với tinh thần khẳng khái, cương trực và giàu lòng dũng cảm.

“Truyền kì mạn lục” được viết bằng tản văn xen lẫn biền văn và thơ ca, từ khúc, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả. Nội dung tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác giả lấy xưa để nói nay, lấy cái “kì” để nói cái “thực”. “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là một trong những truyện tiêu biểu trong tập “Truyền kì mạn lục” khẳng định tính dân tộc, tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu cho chính nghĩa thông qua việc xây dựng thành công nhân vật Ngô Tử Văn.

Mở đầu truyện, Nguyễn Dữ giới thiệu lai lịch Ngô Tử Văn với cách giới thiệu quen thuộc, truyền thống trong văn học cổ gồm tên, quê quán, tính tình: “Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng đất Lạng Giang. Chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được, vùng Bắc người ta vẫn khen là một người cương trực”. Cách giới thiệu trực tiếp, ngắn gọn tạo cho người đọc ấn tượng về Ngô Tử Văn – một trí thức khẳng khái, dũng cảm. Sự dũng cảm ấy thể hiện ngay ở việc đốt đền của chàng.

Sau khi đốt đền, mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, chỉ có chàng vẫn ngất ngưởng tự nhiên bởi chàng tin vào việc chính nghĩa mình làm. Ngô Tử Văn hiện lên là một trí thức cương trực, là hình ảnh của kẻ sĩ vì dân.

Sự cương trực của chàng càng được thể hiện rõ ràng qua cuộc đối thoại với hồn ma Bách hộ họ Thôi, qua cuộc đối chất ở Minh ti,… Sau khi đốt đền, Tử Văn bị hồn ma làm cho sốt rét. Sau đó khi gặp thì hồn ma mắng mó, đe dọa và quyết kiện chàng tại Phong đô. Trái ngược với sự tức giận của hồn ma, Tử Văn vẫn mặc kệ, ngồi ngất ngưởng tự nhiên.

Với bản tính rất kiên cường, chàng không sợ những lời đe dọa, chàng luôn tự tin vào việc mình làm là chính nghĩa. Bởi vậy, trong cuộc gặp gỡ với Thổ công, khi Thổ công nói sẽ giúp đỡ, cung cấp sự thật, chứng cớ thì Tử Văn càng quyết tâm làm việc nghĩa tới cùng.

Tử Văn bị bắt xuống Minh ti rùng rợn với những tên quỷ Dạ Xoa, đều mắt xanh tóc đỏ, hình dáng nanh ác, nhưng Tử Văn không hề sợ ma quỷ. Khi bị Diêm Vương buộc tội, Tử Văn kêu oán, sau đó chàng vạch mặt tên bại tướng bằng lời lẽ cứng cỏi: “Nếu nhà vua không tin lời tôi, xin tư giấy đến đền Tản Viên để hỏi, không đúng như thế, tôi xin chịu thêm tội nói càn”.

Trải qua một cuộc xung đột đầy đối chất, cuối cùng lòng nghĩa khí của Tử Văn đã thắng lợi vẻ vang. Qua cuộc đối chất ở âm phủ, Ngô Tử Văn hiện lên là một người ngay thẳng, là người tiêu biểu cho kẻ sĩ nước Nam: cương trực, dám đấu tranh vì lẽ phải tới cùng.

Đặc biệt, lời bình cuối chuyện của người viết càng tô đậm thêm vẻ đẹp của Ngô Tử Văn: “Người ta thường nói: Cứng thì gãy, kẻ sĩ lo không cứng mà thôi, còn gãy, không gãy là việc trời. Sao nên đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm? Ngô Tử Văn chỉ là một anh áo vải.

Với cốt truyện được kết cấu như một xung đột đầy kịch tính có mở đầu, có xung đột, có phát triển, có đỉnh điểm và có kết thúc, cách xây dựng nhân vật theo hai tuyến thiện và ác, kết hợp sử dụng các yếu tố kì ảo, truyện đã xây dựng thành công nhân vật Ngô Tử Văn cương trực, thẳng thắn, là hình ảnh của kẻ sĩ nước Việt bất khuất, chính trực. Thông qua nhân vật Ngô Tử Văn, Nguyễn Dữ khéo léo thể hiện niềm tin vào công lí, chính nghĩa thắng gian tà, thiện thắng ác.

Ngô Tử Văn là một nhân vật đại diện cho chính nghĩa, là kết tinh vẻ đẹp của kẻ sĩ cương trực, yêu nước, thương dân. Ta hiểu vì sao “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” nói riêng và “Truyền kì mạn lục” nói chung được xem là “thiên cổ kì bút” của cả dân tộc.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Các nhà văn, nhà thơ thời xưa khi sáng tác văn chương thường quan niệm “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”. Phải chăng cũng vì vậy mà hình tượng của người trí thức được yêu mến và nhắc đi nhắc lại trong nhiều tác phẩm lúc bấy giờ? Nguyễn Dữ cũng đã góp thêm nét vẽ chân dung người trí thức đương thời qua hình ảnh nhân vật Ngô Tử Văn trong “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” trích trong áng thiên cổ kì bút “Truyền kì mạn lục”.

Qua câu chuyện mang đậm yếu tố kì ảo này, chân dung Ngô Tử Văn khảng khái, cương trực quyết tâm chống lại cái xấu, cái ác mang những phẩm chất của một kẻ sĩ hiện lên thật rõ nét.

Ngô Tử Văn xuất hiện bằng những lời giới thiệu rất ngắn gọn và cụ thể về tên họ, quê quán, tính tình và phẩm chất. Đây là một lối giới thiệu rất đặc trưng của văn xuôi trung đại. Tác giả đã để cho nhân vật hiện lên qua những nét rất cơ bản nhưng đặc biệt trực tiếp giới thiệu được tính cách, phẩm chất của nhân vật để từ đó dẫn dắt đến những sự việc hoặc những tình tiết xảy ra trong câu chuyện “Chàng khảng khái, nóng nảy, thấy gian tà thì không thể chịu được”.

Đó không phải chỉ là những lời đánh giá chủ quan mà như một lời nhận xét rất khách quan “vùng Bắc người ta vẫn khen là một người cương trực. Tính cách ấy, Tử Văn vẫn giữ nguyên tới cuối tác phẩm và là tiền đề cho hành động quyết liệt của nhân vật sau này. Không vòng vo, nhân vật Tử Văn đã nhanh chóng đến với người đọc một cách vô cùng chân thực mang bóng hình của một bậc trí thức, nhà Nho cương trực.

Qua cuộc chiến đấu quyết liệt với tên Bách hộ họ Thôi, Ngô Tử Văn như “vàng đã qua thử lửa” sáng lên tinh thần dũng cảm, cương quyết trước gian tà, thực hiện đúng trách nhiệm của một người có học thức nhận biết được cái xấu, cái ác. Nghe tin ngôi đền trong làng bị yêu quái hị Thôi quấy nhiễu, với tính tình nóng nảy và bộc trực, không chịu đứng nhìn cái ác đang hoành hành, Tử Văn “rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền”.

“Đốt đền” đó là một hành động mà không phải ai cũng dám làm, bởi đền miếu là những nơi của tín ngưỡng, linh thiêng “mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, lo sợ thay cho Tử Văn”. Nếu chỉ thoáng qua thì chắc hẳn nhiều người sẽ nghĩ đây là một hành động bồng bột, thiếu suy nghĩ của một kẻ đang trong cơn nóng giận. Nhưng không, trước hành động đốt đền, Ngô Tử Văn đã tắm gội chay sạch, khấn trời đất công khai và đàng hoàng rồi mới châm lửa đốt.

Người trí thức này hiểu được sự linh thiêng của thần thánh, trời đất, cũng nhận biết được hành động mình đang làm nên đã tiến hành đầy đủ những nghi lễ chứ không phải là hành động làm càn của một kẻ vô học. Đó không phải là một sự liều lĩnh nữa, mà ở đây đã chứng tỏ bản lĩnh dám đương đầu với những khó khăn, thử thách để giành lại ngôi đền, giành lại cuộc sống bình yên cho dân làng của Ngô Tử Văn.

Chàng đốt đền bởi chàng bất bình, tức giận vì hồn ma viên bách Hộ đã chiếm giữ ngôi đền để tác oai tác quái trong nhân gian, tất cả là vì lợi ích chung của nhân dân chứ không bởi bất kì một lí do cá nhân nào của Tử Văn. Không phân biệt con người hay ma quỷ, lẽ công bằng đều được chàng thực thi. Chàng như ánh sáng của chính nghĩa không chỉ dũng cảm đẩy lùi gian tà mà còn đánh vào sự mê tín, mê hoặc làm cho con người ta trở nên yếu đuối, nhu nhược.

Phải chăng ý thức trách nhiệm cùng lương tâm của một kẻ sĩ đã không cho phép Tử Văn chỉ đứng nhìn ngay cả khi biết những hành động đó có thể làm cho chàng gặp nguy hiểm? Sự khẳng khái của chàng một lần nữa thể hiện qua thái độ coi thường tên tướng giặc với những lời lẽ hăm dọa của hắn. “Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên”. Chàng ung dung khi đối mặt với những nguy hiểm bởi chàng tự tin vào chính nghĩa mà mình đang nắm giữ, tin hành động của mình là hành động theo lẽ phải.

Sự tự tin của người trí thức một lần nữa chứng tỏ bản lĩnh phi phàm, cái cần thiết nhất để Tử Văn có thể bảo vệ chính nghĩa. Chính bởi theo chính nghĩa nên chàng đã được thần linh dang tay phù trợ giúp. Thổ Công đã giúp chàng hiểu rõ được bộ mặt xảo trá của kẻ thù, hiểu được trước mắt có biết bao khó khăn đang chờ chàng và mách kế để tiếp thêm động lực cho Tử Văn trong cuộc chiến tranh đầy cam go ấy.

Ngô Tử Văn đã bắt đầu bước đến những hồi căng thẳng nhất của trận chiến sinh tử ấy. Cuộc đấu tranh không hề đơn giản, nó khốc liệt và dai dẳng, nó không chỉ ở cõi trần, cõi người mà còn cả âm ti, địa phủ. Chàng bị quỷ bắt xuống địa ngục và sắp phải đối mặt với những hình phạt ghê rợn thế nhưng tinh thần khẳng khái ấy vẫn không hề bị lu mờ mà còn sáng lên hơn bao giờ hết.

Không chùn bước, chàng kêu to khẳng định: “Ngô Soạn là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian, có tội lỗi gì xin bảo cho, không nên bắt phải chết một cách oan uổng”. Vững lòng tin về nhân phẩm của mình, chàng đã dám nói lên, dám kêu oan và sau nữa là dám vạch trần bộ mặt của kẻ gian tà. Trước lời kết tội của Diêm Vương, Tử Văn đã cầu xin được phán xét minh bạch công khai không một chút nhún nhường.

Dù bị tên Bách hộ một mực vu oan giáng họa nhưng chàng không hề nao núng, sợ hãi làm cho lời lẽ và thái độ của tên tướng giặc kia trở nên xảo trá và khiến hắn tự lột chiếc mặt nạ xấu xa của chính mình. Chiếc mặt nạ của hắn rơi xuống cũng là lúc lá cờ chiến thắng của chính nghĩa giương lên mà chính Tử Văn là người cầm lá cờ ấy một cách kiêu hãnh. Đứng trước công đường, đối mặt với những khó khăn, khí phách của của đấng quân tử càng được thể hiện sáng rõ.

Những yếu tố kì ảo xuất hiện trong tác phẩm không chỉ tăng thêm sự hấp dẫn của tác phẩm mà còn vừa làm bật lên sự chính trực, bản lĩnh cứng cỏi nhân vật Ngô Tử Văn vừa tô đậm thêm chiến thắng của con người trước cái xấu và cái ác. Nhìn sâu hơn vào câu chuyện, dường như Nguyễn Dữ đang muốn gửi gắm ước nguyện về một anh hùng của chính nghĩa sẽ đứng lên bảo vệ cho đất nước, nhân dân như cách mà Tử Văn đã bảo vệ dân làng trước sự xâm chiếm của tên tướng giặc phương Bắc.

Phải yêu quý, và gắn bó với quê hương biết chừng nào, phải xót xa và đau đớn trước nỗi đau dân nước biết chừng nào, những hành động của Tử Văn mới quyết liệt và dữ dội đến thế! Đó là sự chiến đấu đến cùng, là sự tự tôn dân tộc, là sự quyết tâm sắt đá khó lòng lay chuyển. Chính bởi vậy, chiến thắng của Tử Văn lại càng có ý nghĩa hơn, nó sẽ khơi dậy tinh thần yêu nước, yêu công bình và sẵn sàng xả thân vì chính nghĩa của biết bao những trí thức lúc bấy giờ.

Cuộc chiến đấu không khoan nhượng của Ngô Tử Văn là một tấm gương phản chiếu nhân cách cao đẹp, bản lĩnh cứng cỏi, thái độ kiên quyết chống lại những thế lực đen tối của một kẻ sĩ. Lời bình kết thúc câu chuyện “Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi” cùng với hình tượng Ngô Tử Văn như một lời kêu gọi, một lời động viên, cổ vũ thôi thúc người trí thức hành động quyết liệt để công bằng, chính nghĩa sẽ tồn tại vĩnh hằng, vĩnh cửu ở mọi thời đại.

Giới thiệu đến bạn 🌟 Mở Bài Phân Tích Nhân Vật Ngô Tử Văn 🌟 20 Mẫu Hay

Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm, sống vào nửa đầu thế kỉ XVI, thời kì rối ren của lịch sử phong kiến nước ta. “Truyền kì mạn lục” do Nguyễn Dữ viết gồm hai mươi truyện bằng văn xuôi chữ Hán, kể chuyện dân gian, chuyện thật trong đời và một số truyền thuyết. “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên’ là một trong những truyện đặc sắc trong “Truyền kì mạn lục”. Truyện ca ngợi tính cương trực, lòng cương trực của nhân vật trung tâm Ngô Tử Văn, qua đó khẳng định niềm tin chính nghĩa thắng gian tà.

Ngô Tử Văn là nhân vật chính diện trong truyện. Chàng kẻ sĩ khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không chịu được. Chàng quyết định đốt đền thờ của hồn tên tướng giặc họ Thôi, tranh chiếm miếu đền của Thổ Công sở tại, làm yêu quái trong dân gian. Theo quan niệm của người xưa, đốt đền là việc động chạm đến “thần”, một quyền lực tối cao, mà đền là nơi chỉ thờ những thần có công lao giúp nước, hộ dân. Do đófvới lòng dân.

Việc làm của Ngô Tử Văn mang nhiều ý nghĩa, vừa thể hiện sự khảng khái, chính trực, dũng cảm muốn vì dân trừ hại. Hơn nữa, trước khi đốt đền, Tử Văn tắm gội sạch sẽ, khấn trời. Điều đó cho thấy tấm lòng thành khẩn của Tử Văn đối với trời đất. Như vậy, hành động đốt đền của Tử Văn xuất phát từ một ý thức rõ ràng, từ một con người cương trực, thấy sự gian tà thì không chịu được.

Đốt đền xong, Ngô Tử Văn phải ứng phó với bốn sự kiện thật căng thẳng, rùng rợn. Các sự kiện trên xảy ra trong thời gian rất nhanh, chỉ từ ngày hôm trước đến “nửa ngày” hôm sau. Với tính cương trực, ý tưởng “đức trọng quỷ thần kinh”, niềm tin chính nghĩa thắng gian tà, Ngô Tử Văn lần lượt gặp các nhân vật quỷ, thần và chủ động bày tỏ thái độ, giải quyết từng sự việc.

Với viên Bách hộ họ Thôi: Khi thấy một người khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ… tự xưng là cư sĩ đòi dựng trả ngôi đền, Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên. Với Thổ Công: Khi thấy một ông già, áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, tính tình khiêm tốn đến tỏ lời mừng, Tử Văn kinh ngạc: “Sao mà nhiều thần quá vậy ?”. Khi nghe Thổ Công kể lại sự tình, Tử Văn cặn kẽ hỏi: “Hắn có thực là tay hung hãn, có thể gieo vạ cho tôi không?”.

Với hai con quỷ và Diêm Vương: Đến vương phủ, không khí rùng rợn, mặc dù bị đe dọa, vu cáo (“tội sâu ác nặng, không được dự vào hàng khoan giảm”), mặc dù bị sỉ nhục (“tên này bướng bỉnh ngoan cố”), rồi bị Diêm Vương mắng và uy hiếp… nhưng Tử Văn vẫn khảng khái: “Ngô Soạn này là kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian”. Cuối cùng, tính cách cương trực, thẳng thắn, quyết liệt, đầy chính nghĩa của Tử Văn đã thắng gian tà.

Đoạn cuối truyện đã khẳng định người tốt được tôn vinh, kẻ xấu bị trừng phạt, về danh nghĩa, Tử Văn chết, nhưng thực chất chàng trở nên bất tử: làm thần. Người có tính cách cương trực như Tử Văn thật đáng được trọng dụng vào chức quan phán sự.

Bằng nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, bao phủ nhiều yếu tố siêu nhiên, giàu tính biểu tượng, “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” hấp dẫn người đọc qua những xung đột liên tiếp, giàu kịch tính. Truyện đề cao bản lĩnh của kẻ sĩ: cương trực, dũng cảm, quyết đoán trong hành động và quyết tâm chống những thế lực đen tối, gian tà.

Đặt trong hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, truyện thể hiện rõ ý nghĩa tích cực trong tư tưởng của tác giả. Tác phẩm thể hiện khát vọng về công lý, là bước ngoặt của truyện, tạo nên tính li kì, hấp dẫn. Mang ý nghĩa khuyên răn, giáo dục con người nên sống, hành động hợp lẽ phải, tránh làm điều ác.

Tiếp tục đón đọc 🌳 Phân Tích Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên 🌳 15 Mẫu Hay Và Đặc Sắc

Đến với “Truyền kì mạn lục” là đến với áng “thiên cổ tùy bút” của nền văn học Việt Nam. Trong ấy có truyện viết về “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là một trong những tùy bút xuất sắc nhất lúc bấy giờ. Trong chuyện, nhân vật Ngô Tử Văn hiện lên với những tính cách đẹp đẽ, đại diện cho chính nghĩa, cái chân lý của cuộc đời.

Nguyễn Dữ là một trong những tác giả tiêu biểu trong nền văn học Trung đại Việt Nam, tên tuổi của ông gắn với tập truyện “Truyền kỳ mạn lục” mà đặc biệt trong ấy là truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” với nhân vật Ngô Tử Văn – một trí thức nước Việt. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán theo kiểu văn xuôi truyền kỳ.

Tác phẩm tiêu biểu cho thể loại văn học phản ánh hiện thực sâu sắc qua những yếu tố kỳ ảo, hoang đường. Với hệ thống nhân vật phức tạp, sâu sắc bao gồm cả thế giới loài người hay ma quỷ. Tác phẩm ca ngợi tính cách dũng cảm, kiên cường dám chống lại cái ác đến cùng trừ hại cho dân của nhân vật Ngô Tử Văn. Tác phẩm được viết khi tác giả – Nguyễn Dữ đang trong khoảng thời gian cáo quan về ở ẩn, bộc lộ rõ quan điểm sống và tấm lòng của ông với cuộc đời.

Nhân vật chính được giới thiệu rõ ràng về lai lịch, gốc gác. Câu chuyện trong ấy thật tự nhiên, đơn giản, họ tên, những hình dung đầu về nhân vật chính. Nhân vật chính được giới thiệu là người có tính tình thẳng thắn, cương trực song vô cùng nóng nảy, thấy sự gian tà hay điều không phải thì không thể bỏ qua mà đi được.

Chàng là người gan dạ, dám đốt cháy đền thờ mà mọi người vẫn thường hay nhấn mạnh rằng đó là đền thiêng,.. Ngô Tử Văn đã chứng minh cái tính cách thẳng thắn, dám nghĩ, dám làm của mình, chàng cương quyết, công khai và tự tin vào năng lực, hành động của mình, chàng châm lửa đốt hủy ngôi đền ấy. Hành động cương quyết ấy như xác minh, khẳng định bản thân cũng như quan niệm, chính kiến của mình trước mọi tình huống.

Ngô Tử Văn còn là người có cái nhìn và sự đánh giá thấu đáo, chàng biết được sự việc hồn ma tên tướng giặc quen thói ý mạnh hiếp yếu, khi chết đi vẫn quen thói cướp nơi trú ngụ của thổ thần nước Việt, bày trò đút lót bắt người dân phải cống nạp các lễ vật. Ngô Tử Văn đã một tay thay mặt nhân dân đứng lên chống lại sự xâm lấn ấy.

Hành động đốt đền của Tử Văn là chính xác, song sau đó tên tướng giặc lại hiện hình, cho rằng mình là kẻ bị hại, dùng tà phép khiến cho Ngô Tử Văn bị sốt nóng, sốt rét, đầu lảo đảo. Hồn ma tướng giặc còn quyết kiện chàng tới tận Diêm Vương.

Trước hành động quá quắt của tướng giặc, Ngô Tử Văn vẫn hiên ngang, điềm tĩnh không hề có chút lo sợ thậm chí còn không mảy may trước lời tướng giặc. Thái độ ấy của Ngô Tử Văn khiến người đọc càng nể phục, thái độ ấy thể hiện tính cương trực, cứng cỏi đặc biệt là niềm tin chiến thắng cái ác, cái xấu trong cuộc sống.

Tính cách kiên định của chàng còn thể hiện rõ khi chàng bị lôi xuống địa phủ, bị lôi vào xử kiện nhưng không hề nhụt chí, không hề run sợ trước tướng giặc. Tử Văn bảo vệ cái đúng, bảo vệ chân lý đến cùng. Chàng yêu cầu phán xét công khai, minh bạch, công bằng, chàng đứng lên ung dung vạch tội tướng giặc vừa làm sai mà lại cho rằng mình là người bị oan. Khi đứng trước Diêm Vương, Tử Văn đã đưa ra những lý lẽ xác đáng, những chứng cứ rõ ràng, chàng bảo vệ lẽ phải mà bất chấp tính mạng của mình.

Trước những lời của tướng giặc, Tử Văn không bị run sợ mà ngẩng cao đầu chỉ ra từng tội trạng của tướng giặc. Tử Văn đã cương quyết đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chiến đấu đến cùng và dành được phần thắng trước hồn ma gian tà của tên tướng giặc, bảo toàn sự sống. Tử Văn là đại diện là tấm gương cao cho mọi người, chàng được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên, chịu trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ công lý.

Chiến thắng của Ngô Tử Văn trước tướng giặc là chiến thắng của cái thiện trước cái ác, đó là hiện thân cho chân lý cho công lý trong cuộc đời, chính nghĩa luôn là đúng đắn. Chiến thắng của Ngô Tử Văn đã có ý nghĩa vô cùng to lớn, chiến thắng đã trừng trị thích đáng hồn ma tướng giặc gian xảo, làm sáng lên được tinh thần và ý chí của con người, không bị khuất phục trước cái ác, không bị hòa tan mà biến mất những phẩm chất cao đẹp của con người.

Nguyễn Dữ đã rất thành công khi xây dựng nên nhân vật Ngô Tử Văn – là đại diện tiêu biểu cho chính nghĩa chống lại tà ác, gian xảo. Truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” đã tiêu biểu cho chuỗi truyện của Nguyễn Dữ, khẳng định niềm tin vào chính nghĩa luôn thắng gian tà. Truyện gây cho chúng ta bằng hàng loạt những hình ảnh và chi tiết kỳ ảo, giàu kịch tính, bằng cách kết cấu truyện, xây dựng hình tượng các nhân vật, Nguyễn Dữ đã cho người đọc một câu chuyện gần gũi, hấp dẫn người đọc.

Gợi ý cho bạn ☔ Mở Bài Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên ☔ 20 Mẫu Hay Nhất

Nhân vật Ngô Tử Văn trong tác phẩm “Chuyện chức người phán sự đền Tản Viên” của Nguyễn Dữ là người trung thực ngay thẳng đại diện cho cái thiện và công lý ở đời. Nguyễn Dữ là một nhà nho xuất thân trong một gia đình có truyền thống học thức. Những câu chuyện của ông đều nhằm tố cáo xã hội phong kiến mà ông đang sống. Đồng thời thể hiện cái nhìn nhân sinh quan của tác giả.

Nhân vật Ngô Tử Văn được tác giả Nguyễn Dữ xây dựng là người có tính cách trung thực, ngay thẳng, tính cách bộc trực thẳng thắn không sợ uy quyền, chức tước không sợ ma quỷ nha sai. Những hành động Ngô Tử Văn đều thể hiện sự khẳng khái của một người ngay thẳng không sợ trời không sợ đất.

Trước khi trong chiến tranh có một tên tướng giặc bị giết chết tại nước ta. Sau khi hắn chết biến thành ma thành quỷ đóng ở đền trên đất nước ta để hoành hành, tác quái với người dân hiền lành lương thiện. Ai cũng sợ hắn rồi tránh né không dám lại gần, nhưng Ngô Tử Văn thì ngược lại anh đàng hoàng đĩnh đạc tắm rửa sạch sẽ mặc quần áo gọn gàng ra đốt đền để cho tên quỷ tướng giặc không còn chỗ trú ẩn nữa.

Hành động của Ngô Tử Văn làm mọi người sợ hãi, ai cũng lo lắng cho tính mạng của anh nhưng Ngô Tử Văn không sợ gì cả bởi anh tin người tốt làm việc đúng không sợ những kẻ xấu xa gian ác. Hành động của Ngô Tử Văn là hành động của người ngay thẳng muốn tiêu diệt tận gốc cái xấu cái ác trong cuộc sống trừ hại cho người dân lao động, mang lại cho người dân một cuộc sống bình yên. Khi không còn đền nữa thì hồn ma tướng giặc không có chỗ ẩn nấp để quấy nhiễu dân lành.

Dù kẻ ác là hồn ma, là quỷ có nhiều phép biến hóa khiến cho những người dân thường phải hoảng sợ trước phép thuật của hắn nhưng Ngô Tử Văn không sợ, dù là thế giới thật hắn cũng bị Ngô Tử Văn giết chết, thì khi là mà hắn có biến hóa ra sao bản chất xảo quyệt thế nào cũng không làm Ngô Tử Văn nao núng.

Xuyên suốt tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” người đọc cảm nhận được rằng Ngô Tử Văn là người cương trực cứng cỏi, luôn đứng lên bênh vực công lý lẽ phải. Hồn ma của tên giặc chỉ là một kẻ ác, gian trá xảo quyệt mà thôi. Dù hắn có dùng thế lực quyền phép của mình làm cho Ngô Tử Văn bị ốm rồi bắt hồn chàng xuống dưới cửa Diêm Vương để cho Diêm Vương xử tội thì Ngô Tử Văn cũng không sợ.

Thái độ bình tĩnh của Ngô Tử Văn khi đi qua những quan sai, quỷ thần ở âm tào địa phủ khiến người đọc phải nể phục một con người ngay thẳng, kiên định với việc mình làm không sợ điều gì cả.

Ngay cả khi đứng trước mặt Diêm Vương hồn ma tướng giặc kết tội Ngô Tử Văn thì Ngô Tử Văn cũng không sợ chàng đã bảo vệ quan điểm của mình, vạch tội của hồn ma tướng giặc một cách chắc chắn, bằng chứng rõ ràng đanh thép, khiến Diêm Vương phải tha chết cho anh và sau đó, Ngô Tử Văn được đề cử làm chức phán sự đền Tản Viên lo giải quyết những vụ án kiện tụng của người dân.

Nhân vật Ngô Tử Văn luôn là người biết mình biết người, anh biết hành động của kẻ xâm lược sự bình yên của nước khác là sai. Khi hắn chết không chịu siêu thoát mà còn vương vấn thành ma quỷ quấy nhiễu cuộc sống bình yên của người dân. “Hắn có thực là tay hung hãn có thể giao vạ cho tôi không?” Với những bằng chứng đanh thép Ngô Tử Văn đã chứng minh được tội ác của tên tướng giặc khiến hắn phải thua trong bẽ bàng.

Ngô Tử Văn khi đứng trước kẻ thù luôn kiên cường không khoan nhượng, không sợ uy quyền, cũng không sợ chết nên anh không sợ những lời buộc tội của hồn ma tên tướng giặc. Hắn là một kẻ ác, một người sống từ khi hắn chưa chết cho tới lúc chất vấn là hồn ma xấu. Trước cái xấu cái ác trong cuộc sống tại sao chúng ta phải sợ, dù chúng có nhiều quyền phép và sức mạnh, dù chúng có nhiều thủ đoạn âm mưu bất chính thì chúng cũng luôn là những kẻ xấu, tại sao cái thiện lại phải sợ cái ác.

Nhờ tính cách ngay thẳng khẳng khái kiên định của Ngô Tử Văn nên chàng đã chiến thắng trên mọi trận địa dù là ở dương gian hay ở dưới âm tào địa phủ. Tình hình càng nguy hiểm thì tính cách kiên cường thẳng thắn của Ngô Tử Văn càng được phát huy.

Ngay cả khi bị quan sai quỷ thần lôi đi , đứng trước pháp luật của Âm Phủ Ngô Tử Văn càng tỏ rõ sự bình tĩnh khí phách của mình. Anh không sợ gì cả một người luôn ngay thẳng càng dũng cảm khi đối diện với cái chết của mình bởi anh không sợ, không làm gì sai mà phải hoảng sợ khúm núm trước quyền uy. Những điều Ngô Tử Văn làm đều vì cuộc sống bình yên của người dân của số đông.

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” của Nguyễn Dữ thể hiện bút pháp tả thực kết hợp với những chi tiết hoang tưởng kỳ ảo làm hấp dẫn người đọc. Truyện có nhiều kịch tính chi tiết hấp dẫn người đọc. Nguyễn Dữ đã xây dựng nhân vật Ngô Tử Văn vô cùng độc đáo, thể hiện cho cuộc chiến giữa cái thiện và ác trong đó cái thiện nhất định thắng cái ác.

Gửi tặng bạn 💕 Phân Tích Bình Ngô Đại Cáo 💕 18 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Mở đầu tác phẩm, Ngô Tử Văn được giới thiệu bằng những thông tin cụ thể chính xác về tên, quê quán, tính tình “Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang. Tính tình cương trực, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được.” Cách giới thiệu nhân vật như vậy tạo được cảm giác chân thật cho câu chuyện và tăng độ tin cậy cho tác phẩm.

Đồng thời cách mở đầu giới thiệu trực tiếp là một thủ pháp quen thuộc trong văn học trung đại, được tác giả sử dụng ở hầu hết các sáng tác trong Truyền kì mạn lục. Cách giới thiệu trực tiếp ngắn gọn ấy còn góp phần thu hút người đọc vào ngay nhân vật trung tâm của thiên truyện.

Tất cả mọi diễn biến, hành động, thái độ của nhân vật tiếp diễn ở phần nội dung tiếp theo đều sẽ minh họa cho tính cách cương trực này của Tử Văn. Chính vì tính cách cương trực này đã dẫn đến một hành động mang tính bước ngoặt dẫn đến toàn bộ diễn biến câu chuyện.

Ở làng Tử Văn sống trước có một ngôi đền linh ứng nhưng giờ đã thành ngôi đền có hồn của tên giặc xâm lược tử trận gần đó làm yêu quái trong dân gian. Đền là nơi thờ người có công với nước, với dân. Bách hộ họ Thôi là tên tướng giặc bại trận, đi cướp nước thì không đáng phải thờ.

Trước sự việc ngôi đền bị uế tạp và yêu quái có thể làm hại dân, “Tử Văn rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền”. Sự tức giận của Tử Văn không phải là sự tức giận cho riêng mình mà là sự tức giận cho mọi người dân đang bị yêu quái quấy nhiễu. Bởi lẽ đó mà việc làm của Tử Văn là đáng ca ngợi.

Quá trình đốt đền của Ngô Tử Văn chỉ được tác giả miêu tả trong một câu văn ngắn thể hiện được sự mạnh mẽ, quyết đoán của chàng. Trước khi đốt đền Ngô Tử Văn đã “tắm gội, khấn trời” điều này thể hiện thái độ tôn kính, nghiêm túc. Việc chàng đốt đền không phải là báng bổ hay xúc phạm thần linh mà nó xuất phát từ việc vị thần trong đền gây hại cho nhân dân.

Khi thấy Ngô Tử Văn châm lửa đốt đền thì “mọi người lắc đầu lè lưỡi” lo sợ thay cho chàng bởi chàng đã phạm vào đại kị. Nhưng trước sự lo sợ ấy của mọi người thì “Tử Văn vung tay không cần gì cả”. Thái độ dứt khoát, bất chấp hậu quả xấu cho bản thân. Và cũng là thái độ của một người tin vào việc mình làm tin vào chính nghĩa. Đây là hành động có ý thức chứ không phải một hành động nông nổi, bồng bột và càng không đáng trách vì hợp lòng dân. Ngô Tử Văn là một kẻ sĩ tính tình khẳng khái, cương trực, dũng cảm vì dân trừ hại.

Sau khi đốt đền, Ngô Tử Văn thấy đầu lảo đảo, “bụng run run”, rồi “nổi lên một cơn sốt nóng sốt rét”. Và trong giấc mơ, chàng đã gặp tên tướng giặc – Bách hộ họ Thôi và Thổ Công – vị thần đền. Qua hai cuộc đối thoại ấy, tác giả đã tô đậm thêm tính cách cương trực của Ngô Tử Văn.

Tên tướng giặc được tác giả miêu tả với những nét chấm phá về ngoại hình “đầu đội mũ trụ”, thân hình “khôi ngô” lớn và đặc biệt “quần áo và cách nói năng rất giống người phương Bắc” nhưng hắn lại tự xưng mình là “cư sĩ”. Sự bất nhất giữa ngoại hình và danh xưng ấy đã phần nào bộc lộ bản chất gian trá của tên tướng giặc. Mục đích hắn tìm đến Ngô Tử văn để đòi trả lại ngôi đền như cũ. Nhưng trước những lời đe dọa, sự viện dẫn đạo Nho, điển tích Lư Sơn Cố Thiệu, Ngô Tử Văn vẫn không hề nao núng “mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên”.

Có thể thấy đây là sự tự tin của một người nắm chính nghĩa trong tay. Sau đó không lâu, chàng lại gặp một vị thần khác “một ông già áo vải” với “phong độ nhàn nhã, thủng thỉnh”. Đó mới chính là vị chủ nhân thực sự của ngôi đền. Ông lão ấy chính là Thổ Công, bị tên hung thần đánh đuổi và những “đền miếu xung quanh vì tham của đút” mà lấp liếm cho tội ác khiến ông chỉ có thể ẩn nhẫn tại đền Tản Viên.

Thổ Công đến để tỏ lời mừng cho hành động của Ngô Tử Văn, vì cuối cùng cũng đã có người dám đứng lên vì chính nghĩa. Thổ Công đã kể lại rõ ràng đầu đuôi câu chuyện cho Ngô Tử Văn hiểu. Và thông báo cho chàng về việc tên tướng giặc đã kiện chàng ở âm phủ chỉ cho chàng cách đối phó tên tướng giặc gian ác. Ta thấy Thổ công là nạn nhân đang khiếp sợ, đã tô đậm sự bạo tàn của tên giặc. Thổ công là đồng minh sẽ giúp cho Tử văn trên con đường đi vạch trần cái ác.

Sau đó, “hai tên quỷ sứ đến bắt đi rất gấp, kéo ra ngoài thành về phía đông”. Lúc ở chốn âm cung, do chỉ nghe bên nguyên, Diêm Vương – vị quan tòa xử kiện – người cầm cán cân công lí, cũng đã có lúc tỏ ra mơ hồ. Khi đứng trước công đường Ngô Tử Văn càng tỏ ra mình là người có khí phách.

Khung cảnh âm phủ rùng rợn “gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương”, có đến hàng vạn “quỷ dạ xoa đều mắt xanh tóc đỏ, hình dáng nanh ác”. Khung cảnh ấy có thể khiến bất cứ người nào run sợ nhưng Ngô Tử Văn vẫn giữ được bình tĩnh. Chàng nhất mực kêu oan không để mình bị tùy tiện xét xử. Chàng không chỉ khẳng định: “Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian” mà còn dũng cảm vạch mặt tên bại tướng gian tà với lời lẽ “rất cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào”.

Cũng từ đó, Tử Văn được tiến cử làm chức phán sự – đảm nhiệm trọng trách giữ gìn công lý. Như Thổ công nói: “người ta sống ở đời, xưa nay ai chẳng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau” và khuyên Văn nên nhận. Thế là chàng vui vẻ nhận lời.

Việc được nhận chức ở đền Tản Viên đã nói lên thắng lợi của chàng trong cuộc đấu tranh với tên hung thần xảo quyệt. Sự thắng lợi này đã khẳng định chàng là người tốt, chính nghĩa, dám đấu tranh để thực hiện công lí. Con người của chính nghĩa đã được đứng ra để thực hiện công lý là một thắng lợi có ý nghĩa sâu sắc, khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà.

Nhân vật Ngô Tử Văn được khắc họa mang đậm ý nghĩa niềm tin về sự chiến thắng của cái thiện. Đặc biệt, điều đó được thể hiện rõ nét ở lời bình của tác giả. Cốt truyện của Nguyễn Dữ giàu kịch tính, kết cấu chặt chẽ và logic. Tác giả đã dẫn dắt chuyện vô cùng khéo léo, mở ra bằng một sự việc bất ngờ rồi dẫn dắt dần tới đỉnh điểm của kịch tính và giải quyết một cách hợp lí, thỏa đáng.

Người đọc đồng cảm được với thái độ và quan điểm của nhà văn, nhất là thái độ ngợi ca người trí thức, ngợi ca tinh thần dân tộc, quan niệm ác giả, ác báo. Điều đáng nói ở đây là cốt lõi hiện thực đã được lồng vào một cốt truyện kì ảo. Người đọc bị mê hoặc bởi bức màn kì ảo để rồi khi đọc hết, suy ngẫm về các nhân vật, tình tiết sẽ nhận ra giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

Ngô Tử Văn tuy là một kẻ sĩ nhưng lại làm được những điều cả thần và người chưa chắc làm được. Sự cứng cỏi, cương trực của Tử Văn đáng để ta ngưỡng mộ. Chính vì sự cương trực ấy đã góp phần thiết lập lại trật tự, giúp cho cán cân công lí được giữ vững. Nếu chỉ ngồi đó im lặng thì chỉ càng khiến cho “rễ ác mọc lan khó lòng lay động”, không phải là khó lòng lay động chỉ là lòng người chưa đủ kiên định để chống lại cái ác, cái xấu đến cùng.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Mở Bài Bình Ngô Đại Cáo 🌟 20 Đoạn Văn Mẫu Hay Nhất

Nguyễn Dữ là một nhà văn nổi tiếng vào khoảng thế kỉ XVI, ông đã đóng góp vào nền văn học Việt Nam tác phẩm để đời “Truyền kì mạn lục” bao gồm 20 truyện viết bằng chữ Hán theo thể tản văn xen lần biền văn và thơ ca. Bên cạnh “Chuyện người con gái Nam Xương” vốn rất nổi tiếng, tác phẩm được nhiều người đọc đón nhận cũng không kém chính là “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên.

Truyện xoay quanh nhân vật Ngô Tử Văn, là một người khảng khái, chính trực, dũng cảm, có tinh thần vì dân trừ hại. Thông qua câu chuyện này, tác giả muốn đề cao tinh thần trượng nghĩa, đồng thời cũng bày tỏ khát vọng về công lí, khuyên răn con người sống và hành động hợp với lẽ phải, không làm điều ác, bênh vực cái thiện.

Ngô Tử Văn là một kẻ sĩ nổi tiếng bởi sự khẳng khái, yêu thích chính nghĩa và luôn tỏ thái độ bất bình với những việc trái với đạo lí, lẽ phải. Chính bởi tính tình này mà Ngô Tử Văn không thể làm ngơ trước cảnh một tên tướng bại trận sau khi thành ma đã tác oai tác quái làm hại dân lành. Chàng quyết định đốt đền của hắn để thay dân trừ hại. Hành động của chàng được thổ công bênh vực và đã chỉ cách để trình bày sự việc với Diêm Vương. Sự việc sáng tỏ, Ngô Tử Văn sống lại và được phong chức làm chức phán sự đền Tản Viên, chuyên phán xử để đòi lại công bằng, sự thật cho người dân hiền lành vô tội.

Truyện được đưa vào một thế giới thần kì, huyền ảo, vừa là phong cách nghệ thuật của Nguyễn Dữ vừa khiến người đọc bị mê hoặc vào thế giới của truyện, từ đó suy ngẫm để rút ra giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm. Càng đi sâu vào phân tích nhân vật Ngô Tử Văn, người đọc sẽ càng thấy được niềm tin vào chính nghĩa, tinh thần tự tôn dân tộc, quyết đấu tranh chống lại cái ác đến cùng.

Nghệ thuật xây dựng cốt truyện hấp dẫn và miêu tả nhân vật của Nguyễn Dữ đã khiến người đọc có thể hình dung ra tính cách của nhân vật Ngô Tử Văn ngay ở những lời giới thiệu đầu tiên. Cách giới thiệu ngắn gọn về tên, họ, quê quan, tính cách đã là cho người đọc tin tưởng hơn về mức độ chân thật của câu chuyện.

Ngô Tử Văn tên Soạn, họ Ngô, người ở đất Lạng Giang, tinh cách khẳng khái, nóng nảy, cương trực, chuộng chính nghĩa và thấy chuyện bất bình thì không thể bỏ qua mà luôn ra tay cứu người hành đạo, không nề hà những thiệt thòi về bản thân.

Giọng điệu trong lời miêu tả của Nguyễn Dữ có tính ngợi ca, khiến người đọc có cái nhìn tin tưởng, trông đợi vào hành động của nhân vật trong suốt diễn biến của câu chuyện. Minh chứng cho hành động trượng nghĩa, tính tình cương trực, không sợ cái ác của Ngô Tử Văn được thể hiện ở cuộc đấu tranh với hồn ma tên tướng giặc nơi trần gian và nơi Minh ty khi diện kiến Diêm Vương.

Nhưng Ngô Tử Văn thì khắc, chàng quyết tâm đi đốt đền tên tướng để trừ hại cho dân. Hành động của chàng không phải là hành động bộc phát nhất thời mà là hành động được chuẩn bị rất kỹ càng, chứng tỏ sự quyết tâm của chàng. Ngô Tử Văn tắm rửa sạch sẽ, khấn trời để thể hiện lòng thành kính của mình. Hành động này chứng tỏ không phải chàng là người có hành động hỗn láo, đốt phá đền thờ của thánh thần mà là hành động chính nghĩa, cần sự chứng giám và trợ giúp của trời xanh để có thể thành công trừng trị tên hồn ma tướng giặc, mang lại cuộc sống bình yên cho dân.

Sau khi đốt đền, Ngô Tử Văn bị tên Bách hộ họ Thôi làm cho hôn mê, sốt, điều này chứng tỏ tính hợp lí của câu chuyện bởi người phàm thì không thể chống lại những thế lực tâm linh. Khi đối mặt với tên Bách hộ họ Thôi, hắn vốn là tên tướng bại trận của giặc Minh, lúc sống đã đi xâm lược nước khác, làm hại biết bao người dân vô tội, cho đến tận khi chết, hắn vẫn giữ nguyên bản chất của mình, hơn nữa còn hung bạo hơn khi dám đuổi cả thổ công và mua chuộc những thổ thần bên cạnh để có thể tự do tác oai, tác quái.

Không những tàn ác, hắn còn là một tên lừa lọc, gian xảo khi dám dùng những triết lí thánh hiền khi nói chuyện với Ngô Tử Văn. Hắn tự xưng với Ngô Tử Văn hắn là “Tản văn cư sĩ” tức là một người có học thức, lại còn dám lấy đạo lí ra để răn dạy Ngô Tử Văn, rằng hành động đốt đền thờ của chàng là vô cùng sai trái, trái với nghiệp nhà Nho, cũng trái với đạo trời, trái với cái đức.

Hắn buộc tội Ngô Tử Văn hành động đốt đền là hành động “khinh nhờn hủy tượng”. Với những lí lẽ tưởng chừng như vô cùng thuyết phục như vậy, dường như mọi tội lỗi đều do Ngô Tử Văn gây nên. Không những là một tên gian ác, xảo trá, hồn ma tên tướng giặc còn giả vờ nhân nghĩa, để cho Ngô Tử Văn một đường lui, lấy oai linh của quỷ thần để vừa hăm dọa, vừa mở đường ép Ngô Tử Văn phải làm: “Biết điều thì dựng trả ngôi đền như cũ. Nếu không thì vô cớ hủy đền Lư Sơn, Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ”

Tất cả những hành động hăm dọa của tên tướng không thể làm Ngô Tử Văn e sợ, chàng vẫn hoàn toàn tin vào lí tưởng của mình, vẫn “cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên”. Có thái độ như vậy là bởi Ngô Tử Văn đã nắm được chính nghĩa, là người theo lẽ phải nên chàng không cần sợ gì hết.

Khi nghe Thổ công kể lại câu chuyện, Ngô Tử Văn mới vỡ lẽ, có phút chốc chàng cũng cảm thấy e ngại vì dù sao chàng cũng chỉ là người trần mắt thịt, mà tên tướng giặc lại vô cùng hung hãn. Khi được nghe Thổ công mách nước, chàng đã biết cách để trình bày trước mặt Diêm vương. Cuộc tranh cãi khốc liệt xảy ra ở Minh Ty cũng là một minh chứng cho sự chính trực của Ngô Tử Văn.

Cuộc tranh cãi ở Âm phủ vô cùng khốc liệt và có nhiều yếu tố đe dọa, chống lại Ngô Tử Văn. Xét ở phương diện lí, tình thì chàng cũng đều là người yếu thế: Chàng là một người thường mà lại dám hành động đốt đền thờ thánh thần. Ngay từ khi bị áp giải vào Âm phủ, chàng đã bị sỉ vả, mắng đủ điều, thậm chí là bị vu cáo “tên này bướng bỉnh, ngoan cố”. Diêm Vương cũng có cái nhìn không tốt về Ngô Tử Văn, cho rằng chính chàng là người làm trái đạo nghĩa, dám có hành động hỗn láo.

Nhưng mối đe dọa lớn nhất của Ngô Tử Văn vẫn chính là “Người bị hại” tên Bách hộ họ Thôi. Hắn đã có mặt trước sân và đang đặt điều vu cáo. Nhưng chưa dừng lại ở đó, điều gian xảo của tên hồn ma tướng giặc còn thể hiện ở chỗ khi thấy Tử Văn cứng cỏi, hắn thấy vu vạ không được liền giả giọng nhân nghĩa: “Gã kia một kẻ học trò, thật là ngu bướng, quả đáng tội lắm.

Nhưng đã trách mắng như vậy, cũng đủ răn đe rồi. Xin Đại vương khoan dung tha cho hắn để tỏ cái đức rộng rãi. Chẳng cần đòi hỏi dây dưa, nếu thẳng tay trị tội nó, sợ hại đến cái đức hiếu sinh”.

Và hành động, thái độ của Tử Văn khi ở nơi Âm phủ càng thể hiện được sự khẳng khái, cương trực cũng như sự dũng cảm của bản thân. Chàng trình bày với Diêm Vương từ đầu đến cuối sự việc, giọng điệu đanh thép, lời lẽ cứng cỏi không chịu nhường chút nào. Và cái kết đúng như mong đợi của người đọc, tên bách hộ bị trừng trị thích đáng, còn Ngô Tử Văn được sống lại, còn được thăng chức làm chức phán sự, chuyên giải quyết chuyện trần gian để mang lại sự công bằng cho người dân lương thiện.

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên có nhiều ý nghĩa to lớn, vừa phản ánh hiện thực xã hội đầy rẫy những bất công, vừa thể hiện ước mơ, khát vọng của nhân dân về công lí, công bằng trong xã hội.

Mời bạn đón đọc 🌜 Kết Bài Bình Ngô Đại Cáo 🌜 20 Đoạn Văn Hay

Nguyễn Dữ là một nhà văn được biết đến với thành công ở thể loại truyền kỳ khi biên tập lại những chuyện kì ảo được lưu truyền trong dân gian. Đặc biệt, tác phẩm “Truyền kì mạn lục” ra đời trong nửa đầu thế kỉ XVI của ông đã được ca ngợi là “một thiên cổ tùy bút”. Trong đó, nổi bật là “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” với vẻ đẹp trong phẩm chất và tính cách của nhân vật Ngô Tử Văn.

Mở đầu câu chuyện, tác giả đã đưa người đọc đến với nhân vật qua cách miêu tả một cách trực tiếp. Ngô Tử Văn tên gọi là Soạn, người huyện Yên Dũng đất Lạng Giang. Chàng vốn có tính khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được. Khắp vùng Bắc thường khen Tử Văn là người cương trực. Qua lời giới thiệu trực tiếp ngắn gọn, người đọc phần nào cũng đã có những hiểu biết và nhận định cơ bản về tính cách nhân vật.

Theo mạch truyện kể, tác giả đã cho thấy ngay biểu hiện thể tính cách của con người Tử Văn khi có hành động đốt đền để giúp dân trừ bạo. Trong làng của chàng có một ngôi đền linh thiêng, rất được dân làng tôn kính. Tuy nhiên cuối đời nhà Hồ, quân Ngô tràn sang xâm lược, lấn cướp nên vùng ấy trở thành chiến trường.

Bộ tướng của Mộc Thanh có một viên Bách hộ họ Thôi, tử trận ở gần đền, cướp ngôi đền từ tay Thổ công và từ đấy tác oai tác quái trong dân gian khiến người dân trong vùng sợ hãi. Ngô Tử Văn thấy vậy tức quá. Một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi quyết định châm lửa đốt đền mặc cho mọi người khuyên can. Theo quan niệm tín ngưỡng dân gian, đốt đền là hành động bất kính, báng bổ thần linh.

Tuy nhiên, xét theo lý lẽ, ngôi đền vống chẳng những không mang lại an lành mà còn gây hại cho nhân dân. Do vậy hành động đốt đền của Tử Văn không hề sai trái mà đó là hành động thể hiện rõ một tinh thần khẳng khái, cương trực, vì dân trừ bạo với tinh thần dân tộc diệt trừ hồn ma tên giặc xâm lược.

Thêm vào đó, trước khi đốt đền chàng đã tắm gội sạch sẽ, khấn trời, cho thấy thái độ trang nghiêm, tôn trọng thần linh. Sau khi đốt đền, Ngô Tử Văn “vung tay không cần gì cả” cho nên đây không phải là suy nghĩ bồng bột, liều lĩnh nhất thời, cũng không phải vì danh lợi mà vì nghĩa vong thân.

Là một người quyết đoán nên sau khi đốt đền xong Ngô Tử Văn không suy nghĩ quá nhiều mà vẫn ung dung. Lúc bị hồn ma Bách hộ họ Thôi xưng là cư sĩ đến chửi mắng, dọa nạt đòi chàng dựng trả đền nhưng Tử Văn vẫn mặc kệ, ngồi ngất ngưởng điềm nhiên. Đó là thái độ tin tưởng vào chính nghĩa, tin tưởng vào những việc mình đã làm là hoàn toàn đúng đắn.

Sau đó thổ công là một ông già áo vải mũ đen phong độ nhàn nhã tính khiêm tốn xuất hiện khiến Ngô Tử Văn ngạc nhiên “sao nhiều thần quá vậy”. Khi nghe thổ công kể rõ sự tình thì chàng lại muốn kiện Diêm Vương vì chàng vẫn tin tưởng vào công lý và chính nghĩa.

Khi bị bắt xuống Minh ti vì hồn ma tướng giặc kiện Diêm Vương việc Ngô Tử Văn đốt đền nhưng với tính cách cương trực nên Tử Văn không hề sợ hãi. Tướng giặc đã giả mạo thổ thần, làm hại dân còn các thần ở những đền miếu lân cận ăn của đút nên bao che cho kẻ ác, các phán quan Diêm Vương chưa làm hết trách nhiệm, không theo sát thực tế nên hắn có thể qua mắt được Diêm Vương. Diêm Vương thấy đó mà quát nạt Tử Văn và bênh vực tên tướng giặc.

Dù vậy nhưng Tử Văn không hề run sợ mà vẫn cứng cỏi, bình tĩnh minh oan cho mình. Khi tên tướng giặc đổi giọng nhân nghĩa nhờ Diêm vương cử người đến đền Tản Viên lấy chứng cứ thì Tử Văn đã nhanh trí yêu cầu đính thân Diêm Vương đến đền để xác minh. Sau khi đã làm rõ mọi việc thì hồn ma tên tướng họ Thôi bị giam nhốt vào ngục Cửu U, Diêm Vương đã mắng trừng phạt các quan đã bao che, thiếu trách nhiệm và ban thưởng cho Tử Văn. Cuối cùng công lý đã chiến thắng cái gian ác.

Chính hành động trượng nghĩa ấy không chỉ giúp Tử Văn minh oan mà còn được sống trở lại, ban thưởng xôi lợn và ban cho chức phán sự đền Tản Viên. Phán sự là chức quan xét xử các vụ kiện tụng, giúp tìm ra và thực thi công lý. Đây là chức quan mà Ngô Tử Văn xứng đáng được nhận vì chàng là người dám đứng ra bảo vệ công lí, chính nghĩa đến cùng.

Sự chiến thắng và được ban chức quan của Tử Văn là phần thưởng hoàn toàn xứng đáng, khẳng định chân lý, lẽ phải sẽ luôn chiến thắng tà ác và thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Công bằng, hạnh phúc chỉ đến khi con người cương trực biết đứng lên đấu tranh với cái xấu, cái ác và sự tà gian.

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” có nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, giàu kịch tính kết hợp yếu tố kì ảo cùng nghệ thuật tương phản xuyên suốt và cách xây dựng nhân vật sáng tạo. Qua hình tượng Ngô Tử Văn, tác giả ca ngợi chính nghĩa, tinh thần quyết liệt chống lại tà gian. Đồng thời cũng ngụ ý phê phán hiện thực xã hội đương thời của Nguyễn Dữ và đúc kết bài học nhân sinh cùng niềm tin vào lẽ phải, tin vào điều đúng đắn.

Tác phẩm đã để lại trong lòng người đọc bài học sâu sắc về lòng tin vào lẽ phải vào chính nghĩa và có tinh thần đứng lên đấu tranh để tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn.

Tham khảo trọn bộ 🌹 Phân Tích Luận Đề Chính Nghĩa Bình Ngô Đại Cáo 🌹 6 Mẫu Hay Và Đặc Sắc Nhất

Ngay từ đầu truyện tác giả đã giới thiệu Ngô Tử Văn là người khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà không chịu được. Cách mở đầu trực tiếp ngắn gọn theo phương pháp truyền thống của văn học trung đại, chưa thoát khỏi lối kể dân gian, gây sự chú ý cho người đọc. Ngô Tử Văn đốt đền là do đền là nơi thờ người có công với nước, với dân. Nhưng tại ngôi đền này lại thờ tên tướng cướp nước mình, hắn là tên tướng họ Thôi bại trận.

Phẫn nộ trước những việc làm tác oai, tác quái, bắt nạt nhân gian hiền lành lành của tên bách hộ họ Thôi nên đã quyết định đốt đền. Chuẩn bị đốt đền Ngô Tử Văn tắm rửa sạch sẽ, khấn trời thể thiện thái độ tôn kính, nghiêm túc.

Khi châm lửa đốt đền mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, nhưng Tử Văn vẫn một mực đốt đền, chàng đã nghĩ đến những hậu quả mình phải gánh chịu, nhưng chàng sẵn sàng hành động. Như dự tính , chàng bị bắt xuống gặp Diêm Vương, nhưng đây là một hành động có ý thức của Tử Văn, chàng chủ động trong việc này. Cho thấy chàng là một kẻ sĩ tính tình khẳng khái, cương trực, dũng cảm vì dân trừ hại. Có tinh thần dân tộc mạnh mẽ.

Khi xuống dưới âm ty gặp Diêm Vương, Tử Văn luôn giữ thái độ một mực kêu oan chứng tỏ chàng không hề nhụt chí, hay run rẩy, khiếp sợ trước cảnh địa ngục, ma quỷ xung quanh. Chàng quyết đấu cho lẽ phải, công bằng, tin rắng công lý sẽ chiến thắng mọi sự gian ác. Không phụ tinh thần quyết liệt và đúng đắn của Ngô Tử Văn, chàng đã thắng kiện.

Điều này chứng tỏ cái thiện, sực chính nghĩa sẽ chiến thắng cái gia tà hiểm ác. Tên họ Thôi bị xử phạt thích đáng, dân gian quay lại lúc yên bình, thổ công nhận lại tiền. Bằng chính nghĩa và sự dũng cảm, cương trực đấu tranh vì chính nghĩa cuối cùng Ngô Tư Văn đã chiến thắng được cái gian tà, trở thành người lo cuộc sống an yên cho nhân gian.

Qua việc tìm hiều về nhân vật Ngô Tử Văn, người sĩ tử đã giải trừ được tai họa, đem lại an lành cho nhân dân. Diệt trừ tận gốc thế lực xâm lược tàn án, làm sáng tỏ nỗi oan khuất và phục hồi danh dự cho Thổ thần nước Việt. Niền tin vào công lý cái thiện chiến thắng cái ác được nâng lên, và chắc chắn chính nghĩa sẽ luôn chiến thắng gian tà.

Đón đọc tuyển tập 🌹 Phân Tích Bạch Đằng Giang Phú 🌹 15 Bài Văn Hay Nhất

Bài văn mẫu phân tích Ngô Tử Văn lớp 10 sẽ là nội dung tham khảo cần thiết hỗ trợ các em học sinh trong quá trình làm bài.

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một trong những truyện hay, tiêu biểu nhất trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Nổi bật nhất trong tác phẩm là kẻ sĩ cương trực thẳng thắn Ngô Tử Văn, nhân vật đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc, đồng thời tác giả cũng gửi gắm những tư tưởng, quan điểm về xã hội con người qua nhân vật này.

Nhân vật Ngô Tử Văn là hình tượng kẻ sĩ tiêu biểu của văn học trung đại, cương trực, khẳng khái. Khác với những câu chuyện trong Truyền kì mạn lục giới thiệu về nguồn gốc xuân thân nhân vật, hành trình số phận nhân vật từ đầu đến cuối (Vũ Nương) thì trong tác phẩm này chỉ chọn một thời điểm, một lát cắt có ý nghĩa nổi bật nhất để bộc lộ đầy đủ tính cách nhân vật. Truyện có kết cấu như một màn kịch ngắn, qua màn kịch này toàn bộ tính cách, phẩm chất của nhân vật được phô bày.

Mở đầu tác phẩm, tác giả giới thiệu Tử Văn vốn là người “khẳng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được…” và toàn bộ câu chuyện phía sau là để chứng minh cho nhận định ban đầu ấy. Tính cách cương trực, thẳng thắn, ghét gian tà được bộc lộ trực tiếp qua ngôn ngữ, hành động nhân vật.

Trước hết là hành động Tử Văn đốt đền của tên tướng giặc họ Thôi. Vào cuối đời Hồ có tên tướng giặc Bách hộ họ Thôi, tên này tử trận gần miếu thổ thần nên đã cướp đền của Thổ công để trú ngụ. Khi ở đền hắn chẳng những không phù hộ cho nhân dân mà còn tác oai tác quái trong nhân gian. Thấy sự gian tà Tử Văn vô cùng tức giận: “Tử Văn rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, rồi châm lửa đốt đền”.

Hành động đó cho thấy sự dũng cảm của Tử Văn, trong khi tất cả mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, sợ hãi thì Tử Văn đã có hành động vô cùng quyết liệt, trừ hại cho nhân dân. Sau khi đốt đền, chàng “vung tay không cần gì cả”, Tử Văn đã quyết đấu, quyết sống mái một phen với kẻ gian tà. Hơn nữa hành động của chàng không phải là hành động bột phát mà đã có sự suy nghĩ và chuẩn bị từ trước: tắm gội, khấn trời rồi mới thực hiện hành động đốt đền của mình.

Tuyên chiến với kẻ thù có sức mạnh lại vô cùng hiểm ác, nhưng Tử Văn không hề sợ hãi. Trước những lời buộc tội của hồn ma bằng đạo lý nho gia, hay hăm dọa: “biết điều thì dựng trả ngôi đền như cũ. Nếu không thì, vô cớ hủy đền Lư Sơn, Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ”, Tử Văn vẫn tin vào sức mạnh chính nghĩa, công lý “ngồi ngất ngưởng tự nhiên”.

Ngô Tử Văn vô cùng dũng cảm, tự tin. Thái độ ung dung, thản nhiên, coi thường lời buộc tội và đe dọa, đó không phải hành động của kẻ bất cần, không sợ sống chết mà là hành động tự tin của người nắm được chính nghĩa. Câu hỏi trước vị thổ thần “Liệu hắn có thực là tay hung hãn, có thể gieo vạ cho tôi không?” cho thấy Tử Văn muốn biết rõ thế ta địch để có những đối phó hợp lí.

Trước những lời dọa dẫm Tử Văn vẫn nhất quyết không nghe lời hắn xây lại đền, đêm hôm ấy Tử Văn bệnh càng thêm nặng và có hai tên quỷ sứ đến bắt đi xuống âm ty. Đến đây cuộc chiến đấu càng trở nên gay go, quyết liệt hơn. Diêm Vương chỉ nghe từ một phía. Trước tình thế bị áp đảo, Tử Văn càng tỏ ra bình tĩnh và bản lĩnh hơn, chàng tâu trình đầu đuôi sự việc, lời lẽ vô cùng cứng cỏi, không hề có chút nhún nhường.

Sở dĩ Tử Văn có được sự bản lĩnh ấy cũng là bởi một phần nhận được sự trợ giúp từ vị thổ thần đất Việt: “Rễ ác mọc lan, khó lòng lay động. Tôi đã định thưa kiện, nhưng mà có nhiều nỗi trăn trở: Những đền miếu gần quanh, vì tham của đút, đều bênh vực cho nó cả”. Dù chỉ là yếu tố phù trợ, nhưng nhờ có nó mà Tử Văn có thêm tự tin. Nhưng cũng cần khẳng định rằng sự bản lĩnh của Ngô Tử Văn vẫn chủ yếu là ở bản tính vốn dũng cảm của chàng và xuất phát từ khát vọng cao cả muốn được thực thi công lý, đem lại bình yên cho nhân dân.

Phần thắng đã thuộc về Tử Văn, thuộc về người cương trực, nghĩa khí, kẻ có tội – tên Bách hộ họ Thôi đã bị trừng trị thích đáng. Ngô Tử Văn được đền bù xứng đáng, Diêm Vương sai lính đưa về cõi dưỡng thể, xét Tử Văn đã có công trừ hại giúp dân nên được chia một nửa xôi lợn do dân cúng tế với vị Thổ thần. Hơn nữa Tử Văn còn được Thổ thần tiến cử giữ chứng phán sự đền Tản Viên. Qua kết thúc có hậu này, tác giả Nguyễn Dữ muốn đề cao triết lí ở hiền gặp lành của nhân dân ta.

Xây dựng nhân vật Ngô Tử Văn tác giả chủ yếu phác họa tính cách nhân vật qua hệ thống ngôn ngữ và hành động, không chú trọng miêu tả tâm lí nhân vật. Đặt nhân vật vào lát cắt, tình huống có vấn đề để từ đó làm nổi bật những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật. Ngoài ra, cũng cần kể đến những yếu tố li kì giúp hoàn thiện vẻ đẹp phẩm chất nhân vật và giúp truyện phát triển hợp lý.

Qua nhân vật Ngô Tử Văn nói riêng và tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên nói chung, Nguyễn Dữ đã đề cao vẻ đẹp kẻ sĩ cương trực, sẵn sàng đứng lên tiêu diệt cái xấu, cái ác. Đồng thời cũng thể hiện triết lí ở hiền gặp lành của dân tộc ta. Tác phẩm còn thể hiện tài năng nghệ thuật xây dựng truyện đặc sắc của Nguyễn Dữ.

SCR.VN chia sẻ 🌹 Phân Tích Nhân Vật Khách Trong Phú Sông Bạch Đằng 🌹 15 Mẫu Đặc Sắc

Trong văn học trung đại, thế kỷ 15 chúng ta tìm hiểu nhiều về tác giả Nguyễn Trãi như là một tác giả tiêu biểu và xuất sắc nhất, thì đến thế kỷ 16, ta lại có cơ hội tìm hiểu về hai tác giả tiêu biểu khác đó là tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và tác gỉa Nguyễn Dữ. Nguyễn Dữ được xem là người đầu tiên đã đem thuật ngữ “truyền kỳ” vào văn học trung đại Việt Nam, dù sau đó có nhiều tác giả cũng sáng tác về đề tài này, nhưng có thể khẳng định rằng ông chính là tác giả xuất sắc nhất ở thể loại truyền kỳ.

Tập Truyền kỳ mạn lục được đánh giá là thiên cổ kỳ bút, được đánh giá là mẫu mực của thể loại truyền kỳ, một trong số 20 truyện đó là truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, với nhân vật chính là chàng Ngô Tử Văn.

Nguyễn Dữ sống vào khoảng thế kỷ XVI, quê ở xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng, từng là một trong những học trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từng đi thi và đỗ hương tiến (cử nhân), ra làm quan trong một thời gian rất ngắn, rồi từ quan về ở ẩn. Về sự nghiệp sáng tác, ông để lại tập truyện Truyền kỳ mạn lục.

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một trong 20 truyện ngắn nằm trong tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Truyền kỳ mạn lục là tập truyện gồm 20 truyện ngắn ra đời vào đầu thế kỷ XVI, nội dung xoay quanh việc vạch trần phê phán những tệ trạng của xã hội phong kiến đương thời, thể hiện sự đồng cảm thương xót với những số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội, trước những bi kịch tình yêu mà thiệt thòi thường rơi vào người phụ nữ.

Đồng thời cũng thể hiện tinh thần dân tộc, tự hào về nhân tài văn hóa nước Việt, đề cao đạo đức nhân hậu thủy chung và quan niệm sống lánh đục về trong của lớp trí thức đương thời. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là cuộc đấu tranh giữa chính nghĩa và gian tà, trong đó nhân vật Ngô Tử Văn nổi lên với tính cách cương trực, dũng cảm, không sợ cường quyền cái ác, sẵn sàng đấu tranh vì công lý và lẽ phải.

Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, nhân vật Ngô Tử Văn xuất hiện gián tiếp ở phần mở đầu của câu chuyện, thông qua lời giới thiệu của tác giả, và qua lời nhận xét của những người sống cùng thời, “Chàng vốn khảng khái nóng nảy thấy sự gian tà thì không thể chịu được, vùng Bắc người ta vẫn khen là người cương trực”, như vậy ngay từ ban đầu, Ngô Tử Văn đã có màn xuất hiện rất ấn tượng.

Sau đó, nhân vật này mới xuất hiện một cách trực tiếp thông qua ngôn ngữ, cử chỉ và hành động giống như là minh chứng cho lời giới thiệu và nhận xét khách quan ở trên.

Đầu tiên, thông qua sự kiện Ngô Tử Văn đốt đền của tên tướng giặc. Cuối đời nhà Hồ có tên Bách Hộ họ Thôi của nhà Minh đã tử trận ở gần đền thờ của vị Thổ công, hắn đã cướp ngôi đền và tác oai tác quái trong dân gian gây nhũng nhiễu và phiền phức cho nhân dân. Thế nên, Tử Văn đã châm lửa đốt ngôi đền. Từ đó có thể thấy Tử Văn là một con người rất dũng cảm, trong khi mọi người đều lắc đầu, lè lưỡi lo sợ cho chàng thì chàng vẫn vung tay, không cần gì cả, khẳng định đó là việc nghĩa không thể không làm.

Nhiều nhận xét cho rằng Tử Văn là người hung hăng liều lĩnh nhất thời, bởi vì để đi đến hành động trên, Tử Văn đã có sự chuẩn bị kỹ càng (tắm rửa, khấn trời). Điều đó chứng minh chàng rất tin tưởng vào hành động của mình, đồng thời cũng tin tưởng vào sự giúp đỡ của thần linh. Hành động đốt đền Tử Văn có thể xem là hành động thay trời hành đạo, là sự trừng phạt, đối đầu, đối với kẻ thủ ác.

Sau khi đốt đền, Tử Văn đã có cuộc gặp gỡ với tên hung thần, chàng bị lên cơn sốt nóng, sốt rét, rồi thấy hồn ma tên tướng giặc giả danh là cư sĩ tìm đến, dùng nguyên lý đạo Nho để buộc tội chàng và đe dọa bắt chàng phải dựng lại ngôi đền, nhưng Tử Văn vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên, bơ tên tướng giặc khiến hắn tức giận bỏ đi.

Đây không phải là sự bất cần của kẻ liều lĩnh mà là thái độ tự tin của người nắm chắc trong tay sức mạnh chính nghĩa. Câu hỏi trước vị Thổ thần “Liệu hắn có thực là tay hung hãn có thể gieo vạ cho tôi không?” không phải là biểu hiện của sự hoang mang sợ hãi mà là sự mưu trí muốn tìm hiểu về kẻ thù của mình, để tìm cách ứng phó, có câu “Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng” là thế.

Qủa thật, Tử Văn đã bị tên hung thần làm hại, chàng bị hai tên quỷ sứ đưa đi xuống cõi âm ti rất nhanh, dù gặp rất nhiều cảnh rùng rợn trên đường “…gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương. Hai bên cầu có đến mấy vạn quỷ Dạ Xoa đều mắt xanh tóc đỏ, hình dáng nanh ác”. Nhưng Tử Văn vẫn không hề hoang mang, can đảm mà kêu to đòi được xử án cho công bằng. Khi Diêm Vương cho giải vào, Diêm Vương đó dùng uy lực của kẻ bề trên để quát mắng định tội cho Tử Văn.

Tử Văn vẫn tâu trình đầu đuôi những lời Thổ thần đã nói với một lời lẽ cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào. Sở dĩ Tử Văn có sự bình tĩnh, cứng cỏi như thế là nhờ có sự tiếp sức của vị Thổ thần nước Việt, nhưng đây cũng chỉ là thứ yếu, bởi vì chính vị Thổ thần cũng phải nương tựa ở đền Tản Viên và phải “ẩn nhẫn ngồi xó một nơi” đã vài năm. Quan trọng nhất vẫn là dựa vào sự dũng cảm từ trong bản tính của Tử Văn và khát vọng muốn thực thi công lý, những điều đó biến thành quyết tâm từng bước vạch mặt kẻ ác để đòi lại công bằng.

Sau nhiều lần đấu tranh, Tử Văn đã diệt trừ tận gốc cái ác và mang lại an lành cho nhân dân nhờ việc khiến các phán quan bị Diêm Vương mắng mỏ kết tội. Đặc biệt là tên hung thần bị đày xuống ngục Cửu U. Qua chiến thắng ấy, tác giả đã thể hiện hiện niềm tin của nhân dân ta vào chân lý chính nghĩa nhất định thắng gian tà, gieo gió ắt sẽ gặp bão.

Tử Văn cũng diệt trừ tận gốc thế lực xâm lược tàn bạo – đó là tên tướng giặc họ Thôi, khi còn sống thì đi cướp nước, khi chết thì lại xâm chiếm đền miếu và lộng hành tác quái, nhũng nhiễu nhân dân ta. Qua đây, tác giả đã thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc. Bản thân Tử Văn cũng nhận được những đền bù xứng đáng, được trở về cõi dương thế, xét Tử Văn có công trừ hại nên đã được chia một nửa xôi, thịt cúng viếng với vị Thổ thần, chàng còn được Thổ thần tiến cử cho làm chức phán sự đền Tản Viên.

Ngô Tử Văn chính là hiện thân của công lý, của sức mạnh chính nghĩa, vì dân trừ hại, không sợ cường quyền, luôn sống hướng tới chữ “thiện”, là một nhân vật tiêu biểu trong văn học dân gian Việt Nam với nhiều đức tính tốt đẹp, đúng với khao khát của nhân dân. Qua câu chuyện trên, Nguyễn Dữ đã khẳng định đạo lý ở hiền sẽ gặp lành, gieo nhân nào gặp quả đấy; khơi gợi niềm tin đối với người đọc về những điều tốt đẹp ở cuộc sống.

Đón đọc tuyển tập 💧 Phân Tích Nhân Vật Bô Lão Phú Sông Bạch Đằng 💧 5 Mẫu Đặc Sắc.

“Truyền kì mạn lục” được xem là một áng “thiên cổ kỳ bút”, thông qua đó ta có thể hiểu một phần nào về nhân sinh quan cũng như thái độ sống của Nguyễn Dữ. Một trong những truyện được biết đến nhiều nhất là Chuyện chức phán sự đền Tản Viên lấy nhân vật Ngô Tử Văn làm trung tâm, với những đức tính tốt đẹp, dũng cảm, chính trực và thông minh không sợ cường quyền sợ cái ác.

Ở đầu câu chuyện, nhân vật Ngô Tử Văn xuất hiện thông qua lời kể và lời nhận xét của những người cùng thời, thấy được rằng chàng tuy là người nóng nảy, nhưng tính tình khảng khái, nên được nhiều người yêu quý kính trọng dành khen hai từ “cương trực”, danh tiếng tốt.

Lần tiếp theo hình ảnh Ngô Tử Văn và tính tình của chàng lại được bộc lộ trực tiếp qua những hành động của chàng, vốn căm ghét cái ác quấy nhiễu dân thường Ngô Tử Văn đã lên kế hoạch đốt ngôi đền nơi có tên Bách hộ họ Thôi chết trận, chiếm giữ để tác oai tác quái. Tử Văn là người đã quyết thì làm cho được, chứ chẳng e dè những lời căn ngăn, cũng để tâm đến thái độ “lắc đầu lè lưỡi, lo sợ” của những người vì lo lắng cho anh mà ra sức khuyên ngăn.

Sau sự việc đốt đền, Tử Văn đã lập tức gặp tai họa “thấy trong mình khó chịu, đầu lảo đảo, bụng run run rồi cả người nổi lên một cơn sốt nóng sốt rét”, tên tướng giặc bị mất nơi cư trú đã giả vờ làm cư sĩ đến báo mộng, uy hiếp bắt chàng phải dựng lại đền nếu không sẽ phải gặp tai vạ, và tình trạng hiện tại của Tử Văn chính là lời cảnh cáo.

Tuy nhiên vốn gan dạ, dũng cảm, lại thấy việc mình làm là chính nghĩa, không phải sợ, chàng vẫn giữ một phong thái ung dung, bình tĩnh, không hề sợ những lời đe dọa của tên tướng giặc “mặc kệ, vẫn ngồi ngất ngưởng tự nhiên”. Đó là phong thái của bậc anh hùng, hồn ma kia tuy đến đe dọa nhưng lại cũng phải tức giận mà bỏ đi, bởi vốn dĩ Tử Văn kinh thường, có thèm sợ hắn đâu.

Nóng tính, hành động nhanh gọn nhưng Tử Văn cũng thực là người biết nghĩ trước nghĩ sau, khi gặp được thổ thần, chàng đã hỏi han về tên tướng giặc hòng có sự chuẩn bị nếu có gặp bất trắc: “Liệu hắn có thực là tay hung hãn có thể gieo vạ cho tôi không?”. Điều đó không có nghĩa là Tử Văn đã bắt đầu lo lắng mà chỉ là sự trù bị “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng” như lời cổ nhân vẫn dạy bảo, ắt chẳng bao giờ sai lệch.

Quả thật tên tướng giặc đã ám hại, khiến Tử Văn phải xuống chốn âm tào địa ngục để trình diện với Diêm Vương, thế nhưng đã dám đốt đền của ma quỷ thì sao Tử Văn còn sợ hãi gì nữa. Gặp cảnh hãi hùng, tanh tưởi chốn âm ti “…gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương. Hai bên cầu có đến mấy vạn quỷ Dạ Xoa đều mắt xanh tóc đỏ, hình dáng nanh ác”, chàng chẳng những không sợ sệt khúm núm núm mà còn hô to để minh oan cho bản thân:

“Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian, có tội lỗi gì xin bảo cho, không nên bắt phải chết một cách oan uổng”. Trình diện với Diêm Vương, dẫu bị quát mắng, định tội trách phạt, lời như sấm bên tai, nhưng Tử Văn vẫn kiên quyết tâu trình một cách thật rõ ràng, bởi trong tâm chàng đã có một niềm tin về công lý lẽ phải, lại cũng nắm bắt được cớ sự mà vị Thổ Thần giãi bày cho. Chí khí của bậc anh hùng, lòng can đảm, tinh thần chính nghĩa của Tử Văn thật khiến cho người đời nể phục, chẳng trách được tiếng thơm “cương trực”.

Trước sự khẳng khái, kiên định của Ngô Tử Văn, Diêm Vương cũng bị lay động, có ý nghi ngờ tên tướng giặc, bèn cho tra xét, chứng thực được những điều Tử Văn nói đều là sự thật, không gian dối nửa lời. Diêm Vương tức giận trách cứ đám quần thần, lại cho người đày tên tướng giặc kia xuống tận ngục Cửu U chịu tội. Chiến thắng của Ngô Tử Văn chính là hiện thân của niềm tin vào công lý, chính nghĩa của nhân dân ta, cũng như của tác giả Nguyễn Dữ, với quan niệm cái thiện luôn luôn chiến thắng cái gian tà ác độc.

Tên tướng giặc họ Thôi vốn là quân xâm lược, sống đã gây họa cho nhân dân ta, khi chết đi cũng lại giở thói nhũng nhiễu, kẻ như thế đày xuống ngục Cửu U là sự trừng phạt vô cùng thích đáng. Còn Ngô Tử Văn, dù sống hay chết chàng cũng là người chính trực, luôn bảo vệ lẽ phải bằng mọi giá, không sợ hãi cường quyền, thế nên xứng đáng được hưởng nửa phần xôi thịt với Thổ Thần, sau lại được chức phán sự đền Tản Viên, tạo phúc cho muôn dân. Đó là lẽ công bằng ở đời, cũng là quan niệm của Nguyễn Dữ.

Nhân vật Ngô Tử Văn là một nhân vật tiêu biểu của trường phái hướng thiện., luôn lấy công bằng, lẽ phải làm nguyên lý sống, không chịu được cái ác hoành hành, ra tay trừ hại cho muôn dân, là mẫu hình lý tưởng trong thể loại truyền kỳ cũng như nhiều thể loại văn học dân gian khác. Thể hiện lòng yêu cái thiện, mong ước về một cuộc sống công bằng, hạnh phúc của nhân dân ta từ xa xưa cho tới tận ngày nay.

Đừng bỏ qua 🔥 Phân Tích Tựa Trích Diễm Thi Tập 🔥 8 Bài Văn Hay Nhất

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên ca ngợi khí tiết và khí phách của kẻ sĩ dũng cảm đương đầu với mọi thế lực đen tối, độc ác thâm hiểm trong cuộc đời, dám chấp nhận mọi nguy hiểm, ngay cả chết cũng không lùi bước và đó là nhân vật Ngô Tử Văn. Đây là một trong số 20 truyện rất đặc sắc và độc đáo trích trong Truyện kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Tác phẩm văn xuôi chữ Hán trong thế kỉ XVI từng được ca ngợi là “ thiên cổ kì bút”.

Nhân vật Ngô Tử Văn chiếm bao cảm tình tốt đẹp trong lòng chúng ta. Quê anh ở Yên Dũng , Lạng Giang. Tính tình khảng khái, nóng nảy, ghét tà gian, được khen ngợi là một người cương phương. Hành động đốt đền của Tử Văn đã làm cho mọi người “ lắc đầu lè lưỡi “ tỏ vẻ lo sợ cho kẻ hàn sĩ dám chọc tứ quỷ thần. Trước khi phóng hỏa, Tử Văn đã “ tắm gội chay sạch, khán trời” . Điều đó cho thấy, chàng tự cho việc làm của mình là chính đáng, sẽ được trời biết cho, phù hộ cho, đồng thời dám chấp nhận mọi nguy hiểm.

Với Tử Văn thì tên bách họ Thôi kia là một tên giặc trong đám quân Mộc Thanh đi xâm lược nước ta. Hắn đã bị giết, bị trừng phạt. Lúc sống là tên giặc cướp, lúc chết “ phải làm yêu quái trong dân gian “ thì có gì đáng thờ. Phải đốt đền đi. Tử Văn tức giận là vì thế. Thử hỏi: trong vùng Lạng Giang thuở ấy đã có người nào dám làm như Tử Văn?

Có lẽ bị quỷ ám, ma báo thù nên Ngô Tử Văn sau khi đốt đền về đến nhà thì bị ốm, bị “nổi lên một cơn sốt nóng sốt rét” chăng? Trong khi sốt, chàng thấy một người đi đến “ đầu đội mũ trụ”, quần áo rất giống người phương Bắc, tự xưng là “ cư sĩ “ nặng lời trách móc chàng, đòi làm trả lại tòa đền. hăm dọa: “ phong đô không xa xôi gì … rồi sẽ biết !”.

Vốn đã coi kinh, đã căm ghét, nên Tử Văn “ mặc kệ” vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên, càng làm cho con ma họ Thôi cũng tức giận, phất áo ra đi. “Kẻ sĩ không sợ chết mà chỉ sợ không biết”. Tử Văn. cũng vậy thôi. Khen, chê là chuyện thường tình.

Vì thế, đến chiều tối, Tử Văn lại gặp một ông già “ áo vải mũ màu đen, phông độ nhàn nhã” cho biết, ông vốn là Ngự sử đại phu thời Lý Nam Đế chết vì việc cần vương, đã được phong nhưng đã bị “ Tên hoạt tặc “ kia , tên tướng bại trận của Bắc Triều, hồn bơ vơ Nam quốc tranh chiếm mất miếu đền. Cụ già còn cho biết “ hắn đã kiện thầy ở Minh ti, thầy phải liệu kế, khỏi phải chết một cách oan uổng”. Trước Minh ti, thầy nhớ kêu “ xin tư giấy đến đền Tản viên, tôi sẽ khai rõ”.

Kiện tụng ở cõi trần đã khó, kiện tụng ở Minh ti chốn âm phủ thì chắc là khó khăn và rùng rợn biết bao. Chất truyền kì của truyện được tô đậm qua nhiều chi tiết vô cùng khủng khiếp. Ngô Tử Văn đã bị hai tên quỷ sứ đến bắt giải đi trong mấy chục trượng. Bị gai con quỷ dùng gông dài thừng lớn trói giải đi. Bước qua một cái cầu dài ước hơn nghìn thước bắc qua một con sông lớn “ gió tanh sóng xám”, hơi lạnh thấu xương”. Có thể mấy vạn quỷ dạ xoa “ mắt xanh mắt đỏ, hình dáng nhanh ác” đứng chật hai đầu cầu canh giữ. Tử Văn bị dẫn vào cửa điện.

Cuộc đối chất diễn ra ở Minh ti thật gay go giữa Tử Văn và tên họ Thôi tướng tàu. Tử Văn “ rất cương chính, không chịu nhục chút nào” tên hoạt tặc cho Tử Văn là kẻ “ mồm năm miệng mười”, đơm đặt bịa tạc. Hai bên “ cãi cọ nhau mãi vẫn chưa phân phải trái”. Diêm Vương bụng cũng sinh nghi. Khi Tử Văn xin Diêm Vương “ đem giấy đến đền Tản Viên để hỏi thực hư”, thì tên bách họ Thôi lên giọng đạo đức giả, xin Diêm Vương “ tỏ cái đức rộng rãi” và khoan tha cho kẻ học trò ngu bướng.

Cuộc đối tụng ở Minh ti, Tử Văn đã chiến thắng. Chính nghĩa và lẽ phải đã chiến thắng. Kẻ gian xảo, độc ác đã bị trừng phạt đích đáng. Sau hai ngày chết đi, Tử Văn được sống lại. Cái đền cũ được dựng lại. Ngôi mộ của tên tướng tàu bị bật tung lên, hài cốt tan tành ra như cám. Tử Văn đã được tiến cử chức phán sự đền Tản Viên.

Qua nhân vật Ngô Tử Văn, tác giả ca ngợi nhân cách cao đẹp của một hàn sĩ dũng cảm, khẳng khái đấu tranh chống lại các ác trừ hại cho dân, thể hiện niềm tin vào công lý, chính nghĩa, còn bọn ác ma nhất định bị trừng phạt đích đáng.

Đọc nhiều hơn 🌻 Phân Tích Cảm Xúc Mùa Thu 🌻 15 Bài Phân Tích Thu Hứng Hay

Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn trung đại xuất sắc của văn học Việt Nam. Ông có nhiều tác phẩm để đời nhưng trong đó phải kế tới “Truyền kì mạn lục”. Tập truyện được đánh giá là “thiên cổ kì bút” với hơn hai mươi câu chuyện kì ảo được Nguyễn Dữ thu thập từ trong dân gian rồi viết lại. “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là một câu chuyện được rút ra từ tập truyện đó, viết về cuộc chiến chống lại cái ác, bảo vệ lẽ phải của một con người chính trực, dũng cảm mang tên Ngô Tử Văn.

Ngay từ những dòng đầu, tác giả đã giới thiệu về nhân vật chính của câu chuyện. Đó là một chàng trai họ Ngô, tên Soạn, tự là Tử Văn. Chàng là người “huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang”. Tiếp đến, chàng được giới thiệu là người cương trực, khẳng khái, “thấy sự tà gian thì không thể chịu được”, được mọi người khen là một người “cương phương”.

Lời giới thiệu của Nguyễn Dữ dành cho Ngô Tử Văn thật ngắn gọn, súc tích, trực tiếp, chỉ vài dòng để giới thiệu được họ tên, quê quán cũng như tính cách của chàng trai họ Ngô. Qua việc giới thiệu khái quát về nhân vật, tác giả Nguyễn Dữ đã mang đến cho người đọc cảm nhận chân thực, sinh động của nhân vật đồng thời hướng người đọc đến những nhìn nhận đúng đắn về hành động đốt đền của Ngô Tử Văn sau này.

Ở trong làng của Ngô Tử Văn có một ngôi đền thiêng bị tên tướng giặc bại trận tác quái khiến cho nhân dân không yên ổn, “có người dốc hết của cái, gia sản khánh kiệt cũng không đủ cầu cúng”. Điều này khiến Tử Văn vô cùng tức giận nên một hôm, chàng “tắm gội chay sạch, khấn trời rồi châm lửa đốt đền”.

Hành động của Tử Văn rất quyết liệt, rất mạnh mẽ, dũng cảm. Chàng đã làm một việc được coi là báng bổ thần linh, động tới thần thánh, ai cũng e sợ, thế nhưng, Tử Văn vẫn “vung tay không sợ gì cả”, bởi chàng tin rằng việc làm của mình là việc làm chính nghĩa và bảo vệ cho nhân dân. Hành động này cũng khẳng định tính cách của Tử Văn, của một kẻ sĩ hiên ngang giữa trời đất, như tác giả đã giới thiệu phía trên, khẳng khái, cương trực, “thấy tà gian thì không thể chịu được”.

Hành động đốt đền của chàng hẳn đã được chàng suy tính kỹ lưỡng chứ không phải bộc phát mà làm. Bởi trước khi đốt đền, chàng đã “tắm gội chay sạch, khấn trời rồi châm lửa”, điều này chứng tỏ chàng rất kính cẩn với thần linh, trời đất, chứ không hề muốn xúc phạm. Hành động đốt đền lần này của chàng chẳng qua vì muốn ngăn chặn sự tác quái của tên tướng giặc bại trận, bảo vệ cuộc sống của dân lành.

Khi chàng “châm lửa đốt đền”, hành động vô cùng dứt khoát, quyết liệt, dũng cảm, dám làm những việc mình coi là đúng đắn, trừ hại cho dân. Sự việc kinh động đến thánh thần, mọi người đều “lắc đầu lè lưỡi, lo sợ” cho chàng, thế nhưng, chàng không hề sợ hãi mà còn “vung tay không cần gì cả”, tỏ rõ khí phách của mình. Bởi chàng tin rằng việc mình làm là diệt trừ cái ác, bảo vệ cho dân lành, chắc chắn sẽ được thần linh phù hộ. Tuy vậy, nó cũng là sự việc châm ngòi cho cuộc chiến giữa chàng và tên tướng giặc bại trận, cuộc chiến giữa chính và tà.

Sự cương trực, khẳng khái của Tử Văn được bộc lộ rõ nhất khi chàng phải đối đầu với tên tướng giặc ở dưới Minh ty. Đây là cuộc chiến cam go giữa sự ngay thẳng, chính trực của Tử Văn và sự xảo quyệt, gian trá của hồn ma tên tướng giặc bại trận.

Vốn là tên tướng bại trận, chết ở nơi đất khách, thế nhưng, tên tướng giặc họ Thôi lại tác quái của một vùng còn chiếm đóng đền của Thổ thần, bắt nhân dân cúng bái, đút lót cho những ngôi đền xung quanh để lấy lòng. Hắn là kẻ rất xảo quyệt và gian trá! Trên trần gian, hắn mượn oai linh của thần thánh, dùng thân phận của Cư sĩ để dọa nạt Ngô Tử Văn.

Dưới Minh ty, hắn dùng những lời nói thống khổ, kêu cầu tới Diêm Vương, gán ghép, vu khống tội trạng cho chàng. Thế nhưng, dù ở nơi trần gian hay dưới âm phủ, Tử Văn đều không hề cúi đầu trước sự gian trá, xảo quyệt của tên tướng giặc đó mà còn điềm nhiên, “mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng” trước sự doạ nạt trắng trợn của hắn.

Sau đó, chàng gặp được Thổ thần và được Thổ thần kể lại đầu đuôi câu chuyện , chàng đã vô cùng kinh ngạc nhưng càng quyết tâm hơn, quyết đối đầu với tên tướng giặc xảo trá kia dù là ở dưới Minh ty. Điều này đã chứng tỏ con người bộc trực, ngay thẳng của chàng, tấm lòng nghĩa khí, dám đứng lên đấu tranh cho công bằng công lý, điều mà thần linh đôi khi cũng phải e dè.

Sự việc này còn phản ánh xã hội phong kiến đương thời thời Nguyễn Dữ, nơi mà thật giả, trắng đen lẫn lộn, nơi mà những sự phi lý vẫn diễn ra một cách tự nhiên nhất. Thế nhưng, ở xã hội ấy, vẫn có những kẻ sĩ can trường dám đứng lên để đấu tranh cho chính nghĩa, cho lẽ phải như Ngô Tử Văn.

Tên tướng giặc xuống tới Minh ty kêu oan với Diêm Vương, dùng những lời lẽ Nho sĩ mà tố cáo chàng khiến Tử Văn bị kéo xuống Minh ti, bị bắt vào địa ngục với tội danh “tội sâu ác nặng, không được dự vào hàng khoan giản”.

Thế nhưng, bằng sự nhanh trí, sự can đảm, Ngô Tử Văn đã lên tiếng kêu oan “Ngô Soạn này là kẻ ngay thẳng ở trần gian, có tội lỗi gì xin bảo cho rõ, không nên bắt chết một cách oan uổng”. Nếu như người thường ở dưới Minh ty có sóng to gió lớn với quỷ Dạ Xoa nanh ác phải khiếp sợ thì Tử Văn vẫn điềm nhiên, can đảm, chàng vẫn không chút sợ hãi, quyết tâm đòi lại công lý.

Đối đầu trực diện với cái ác trên điện Minh ty, Tử Văn phải “đơn thân độc mã” nhưng chàng tin vào sức mạnh của công lý, của sự thật. Trước mặt Diêm Vương, tên tướng giặc dùng lời lẽ xảo trá của mình để thanh minh với Diêm Vương, đồng thời cũng là để bẻ gãy ý chí của Tử Văn, khiến chàng phải chịu khuất phục trước uy quyền.

Thế nhưng, với luận điệu cứng cỏi và những bằng chứng không thể chối cãi được lấy từ đền Tản Viên, chàng đã mạnh mẽ đối chất với tên tướng giặc, bẩm tấu lên Diêm Vương sự thật mà mình biết được. Chàng đã bất chấp tất cả, kể cả tính mạng của mình để quyết tâm đòi lại công bằng và lẽ phải, không một lần cúi đầu khuất phục trước uy quyền.

Cuối cùng, sau từng bước chứng minh, chàng đã chiến thắng được hồn ma tên tướng giặc gian trá, lấy lại công bằng cho Thổ thần, đồng thời bảo toàn được mạng sống của mình, bắt tên tên giặc kia phải chịu trừng phạt thích đáng. Đây là chiến thắng không chỉ của Tử Văn mà còn là chiến thắng của nhân dân nước Việt ta trước tên tướng giặc phương Bắc, là sự chiến thắng của chính nghĩa trước cái gian tà, trừ hoạ cho dân.

Ngô Tử Văn trở về dương gian thì tầm một tháng sau, Thổ thần đến và bảo rằng ông đã tiến cử chàng với đức thánh Tản nhậm chức Phán sự ở đền Tản Viên. Thổ thần khuyên chàng rằng: “Người ta sống ở đời, xưa nay ai cũng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau là đủ rồi” và khuyên chàng nên nhận chức này. Tử Văn vui vẻ nhận lời, “thu xếp việc nhà rồi không bệnh tật gì mà mất”.

Đây là sự đền đáp xứng đáng dành cho chàng, khẳng định sự thắng lợi của chàng trong cuộc chiến với tên giặc xảo trá, khẳng định niềm tin của nhân dân vào sự chiến thắng của lẽ phải trước cái gian tà. Chính nghĩa sẽ luôn thắng và kẻ sĩ sẽ được đền đáp.

Thông qua cuộc chiến với cái ác, Ngô Tử Văn đã khẳng định được tính cách chính trực, khẳng khái của mình, chứng minh bản lĩnh của một kẻ sĩ cứng cỏi, dám đứng lên bảo vệ công lý đến cùng. Đồng thời cũng khẳng định niềm tin của tác giả vào sự chiến thắng của chính nghĩa, khẳng định niềm tự hào tự tôn dân tộc, chiến thắng trước kẻ thù ngoại xâm, trước cái ác cái xấu xa.

Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên là câu chuyện được kết hợp giữa yếu tố kì ảo và hiện thực. Câu chuyện được xây dựng với cốt truyện kịch tính, hấp dẫn, với sự li kì bởi yếu tố tâm linh. Những nhân vật được xây dựng thông qua tính cách và hành động, rất chân thực.

Nhân vật Ngô Tử Văn là người đại diện cho tầng lớp kẻ sĩ ở xã hội phong kiến xưa với tính cách khẳng khái, nhân cách cao đẹp. Họ dám đứng lên để đấu tranh cho chứng nghĩa, dũng cảm đối đầu với cái ác để bảo vệ cho nhân dân, để khẳng định niềm tin vào công bằng và lẽ phải.

Cuộc chiến của Ngô Tử Văn cũng phản ánh xã hội xưa với đầy rẫy những bất công, những tham quan, những kẻ ác hoành hành. Thông qua cuộc chiến ấy và việc Tử Văn được nhận chức Phán sự, tác giả muốn khẳng định rằng sẽ có những con người, những vị quan thanh liêm và ngay thẳng như Ngô Tử Văn dám đứng lên chống lại cái ác, cái xấu mang lại bình yên cho nhân dân.

Gợi ý cho bạn ☔ Phân Tích Hoàng Hạc Lâu Của Thôi Hiệu ☔ 8 Bài Hay Nhất

Nguyễn Dữ là nhà văn tiêu biểu trong nền văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm của ông phản ánh một thái độ nhân sinh, một ý tưởng đạo đức. Đó là những mong muốn của ông về một xã hội mọi người được sống yên bình trong nền đức trị, trong sự công bằng, trong tình cảm yêu thương nhân ái giữa con người với con người… Quan điểm đó đã được thể hiện trong nhân vật Ngô Tử Văn – một nhân vật dũng cảm kiên cường trong tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên.”

Mở đầu tác phẩm, Ngô Tử Văn đã hiện lên với những dòng giới thiệu ngắn gọn: Tên là Soạn quê ở huyện Yên Dũng đất Lạng Giang. Chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được, vùng Bắc người ta thường khen là một người cương trực. Lời giới thiệu ấy đã được minh chứng thông qua hành động đốt đền.

Trong làng có một ngôi đền linh ứng lắm. Cuối đời nhà Hồ, quân Ngô sang lấn cướp, vùng ấy thành một nơi chiến trường. Bộ tướng của Mộc Thanh có viên Bách hộ họ Thôi, tử trận ở gần đền, từ đấy làm yêu làm quái trong dân gian.

Trong khi mọi người đều sợ hãi, không dám làm gì quỷ thần ở ngôi đền gần làng thì Tử Văn cương quyết, ung dung, tắm rửa sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt hủy ngôi đền. Hành động đó xuất phát từ mong muốn diệt trừ yêu ma, trừ hại cho dân, cũng từ đó giúp ta thấy được cốt cách của một người dũng cảm, tin vào chính nghĩa, bênh vực người lương thiện của chàng.

Ngoài ra, sự cứng cỏi của Ngô Tử Văn còn được thể hiện thông qua thái độ của chàng dành cho tên tướng giặc. Tên tướng giặc là một kẻ xảo quyệt, hắn dùng tà phép khiến cho chàng bị sốt nóng sốt rét, đầu lảo đảo. Hồn ma tướng giặc buông lời mắng mỏ, đe dọa, quyết kiện Tử Văn xuống tận Diêm Vương. Trước sự ngang ngược trắng trợn, quyền phép đáng sợ của hồn ma tướng giặc, Ngô Tử Văn vẫn điềm nhiên, không hề run sợ mà tự tin, không coi những lời đe dọa ra gì, thậm chí chẳng thèm tiếp lời hồn ma tướng giặc.

Là một người cương trực nên Tử Văn không hề sợ điều gì, ngay cả khi bị lôi xuống địa phủ. Hồn ma kiện Tử Văn ở Minh ti làm Diêm Vương quát mắng Tử Văn, bênh vực hồn ma nhưng Tử Văn không hề run sợ cứng cỏi minh oan cho mình. Chàng không chỉ “kêu to”, khẳng định “Ngô Soạn này là kẻ ngay thẳng ở trần gian”, chàng còn dũng cảm vạch mặt tên bạo tướng gian tàn với lời lẽ rất “cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào”.

Khi đối diện trước Diêm Vương uy nghiêm, Tử Văn đấu tranh vạch tội tên tướng giặc bằng những lí lẽ, bằng chứng không thể chối cãi, giọng điệu đanh thép vững vàng. Chàng không chịu khuất phục trước uy quyền, kiên quyết đấu tranh cho công lí và lẽ phải đến cùng. Và công lí đã chiến thắng cái ác, hồn ma bị trừng phạt nặng nề, còn Tử Văn thì được ban thưởng.

Chiến thắng của Tử Văn chính là lời khẳng định cho sức mạnh của cái thiện, sự khẳng khái, tình yêu chính nghĩa và công bằng. Ngô Tử Văn đại diện cho tinh thần chính trực, sẵn sàng đấu tranh để bảo vệ cho nhân dân, cho sự lương thiện. Truyền kỳ mạn lục là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật. Nó vượt xa những truyện ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi sâu vào nội tâm nhân vật.

Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là “thiên cổ kỳ bút”, là “áng văn hay của bậc đại gia”, tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian. Điều đó đã được thể hiện rõ rệt thông qua “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”.

Câu chuyện kết thúc với thắng lợi dành cho Ngô Tử Văn, hay nói cách khác, đó là chiến thắng của chính nghĩa. Thông qua tác phẩm này, tác giả đã gửi gắm cho chúng ta những bài học nhân sinh vô cùng sâu sắc, đó cũng là bài học mà không chỉ con người thời trung đại, mà ngay cả chúng ta, những người thời hiện đại cần phải học hỏi để giữ cho bản thân niềm tin vào chính nghĩa, vào thiên lương ở đời.

Có thể bạn sẽ thích 🌟 Phân Tích Độc Tiểu Thanh Ký 🌟 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Văn Mẫu Lớp 10: Phân Tích Nhân Vật Tấm Trong Truyện Tấm Cám Dàn Ý & 15 Bài Phân Tích Nhân Vật Tấm

Dàn ý phân tích nhân vật Tấm

I. Mở bài

– Giới thiệu về truyện cổ tích Tấm Cám: Là truyện cổ tích tiêu biểu và hấp dẫn của truyện cổ tích Việt Nam

– Khái quát về nhân vật Tấm: Là nhân vật trung tâm của truyện, có số phận bất hạnh. Tấm có sự trưởng thành, phát triển về nhận thức và hành động trong quá trình chiến đấu với cái ác để giành và giữ lấy hạnh phúc.

II. Thân bài

1. Hoàn cảnh của Tấm.

– Mẹ Tấm chết khi Tấm còn nhỏ

– Cha lấy vợ khác sau đó cũng sớm qua đời. Tấm ở cùng dì ghẻ và em gái cùng cha khác mẹ là Cám.

– Tấm phải làm việc suốt ngày đêm, chăn trâu cắt cỏ, mò cua bắt ốc, xay cám, giã gạo.

→ Là con riêng, lại là phận gái, Tấm phải chịu bao cay đắng, tủi nhục. Hoàn cảnh của Tấm thương tâm, tội nghiệp

– Tấm hiền lành, nết na, chịu khó là hiện thân cho cái thiện. Mẹ con Cám lười biếng, độc ác gây ra bao nỗi bất hạnh cho Tấm, họ là hiện thân cho cái ác.

→ Sống với cái ác, vẻ đẹp của Tấm càng nổi bật. Quá trình chiến đấu với cái ác của Tấm là cuộc đấu tranh để giành và giữ lấy hạnh phúc.

2. Tấm – cô gái hiền lành, yếu đuối, cam chịu.

– Đi bắt tép: Tấm chăm chỉ bắt được đầy giỏ nhưng bị Cám lười biếng lừa lấy hết sạch giỏ tép, cướp lấy phần thưởng.

→ Tấm ngồi khóc và được ông Bụt tặng cho con cá bống

– Đi chăn trâu: Tấm bị mẹ con Cám lừa đi chăn trâu ở cánh đồng xa rồi ở nhà làm thịt cá bống ăn

→ Tấm khóc và bụt hiện lên mách Tấm cho xương cá vào bốn cái lọ chôn vào bốn chân giường.

– Đi xem hội: Tấm bị mẹ con Cám bắt ở nhà nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, không có quần áo mới

→ Tấm lại khóc, Bụt hiện lên, sai đàn chim sẻ xuống nhặt thóc, cho Tấm quần áo, giày, xe ngựa đi trẩy hội. Tấm gặp vua và trở thành hoàng hậu

⇒ Tấm bị mẹ con Cám tước đoạt trắng trợn cả vật chất và tinh thần. Nhưng Tấm chỉ biết cam chịu, bật khóc mỗi lần bị ức hiếp, trà đạp. Tấm luôn trong thế bị động và không có ý thức phản kháng.

⇒ Sự xuất hiện của Bụt là yếu tố kì ảo, là sự hóa thân của nhân dân bênh vực, bảo vệ kẻ yếu, đứng về phía cái thiện

3. Tấm – cô gái mạnh mẽ, quyết liệt chống lại cái ác

– Tấm về ăn giỗ cha: Bị mẹ con Cám lừa trèo lên cây cau rồi chặt gốc cau. Tấm ngã lăn ra chết.

– Tấm hóa thành chim vàng anh hót cho vua nghe, chui vào tay áo vua. Tiếng hót của chim “Giặt áo chồng tao thì giặt cho sạch…chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao” là lời báo hiệu cho sự trở về của Tấm. Mẹ con Cám giết thịt chim vàng anh.

– Tấm hóa thành cây xoan đào tỏa bóng mát cho nhà vua. Mẹ con Cám chặt cây làm khung cửi

– Tấm hóa thành con ác trên khung cửi, trực tiếp tuyên chiến với kẻ thù “Cót ca cót két, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt cho”. Mẹ con Cám sợ hãi đem đốt khung cửi.

– Tấm hóa thành quả thị, hằng ngày bước ra giúp bà hàng nước quét dọn, têm trầu, gặp lại nhà vua và trở về cung làm hoàng hậu.

⇒ Tấm vẫn luôn ở cạnh nhà vua, thực hiện bổn phận của một người vợ.

⇒ Quá trình đấu tranh, phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt không khoan nhượng của Tấm. Tấm không còn nhu mì, yếu đuối, chỉ biết khóc khi bị bắt nạt, biết trông cậy vào sự giúp đỡ của Bụt mà đã kiên cường chống lại.

⇒ Những lần hóa thân của Tấm cho thấy sức sống mãnh liệt của cái thiện trước cái ác.

4. Tấm ra tay trừng trị cái ác.

– Tấm trở về cùng trong sự ngỡ ngàng và sợ hãi của mẹ con Cám

– Hành động trừng phạt: Cho Cám xuống hố, dội nước sôi cho trắng đẹp cho đến chết. Cho dì ghẻ ăn mắm làm từ thịt con gái, kinh khiếp mà chết

⇒ Hành động trừng phạt này phù hợp với quá trình trưởng thành, đấu tranh của Tấm

⇒ Thể hiện ước mơ của nhân dân về một xã hội công bằng, về quan niệm sống “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”.

5. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

– Xây dựng những mâu thuẫn có sự tăng tiến để thể hiện sự phát triển trong hành động nhân vật

– Xây dựng hai tuyến nhân vật đối lập để khắc họa nhân vật

– Sử dụng các yếu thần kì.

III. Kết bài

– Khái quát nội dung và nghệ thuật xây dựng nhân vật

– Mở rộng: Tấm là hiện thân của cái đẹp và cái thiện. Hình tượng cô tấm nết na, thùy mị, hiền lành từng là biểu tượng cho vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam với những ví von “Hiền như Tấm”, “Cô Tấm Làng Mai”.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 1

Ai đó đã từng nói: “Truyện cổ tích là thế giới hiện thực biết ước mơ”. Vâng, truyện cổ tích nói riêng và văn học dân gian Việt Nam nói chung là tiếng nói, là nỗi niềm, tiếng lòng của người bình dân trong xã hội cũ. Song những tiếng lòng ấy không hề ủy mị, không hề mềm yếu dẫu rằng nó được cất lên trong bùn đen cơ cực. “Tấm Cám” là một truyện cổ tích thể hiện rõ niềm lạc quan, niềm tin của nhân dân lao động. Tấm là nhân vật chính trong truyện hiện lên với số phận bất hạnh nhưng ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn.

“Tấm Cám” là một truyện cổ tích thần kỳ. Truyện kể về cuộc đời số phận của Tấm – cô gái mồ côi, bất hạnh nhưng có phẩm chất tốt đẹp, trải qua nhiều gian nan cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Thông qua số phận bất hạnh của Tấm, nhân dân gửi gắm ước mơ, khát vọng lí tưởng xã hội của mình về sự chiến thắng của cái thiện với cái ác.

Tấm là một cô gái có số phận bất hạnh. Tấm mồ côi từ nhỏ: “Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Mẹ Tấm đã chết từ hồi Tấm còn bé. Sau đó mấy năm thì cha Tấm cũng chết. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám”. Tác giả dân gian đã đưa người đọc đến với số phận rất quen thuộc trong truyện cổ tích: đó là người mồ côi. Ở với dì ghẻ, Tấm phải sống một cuộc sống khổ cực, bị mẹ con Cám hành hạ. Tấm phải làm lụng suốt ngày đêm trong khi Cám thì thảnh thơi. Đâu chỉ có thế, Tấm còn bị Cám lừa lấy mất giỏ cá. Mất giỏ cá là Tấm mất đi phần thưởng của dì, mất đi cái yếm đẹp, mất đi tình yêu thương mà Tấm khao khát có được. Không chỉ có vậy, khi chỉ còn con cá bống bầu bạn, Tấm cũng bị mẹ con Cám bắt lấy và giết thịt. Cuộc đời Tấm dường như bị bủa vây trong sự hãm hại. Bống là con cá duy nhất còn sót lại trong giỏ cá. Bị lấy mất cá là Tấm mất đi người bạn ngày ngày tâm sự, sẻ chia, mất một niềm an ủi cuối cùng. Tấm là hiện thân của một cuộc đời đày đoạ, tước đoạt, một hình ảnh tiêu biểu cho những số phận thấp cổ bé họng, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội phân chia giai cấp. Bởi vậy tiếng khóc tội nghiệp của Tấm mỗi khi bị chèn ép, áp bức có sức lay động mỗi trái tim nhân hậu, khơi dậy niềm cảm thông chia sẻ ở mọi người.

Nhờ Bụt, Tấm từ một cô gái mồ côi đã trở thành hoàng hậu. Bụt xuất hiện mỗi khi Tấm khóc, buồn tủi cần sự an ủi, giúp đỡ. Tấm bị mất chiếc yếm đỏ, Bụt cho hi vọng là con cá bống. Tấm bị mất cá bống, Bụt lại cho hi vọng. Tấm không được đi xem hội, Bụt cho một cho đàn chim sẻ đến giúp để đi hội làng gặp nhà vua. Lúc đi hội, Tấm làm rơi giày. Chính chiếc giày giúp Tấm gặp lại được vua trở thành hoàng hậu. Đó chính là ước mơ của người xưa về một sự đổi đời trở thành hoàng hậu, bước lên ngôi vị tối cao, là ước mơ, khát vọng lớn lao của người dân bị đè nén, áp bức. Hạnh phúc ấy chỉ dành cho những con người hiền lành, lương thiện.

Tấm là một con người sẵn sàng đấu tranh để giành lại hạnh phúc cho chính mình. Thông qua các cuộc đấu tranh của Tấm, nhân dân lao động gửi gắm niềm tin, ước muốn về khát khao đổi đời,về cuộc chiến thắng của cái thiện trước cái ác. Tấm phải nhiều lần hóa thân: Tấm bị giết hóa thành chim Vàng Anh, Vàng Anh bị giết mọc lên cây xoan đào, xoan đào bị chặt, Tấm hóa khung cửi, khung cửi bị đốt, Tấm hóa quả thị, từ quả thị Tấm bước ra làm người. Cuộc đấu tranh giành lại quyền sống của Tấm là vô cùng gian nan, quyết liệt, không khoan nhượng. Cuộc đấu tranh cho thấy cái ác luôn hiện hữu, luôn xuất hiện đầy ắp hành hạ cái thiện. Khi Tấm trở thành hoàng hậu, mẹ con Cám vẫn đeo bám tiêu diệt Tấm tới cùng. Sự đày đoạ của Tấm đã đến tận cùng, bị tước đoạt cả hạnh phúc lẫn tính mạng.

Lần hóa thân cuối cùng, cô Tấm bước ra làm người đã gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc. Có lẽ hạnh phúc nơi trần thế mới là hạnh phúc đích thực và đáng trân trọng. Hạnh phúc giữa cuộc sống đời thực, được bên cạnh những người mình thương yêu. Đặc biệt, để có được hạnh phúc ấy, Tấm đã phải đấu tranh rất nhiều lần. Nếu như lúc trước lúc khó khăn, đau khổ, Tấm có Bụt hiện ra giúp đỡ thì lúc này đây, Tấm chủ động đấu tranh giành lấy hạnh phúc cho mình. Gửi hồn mình vào chim Vàng Anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị,… sau bao lần hóa thân, bị hãm hại, Tấm trở lại làm người. Tấm lại trở về là Tấm – một hoàng hậu xinh đẹp. Nhưng hạnh phúc sẽ chẳng bền lâu khi cái ác chưa bị diệt trừ tận gốc. Tấm tự tay trừng trị mẹ con Cám, để mẹ con cám phải nhận cái kết thích đáng. Nhân dân đã đứng về phía Tấm, công lý đứng về phía Tấm, hạnh phúc lại trở về bên cô Tấm nết na.

“Tấm Cám” là một truyện cổ tích mà ở đó mà không hề thấy người nông dân bi quan. Cái hiện thực với xã hội bất công vẫn cứ hiện ra thông qua số phận của nhân vật Tấm nhưng cũng qua nhân vật Tấm, nhân dân gửi gắm những ước mơ, khát vọng về cuộc sống hạnh phúc, được thể hiện bằng cốt truyện chặt chẽ, có sự tham gia của các yếu tố thần kì tạo hấp dẫn cho truyện. Thông qua nhân vật Tấm, người đọc hiểu được những ước mơ, khát vọng mà nhân dân gửi gắm, ta thấy được sự đấu tranh của tầng lớp thấp cổ bé họng trong xã hội xưa.

Trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, văn học dân gian đã và mãi có chỗ đứng trong lòng bạn đọc và có giá trị sâu sắc trong kho tàng văn học Việt Nam nói chung. Bởi thông qua văn học dân gian, người đọc hiểu được đời sống cũng như tâm tư tình cảm người nông dân xưa, càng thêm trân trọng hơn kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 2

Trong kho tàng văn học Việt Nam ngoài những tác phẩm truyện kí, thơ, phú, cáo…được nhiều người nhắc đến thì chúng ta còn nên nhớ đến một thể loại mà các bạn thiếu nhi hay thích nghe. Đó chính là thể loại truyện cổ tích. Có thể nói những câu chuyện cổ tích như mang hơi thở ngọt ngào của những quan niệm xưa như ở hiền gặp lành, nó là loại truyện mà dành cho trẻ em là nhiều nhất vì nó mang những yếu tố kì ảo lạ thường để cho trẻ em thỏa sức tưởng tượng. Đồng thời nó còn có những cái kết có hậu để dạy dỗ trẻ em làm người tốt. Trong những tác phẩm truyện cổ tích như Thạch Sanh, Sọ Dừa… thì có lẽ truyện “Tấm Cám” cũng hấp dẫn biết bao nhiêu bạn đọc không chỉ trẻ con mà cả người lớn. Đặc biệt trong đó ta thấy nổi bật lên hình tượng nhân vật cô Tấm với những vẻ đẹp của người con gái thuở xưa.

Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Mẹ Tấm chết từ hồi Tấm mới biết đi, sau đó ít năm người cha cũng chết, Tấm phải sống với dì ghẻ là mẹ của Cám. Ngay từ đầu tác phẩm, tác giả dân gian đã đưa người đọc đến số phận quen thuộc trong truyện cổ tích. Ở với dì ghẻ, Tấm phải làm lụng quần quật suốt ngày đêm, từ chăn trâu, gánh nước đến thái khoai, vớt bèo, đêm xay lúa giã gạo mà không hết việc. Trong khi đó, Cám và mụ dì ghẻ thì ăn trắng mặc trơn, không phải nhúng tay vào việc gì. Sự hành hạ của mẹ con Cám không chỉ ở thể chất mà còn về tinh thần. Cám lừa Tấm trút hết giỏ tép để giành phần thưởng là chiếc yếm đỏ. Chiếc yếm đỏ là y phục mà các thiếu nữ thời xưa lớn lên đều ao ước. Với cô Tấm nghèo khó, mồ côi nó càng trở nên quý giá. Bởi vậy mất chiếc yếm đỏ cũng có nghĩa là Tấm mất đi hy vọng được nhận yêu thương. Con cá bống còn sót lại trong giỏ cũng bị mẹ con dì ghẻ giết thịt.. Với một cô gái mồ côi, không nhận được sự chăm sóc nào thì chăm chút cho bống là một nhu cầu tình cảm, nhu cầu được sẻ chia. Việc mẹ con Cám giết bống đã phá đi chỗ dựa tình cảm, cướp đi hy vọng vừa mới nhen lên trong lòng Tấm. Lần thứ ba Tấm khóc là khi cô không được đi dự hội làng, tước đoạt ở Tấm cơ hội được gặp gỡ, chia sẻ với mọi người. Cuộc đời của Tấm là hiện thân của cuộc đời bị đày đọa, một hình ảnh tiêu biểu cho những số phận thấp cổ bé họng, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội phân chia giai cấp. Bởi vậy tiếng khóc tội nghiệp của Tấm có sức lay động bao trái tim nhân hậu, khơi gợi niềm cảm thông, chia sẻ của mọi người.

Đặc trưng của truyện cổ tích thường giải quyết mối xung đột thiện – ác theo hướng thiện thắng ác nhờ sự giúp đỡ của những nhân vật thần kì. Cô Tấm hiền lành, chăm chỉ, tốt bụng nên được Bụt giúp đỡ. Tấm mất yếm đào, Bụt cho hy vọng là con cá bống. Mất cá bống, Bụt cho hi vọng đổi đời. Tấm không được đi hội, Bụt cho đàn chim sẻ xuống giúp Tấm. Bụt cho Tấm quần áo đẹp, giày đẹp, đưa Tấm đến gặp nhà vua, giúp Tấm trở thành Hoàng Hậu, đạt đến đỉnh cao của hạnh phúc. Hoàng Hậu Tấm là hình ảnh cao nhất về hạnh phúc mà nhân dân có thể mơ ước cho cô gái mồ côi, nghèo khổ trong xã hội xưa. Điều đó một mặt phản ánh ước mơ của dân gian về triết lí “Ở hiền gặp lành” và ước mơ về một sự đổi đời. Từ đó truyện cổ tích đã chữa lành hiện thực cuộc sống, thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, hy vọng ở tương lai công bằng, dân chủ của nhân dân lao động.

Nhưng Tấm Cám không chỉ đến đây là kết thúc, nó còn tiếp thêm một chặng đường nữa của nhân vật. Tấm tuy đã trở thành Hoàng Hậu nhưng vẫn bị cái ác săn đuổi tiêu diệt. Cô Tấm hiếu thảo trèo cây hái cau để cúng cha nhưng bị mẹ con Cám chặt cây giết chết. Nhưng cô Tấm hiền lành ngã xuống thì một cô Tấm mạnh mẽ, quyết liệt sống dậy, hóa thân trở về chống lại cái ác. Cây xoan đào, chim vàng anh, cây thị là nơi Tấm gửi gắm linh hồn, cũng là những vật bình dị thân thương trong cuộc sống dân dã. Nếu như ở phần đầu câu chuyện, mỗi lần Tấm khóc thì luôn có Bụt hiện lên giúp đỡ, thì ở phần sau, cuộc đấu tranh ác liệt hơn nhưng Tấm không còn khóc, cũng không thấy sự xuất hiện của Bụt, chỉ thấy Tấm hành động liên tiếp để chống lại kẻ thù. Sau bao lần hóa thân, Tấm trở về với cuộc đời, với làng quê bình dị, vẫn là cô gái đảm đang trong miếng trầu têm hình cánh phượng. Nhờ miếng trầu mà nhà vua nhận ra người vợ đảm của mình và đưa Tấm về cung. Nhưng Tấm hiểu rằng, không thể có hạnh phúc trọn vẹn khi cái ác còn tồn tại. Vì thế cô đã tự tay trừng trị mẹ con nhà Cám. Kết thúc đó nêu cao triết lí ‘ác giả ác báo” của nhân dân lao động.

Qua hình tượng nhân vật Tấm qua mọi thời điểm cuộc đời nàng ta thấy được vẻ đẹp của người con gái thuở xưa hiền lành lương thiện. Đồng thời nó cũng thể hiện cho quan niệm của ông bà ta là ở hiền thì gặp lành những người ở hiền thì có cuộc sống hạnh phúc những người xấu xa thì phải chịu những hậu quả mà mình tự gây ra. Không những thế ta còn thấy được sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác vô cùng kịch liệt thế nhưng cái thiện luôn luôn thắng. Và con đường đến cái thiện để hạnh phúc là một quá trình gian nan vất vả.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 3

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có rất nhiều thể loại đa dạng và phong phú, trải qua từng giai đoạn, chế độ xã hội có những thể loại đặc trưng riêng; sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ… Song có lẽ truyện cổ tích là một thể loại sử dụng những yếu tố hư cấu, thần kì. Đó là mấu chốt của những câu truyện cổ tích mà thông qua đó tác giả dân gian xưa gửi gắm những ước mơ, khát vọng của người dân về một cuộc sống ấm áp, hạnh phúc, xã hội tự do, bình đẳng…Đặc biệt truyện Tấm Cám tiêu biểu cho thể loại ấy khi đã thành công trong việc xây dựng vẻ đẹp nhân vật Tấm.

Truyện cổ tích là thể loại tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định kể về số phận con người bình thường trong xã hội thể hiện tinh thần nhân đạo, lạc quan của nhân dân lao động. Truyện Tấm Cám kể về nhân vật Tấm với vẻ đẹp và những biến cố mà cô phải trải qua.

Tấm là một cô gái mồ côi cha mẹ, phải sống với mẹ con dì ghẻ. Tấm bị bắt làm việc vất vả, nặng nhọc và bị đối xử bất công. Hoàn cảnh Tấm tiêu biểu cho hoàn cảnh của người con riêng trong chuyện cổ tích. Nhưng Tấm lại có phẩm chất hiền lành, chăm chỉ chịu thương chịu khó. Tấm là hiện thân cho cái thiện, cái đẹp ở người lao động.

Cô Tấm hiền lành chăm chỉ là thế nhưng phải chịu đựng, cam chịu sự đày đọa bất công của mẹ con Cám. Tấm làm việc vất vả còn Cám thì được nuông chiều. Giỏ tép do chính Tấm bắt cực nhọc lại bị Cám cướp mất, chính Cám đã cướp đi thành quả lao động của Tấm. Và cả yếm đỏ đối với người con gái xưa là trang phục thể hiện sự duyên dáng Tấm phải làm việc chăm chỉ để có thể có được nó nhưng lại bị Cám cướp mất, cướp đi quyền lợi vật chất của Tấm. Ước mơ nhỏ nhoi bình dị của Tấm đã không thành hiện thực. Để rồi cá bống con vật duy nhất còn sót lại trong giỏ tép là người bạn tinh thần là niềm vui an ủi của Tấm cũng bị mẹ con Cám bắt mất, họ đã cướp đi người bạn tinh thần của Tấm. Mẹ con Cám vì lòng đố kị và ghen ghét đã cướp đi của Tấm quyền lợi về vật chất và tinh thần.

Và ngay cả khi làng mở hội thì Tấm cũng ngoan ngoãn làm theo lời dì dặn mà không cãi lại cũng không dám chốn đi. Tấm lại khóc và con người hiền lành ấy cũng được bụt giúp đỡ. Và khi đã trở thành hoàng hậu thì Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại hết lần này đến lần khác. Ngay địa vị hoàng hậu và cuộc sống giàu sang cũng chưa đủ để cứu Tấm khỏi âm mưu hãm hại của dì ghẻ.

Tấm lại phải trải qua bao nhiêu kiếp nạn khổ đau rồi mới được hạnh phúc. Từng ấy đau khổ, bất hạnh, đày đọa khiến người ta không thể không xót xa, thương cảm. Tấm “nghe lời, bưng mặt khóc hu hu, òa lên khóc, ngồi khóc một mình, nức nở khóc” đã bao nhiêu lần Tấm cam chịu trước sự đày đọa bất công của mẹ con Cám là bấy nhiêu lần Tấm đã khóc. Không chỉ thế Tấm đã rất nhiều lần chết đi sống lại và hóa thân vào nhiều thứ từ hóa thân thành chim vàng anh, rồi thành cây xoan đào, hiện hình vào khung cửi rồi vào quả thị và trở thành người. Tấm phản kháng quyết liệt hóa thân và hồi sinh để đấu tranh giành sự sống và hạnh phúc.

Cô Tấm hiền lành luôn có bụt, những thứ xung quanh như xương cá, gà, cá bống, ngựa, chim sẻ giúp đỡ mà đã vượt qua rất nhiều khó khăn. Tấm được lực lượng thần kỳ phù trợ để chiến thắng được cái ác. Và sự hóa thân thành thị, xoan đào, khung cửi hay vàng anh giúp Tấm giành lại sự sống và hạnh phúc.

Và ngay cả khi trả thù mẹ con Cám thì giờ đây Tấm đã mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn. Hành động trả thù phù hợp với sự vận động trong hành động của Tấm từ bị động sang chủ động hay đây chính là kết cục của cái ác phải bị trừng phạt.

Hình ảnh đẹp của Tấm mà giúp chúng ta hiểu hơn phần nào cuộc sống của người lao động trong xã hội cũ. Họ bị trà đạp bất công và không có quyền nói lên tiếng nói của mình. Chính vì thế mà họ gửi những ước mơ của mình, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn vào trong cổ tích- bình chứa ước mơ của dân gian xưa. Và cô Tấm chính là tiêu biểu cho họ một người hiền lành chăm chỉ, chất phác nhưng luôn luôn bị những thế lực tàn ác hãm hại và cuối cùng cái thiện đã chiến thắng cái ác. Đó cũng chính là mong muốn của người xưa khi gửi gắm vào những câu chuyện cổ tích.

Từ nhân vật Tấm mà chúng ta hiểu rõ hơn về thế giới nhân vật trong chuyện cổ tích. Dù bị đối xử bất công nhưng họ vẫn đứng lên, đấu tranh để giành lại sự sống cho mình. Điều đó thật đáng ca ngợi và tự hào.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 4

Chẳng phải ngẫu nhiên mà Lâm Thị Mĩ Dạ đã viết:

Bởi lẽ, từ khi chúng ta còn thơ bé đã thấm nhuần những câu chuyện cổ của bà của mẹ. Trong số đó, cô Tấm dịu hiền trong truyện cổ tích “Tấm Cám” luôn là hình mẫu lí tưởng để chúng ta ao ước.

Trong truyện, cô Tấm là từ một cô gái mồ côi mà trở thành hoàng hậu. Từ nhỏ đã mất mẹ, cha lại lấy vợ rồi mất sớm, Tấm sống chung với mẹ ghẻ và con của mụ là Cám. Cuộc sống của Tấm bên cạnh mẹ con Cám là một chuỗi ngày cực nhọc, vất vả. Sáng thái khoai, chiều lạ chăn trâu, hầu như ở nhà có việc gì nặng nhọc Tấm đều phải làm hết. Còn Cám chỉ đủng đỉnh ăn chơi tối ngày. Vậy mà cô Tấm chăm chỉ chưa bao giờ than vãn. Nhưng ngay khi chăm chỉ làm việc, cô Tấm cũng bị cướp mất thành quả lao động của mình là chiếc yếm đỏ. Nghe lời mụ dì ghẻ, ai bắt được nhiều tôm tép hơn thì sẽ được thưởng chiếc yếm đỏ. Đó quả là niềm ao ước với cô gái vẫn ngày ngày đầu tắt mặt tối làm việc. Tấm chăm chỉ mò cua bắt tép, do đã quen mà chỉ một lúc đã đầy giỏ. Còn Cám chỉ mải chơi, dạo hết ruộng nọ đến ruộng kia. Tấm vì thật thà, cả tin mà bị Cám lừa gạt lấy mất giỏ tép, cướp luôn yếm đỏ. Tủi thân, Tấm bưng mặt khóc. Sự buồn tủi của cô gái nhỏ đã được bụt giúp đỡ. Khi bụt lên đã trao cho Tấm một người bạn tinh thần vô cùng quý giá. Đó chính là con cá bống. Với một cô gái luôn buồn khổ và cô đơn, bị đối xử tệ bạc như Tấm, cá bống quả là một người bạn vô giá. Hằng ngày, để nuôi sống người bạn đó, Tấm chia phần thức ăn ít ỏi của mình cho Bống, tâm sự với Bống. Tưởng chừng cuộc sống của Tấm dù thiệt thòi nhưng sẽ được yên ổn. Vậy mà, mụ dì ghẻ và Cám lại ghen ghét, ăn thịt mất cá bống. Tấm tủi thân cũng chỉ biết khóc. Bụt liền bày cách chôn xương bống cho Tấm. Tấm răm rắp nghe thôi mà không hay biết rằng những hành động vô tư, chân thành của mình sẽ đem lại những điều bất ngờ sau này.

Cuộc sống của Tấm sẽ chẳng thay đổi nếu như không có yến hội do nhà vua tổ chức. Như bao cô gái khác, Tấm cũng ao ước được đi xem hội. Vậy mà mẹ con Cám nỡ nhẫn tâm cướp mất niềm vui tinh thần đó, hành hạ Tấm bằng cách trộn thóc với gạo và bắt Tấm nhặt, nhặt xong mới được đi chơi. Điều này quả thật là quá sức với cô gái. Tấm lại bưng mặt khóc nức nở. Lúc này Bụt hiện lên và giúp Tấm. Sự chân thành, chăm chỉ thật thà của Tấm đã khiến cô được sự giúp đỡ, được đi chơi hội. Đến chỗ lội, Tấm vì vội vàng mà đánh rơi chiếc giày. Và như một phần thưởng cho cô gái hiền lành, nết na, nhà vua nhặt được chiếc giày và quyết tâm lấy chủ nhân của chiếc giày làm vợ. Cô Tấm từ một cô gái nghèo khổ đã trở thành hoàng hậu trong sự hằn học của mẹ con Cám.

Nếu dừng lại ở đây thì Tấm Cám sẽ rất giống với mô típ lọ lem của các nước trên thế giới. Nhưng phần sau của “Tấm Cám” mới là sự sáng tạo tài tình của nhân dân ta. Hạnh phúc không phải dễ dàng có được, không phải chỉ do Bụt, do may mắn mà có mà con người phải tự đấu tranh để giành lấy. Tấm trở thành vợ vua nhưng vẫn hiếu thảo như xưa. Nàng về quê giỗ cha nhưng không ngờ mẹ con Cám đã giăng bẫy sẵn nhằm giết hại Tấm. Chặt cau khiến Tấm ngã xuống ao chết, cái ác là mẹ con Cám đã đi đến tận cùng. Nếu khi xưa, chúng cướp đi vật chất, tinh thần của cô Tấm thì bây giờ nhẫn tâm cướp đi cả tính mạng của người khác. Cũng từ đây, Cô Tấm hóa kiếp nhiều lần để đòi lại hạnh phúc của mình. Hóa thành chim vàng xanh quấn quýt bên vua, hóa thành cây xoan đào che bóng mát cho người chồng yêu quý, rồi hóa thành khung cửi để chửi rủa Cám. Mỗi lần, cô Tấm càng mạnh mẽ nhẫn nại bao nhiêu thì mẹ con Cám lại càng nhẫn tâm, tàn ác quyết giết hại Tấm bấy nhiêu. Cuối cùng, cô Tấm náu mình trong quả thị ở cùng với bà hàng nước. Rồi như một sự sắp đặt của ý trời và duyên phận. Nhà vua tìm thấy Tấm khi ghé qua quán nước của bà cụ tốt bụng. Tấm trở cùng tìm lại hạnh phúc của mình.

Đáng nói nhất chính là phần kết truyện có nhiều dị bản. Trong đó Tấm dội nước sôi Cám hay làm mắm Cám gửi về cho mụ dì ghẻ. Cũng có bản, cô Tấm tha chết cho mẹ con Cám nhưng sau đó bọn chúng cũng bị ông trời trừng phạt. Xoay quanh mỗi cái kết có nhiều ý kiến trái chiều. Tuy nhiên, dù ở cái kết nào, thì dụng ý của nhân dân ta xưa vẫn mong cô Tấm có thể bảo vệ hạnh phúc của mình và cái ác phải bị trừng trị

“Tấm Cám” là truyện cổ tích thần kì với nhân vật Tấm tiêu biểu cho sức sống tiềm tàng mãnh liệt của người dân lao động.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 5

Truyện cổ tích “Tấm Cám” thuộc loại truyện thần kỳ về cái thiện và cái ác. Tấm là một nhân vật gặp nhiều nỗi buồn, chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. Khi mà mẹ mất sớm, cha lấy vợ hai nhưng rồi chẳng bao lâu cha Tấm cũng qua đời để Tấm sống với dì và em gái cùng cha khác mẹ.

Mẹ kế của Tấm là người độc ác có nhiều âm mưu, quỷ kế, bà ta thường xuyên hành hạ Tấm, chỉ yêu thương con mình mà thôi. Tấm sống với mẹ kế đã phải chịu nhiều thiệt thòi cay đắng. Cám thì được mẹ nuông chiều, được ăn ngon mặc đẹp, ăn trắng mặc trơn. Ngược lại mẹ kế tìm mọi cách hành hạ, phải làm việc quần quật, suốt ngày đêm.

Tấm vô cùng hiền lành thường xuyên chịu thiệt thòi, còn Cám thì được mẹ nuông chiều nên càng ngày càng ỉ lại, lười biếng không biết làm gì. Cám và mẹ kế là người đại diện cho cái ác, luôn tìm cách hãm hại người khác, đa mưu nhiều quỷ kế.

Một hôm mẹ kế bảo hai chị em đi mò cua bắt tép, Tấm vô cùng chăm chỉ, nên bắt được rất nhiều. Còn Cám thì ngược lại chỉ mải chơi nên chẳng bắt được gì. Nhưng Cám học được tính xấu của mẹ đa mưu túc kế. Chính vì vậy, Cám lừa Tấm xuống áo tắm rửa, ở trên bờ Cám trút hết tôm cá của Tấm vào giỏ mình rồi về nhà lấy công với mẹ trước.

Tấm tắm xong lên bờ thì biết mình không còn gì trong giỏ về nhà sẽ bị mẹ kế đánh đập, chửi bới. Nên Tâm hoảng sợ khóc rất nhiều. Nhưng có một thế giới tâm linh thần kỳ bước ra giúp đỡ những người tốt, Tấm được bụt hiện ra và được giúp đỡ. Người hiền lành luôn gặp được sự may mắn bất ngờ trong cuộc sống. Nó thể hiện chân lý “ở hiền thì sẽ gặp lành”

Trong giỏ của của Tấm có con cá bống, Tấm mang về nhà nuôi dưới giếng, Tấm thường cho các Bống ăn mỗi ngày, nhường phần cơm của mình nuôi cá bống. Nhưng mẹ con Cám rình được biết Tấm nuôi cá bống nên lừa Tấm đi xa rồi ở nhà bắt cá bống lên giết thịt ăn hết. Cá bống bị chết Tấm buồn lắm, nhưng rồi nhờ những lọ xương cá bống mà tấm đã có quần áo đẹp để đi chơi hội.

Ngày hội năm đó, Tấm muốn đi chơi đấy nhưng mà mẹ kế tìm cách không cho Tấm đi, mẹ kế mang một đấu gạo một đấu thóc trộn lẫn vào nhau rồi bảo Tấm hãy nhặt gạo ra gạo, thóc ra thóc, rồi mới được đi chơi hội.

Bụt đã hiện lên và giúp đỡ Tấm, nhưng rồi Tấm lại thấy buồn vì mình không có quần áo đẹp. Nhưng bụt đã hóa phép những chiếc lọ chứa xương cá bống thành quần áo đẹp, xe ngựa và cả hài cho Tấm đi chơi hội.

Rồi Tấm làm rơi một chiếc hài, nhà vua ra lệnh ai đi vừa chiếc hài đó sẽ cưới làm vợ, nhiều người con gái đã thử nhưng không ai đi vừa chỉ có Tấm đi được chiếc hài nhỏ xinh xắn đó mà thôi. Chính vì vậy, hạnh phúc đã đến với người tốt Tấm thành hoàng hậu.

Ngày giỗ của cha Tấm về nhà lo cúng giỗ cha, mẹ kế và Cám âm mưu giết Tấm nên cho Tâm trèo lên cây cau rồi ở dưới họ đã chặt cây cau làm Tấm rơi xuống ao chết đuối. Cám và mẹ kế vội vàng vào cung để thay thế vị trí của Tấm.

Tấm chết oan nên hồn hóa thân thành chim vàng anh, Cám giết thịt vàng anh, nhưng rồi lông chim vàng anh biến thành hai cây xoan đào. Cám chặt hai cây xoan đào làm khung cửi dệt vải, rồi Cám tìm cách đốt khung cửi, bãi tro của khung cửi đó biến thành cây thị, trên cây thị chỉ có một quả thị vừa to vừa thơm.

Một bà cụ thấy vậy mới xin quả thị rơi rụng vào túi của mình mang về nhà ngửi. Rồi từ đó, mỗi lần bà lão đi bán nước, khi về nhà thấy nhà cửa dọn dẹp sạch sẽ, có cơm nước ngon lành. Bà cụ rình trộm thì thấy có một cô gái xinh đẹp từ quả thị bước ra, bà đã nắm tay cô gái và mong cô làm con nuôi mình hai mẹ con nương dựa nhau mà sống.

Rồi Tấm cũng được gặp lại nhà vua hai vợ chồng gặp nhau vui mừng khôn tả, rồi Tấm được đón vào cung tiếp tục làm hoàng hậu sống hạnh phúc bên chồng.

Truyện cổ tích Tấm Cám thể hiện việc người tốt sẽ gặp được những điều tốt lành trong cuộc sống, còn người xấu như mẹ con Cám đều phải trả giá cho hành động tội ác của mình. Truyện cổ tích Tấm Cám thể hiện cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, người thiện sẽ luôn chiến thắng cái ác. Đó là mơ ước của người dân ngàn đời nay.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 6

Truyện cổ tích Tấm Cám thuộc tiểu loại cổ tích thần kì, với kiểu nhân vật người con riêng chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh rất phổ biến trong kho tàng truyện cổ tích thế giới. Tấm là hình ảnh tiêu biểu cho kiểu nhân vật này, sau quá trình đấu tranh không khoan nhượng với cái ác cô đã giành được hạnh phúc về cho mình.

Tấm hiện lên với nhiều phẩm chất tốt đẹp, trước hết Tấm là cô gái chăm chỉ, thảo hiền. Tấm mồ côi cả cha và mẹ, từ nhỏ đã thiếu thốn tình yêu thương. Tấm là cô gái chăm chỉ, hiền lành, mọi việc trong nhà đều một tay cô làm: “hết chăn trâu gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo; đêm lại còn xay lúa giã gạo”, trong lần đi bắt tép cùng Cám, Tấm nhanh nhẹn, tháo vát bởi vậy mà chẳng mấy chốc cô đã lấy đầy giỏ tép. Không chỉ vậy Tấm còn lương thiện, biết chia sẻ với cả những sinh linh bé nhỏ nhất. Được bụt cho con cá Bống, cô nhường cơm, chăm sóc Bống như người bạn. Bống chính là chỗ dựa tinh thần để cô bớt cô đơn sau những giờ phút làm việc cực nhọc. Ngoài ra ta cũng cần thấy, Tấm còn là người con hết sức hiếu thảo. Thân tuy là hoàng hậu, nhưng ngày giỗ cha nàng vẫn về nhà làm giỗ, không chỉ vậy nàng còn đích thân leo lên cây cau để hái cau xuống thắp hương cho cha. Điều đó cho thấy tấm lòng chân thành, hiếu thảo của Tấm với người bố đã mất.

Mặc dù mang trong mình nhiều phẩm chất tốt đẹp để được hưởng cuộc sống hạnh phúc, nhưng cuộc đời Tấm lại chịu rất nhiều bất công. Sự bất công trước hết thể hiện trong phạm vi gia đình, nếu như Cám chỉ mải rong chơi thì Tấm lại là người gánh vác tất cả công việc trong nhà, nàng làm đến khuya vẫn chưa hết việc. Tấm bị bóc lột sức lao động. Không chỉ vậy nàng còn bị tước đoạt niềm vui, bị Cám cướp công giành được cái yếm đỏ; bị mẹ con Cám âm mưu giết chết bống – người bạn tinh thần giúp cô khuây khỏa nỗi lòng. Hình ảnh cục máu nổi lên cho thấy nỗi oan khuất hận thù, Tấm bật khóc nức nở và được Bụt hiện lên giúp đỡ. Sự bất công tiếp tục tăng lên, trong ngày hội, vì ghen ghét mẹ Cám không muốn cho Tấm đi hội, đã trộn thóc với gạo bắt Tấm nhặt riêng mỗi loại rồi mới cho Tấm đi dự hội.

Là người mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp, nên khi gặp những khó khăn, Tấm luôn được Bụt hiện lên giúp đỡ. Lần là đền bù phần thưởng bằng chú cá bống. Lần giúp Tấm có quần áo đẹp đi hội. Cùng bởi là người hiền lành, nên nhất định Tấm sẽ có kết cục hạnh phúc, bởi vậy khi đi qua chỗ lội nàng đánh rơi giày xuống nước, nhà vua nhặt được chiếc giày xinh xắn, ban lệnh ướm thử, Tấm thử vừa như in và trở thành hoàng hậu. Như vậy, nàng Tấm chịu qua bao nhiêu bất hạnh cuối cùng đã có một kết cục viên mãn.

Bên cạnh đó Tấm còn là người có sức sống mãnh liệt, có ý thức đấu tranh giành lại sự sống và hạnh phúc, điều này được thể hiện rõ nhất ở chặng thứ hai của truyện. Chặng thứ hai giúp cho câu chuyện Tấm Cám trở nên sâu sắc, giàu ý nghĩa hơn những câu chuyện cổ tích khác trên thế giới. Nếu như nàng Lọ Lem, chỉ dừng lại ở việc ướm giày xong và thành hoàng hậu sống một cuộc đời hạnh phúc, mẹ con dì ghẻ trốn biệt, không còn gặp lại nữa. Còn mẹ con Cám không chỉ ghen tị mà còn vô cùng độc ác, bức tử Tấm hết lần này đến lần khác. Bởi vậy, Tấm phải trải qua rất nhiều biến cố khác nhau để đến được bến bờ hạnh phúc.

Tấm tuy đã là hoàng hậu nhưng vẫn là một cô gái hiếu thảo, nàng vẫn về nhà và leo lên cây cau hái cau để thắp hương cho cha. Ở dưới, dì ghẻ đã đang tâm chặt gãy cây, Tấm ngã xuống ao chết, cái ác đã được nâng lên một cấp độ mới, sẵn sàng giết chết người khác để thỏa mãn mong muốn của bản thân. Nhưng chính giây phút bị bức hại ý thức trong Tấm đã bừng tỉnh, đúng như nhận xét của nhà nghiên cứu Bùi Mạnh Thị: “Thật kì lạ khi thể xác của cô Tấm bị giết hại thì ý thức của cô thức tỉnh. Dường như có một cô Tấm khác sống dậy không phải để bưng mặt khóc, để bị lừa dối mà tỉnh táo nhận diện, vạch mặt kẻ thù, để tìm lại hạnh phúc đã mất và tự tay trả thù”.

Nếu như ở phần trước của truyện Tấm thụ động, mềm yếu chỉ biết bưng mặt khóc mỗi khi bị áp bức, và nhờ sự trợ giúp của Bụt thì đến chặng thứ hai cô Tấm trở nên kiên cường, chủ động biến hóa từ kiếp này sang kiếp khác, đấu tranh kịch liệt với kẻ thù để giành hạnh phúc. Tấm biến hóa thành: chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi với lời đe dọa Cám: “Cót ca cót két/ Lấy tranh chồng chị/ Chị khoét mắt ra”. Và cuối cùng Tấm đã dành được hạnh phúc vốn thuộc về mình, mẹ con Cám bị trừng phạt, công lí dân gian đã được thực hiện: “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật thành công, mang tính khái quát cao, biểu trưng cho một kiểu người trong xã hội. Tính cách nhân vật chủ yếu bộc lộ qua hành động. Cốt truyện đa tình tiết, phát triển tự nhiên, hợp lí, ngoài ra kết cấu hai phần sáng rõ cho thấy sự phát triển trong tính cách nhân vật. Ngoài ra cần phải kể đến những yếu tố, nhân vật thần kì làm phù trợ cho nhân vật chính, đây cũng là yếu tố làm tăng sức hấp dẫn cho tác phẩm.

Qua tác phẩm ta thấy Tấm hiện lên với những phẩm chất vô cùng đẹp đẽ: hiền lành, chăm chỉ, hiếu thảo nhưng lại chịu nhiều bất công. Nhưng bằng quá trình đấu tranh không khoan nhượng với cái ác cô đã giành được hạnh phúc vốn có của mình. Tấm là nhân vật tiêu biểu thể hiện quan niệm, triết lí: “ở hiền gặp lành” của ông cha ta.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 7

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện cổ tích hay, để lại nhiều bài học sâu sắc và ý nghĩa cho con người về đạo lý, tình người, về phong cách sống, những quan niệm về thiện luôn luôn chiến thắng cái ác, hướng con người đến chữ “thiện” cao đẹp. Truyện Tấm Cám là một trong số những tác phẩm như thế, nhân vật cô Tấm là điển hình cho vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam, vừa đẹp người lại đẹp nết, dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn giữ được tính cách nhân hậu, đảm đang, chính vì thế nàng đã có được hạnh phúc sau cùng.

Cuộc đời của cô Tấm được chia ra làm hai phần chính là trước khi vào cung làm hoàng hậu và sau khi vào cung làm hoàng hậu. Và trong cả hai quá trình áy cô Tấm đều gặp rất nhiều khó khăn, vất vả do bàn tay độc ác của mẹ con nhà Cám gây nên. Tấm từ nhỏ đã gặp nhiều bất hạnh, vốn sinh ra trong môt gia đình không mấy khá giả, mẹ mất từ khi Tấm còn nhỏ xíu, cha lại cũng không thương yêu mà vội đi lấy vợ khác, sinh thêm cho Tấm một đứa em là Cám. Kể từ đây cuộc đời Tấm bắt đầu bước vào chuỗi ngày cực khổ không tả xiết, đặc biệt là từ khi cha mất, dì ghẻ lại càng được nước lấn tới hành hạ Tấm, bắt Tấm làm những công việc đồng áng nặng nhọc, còn bản thân mẹ con họ thì ăn trắng mặc trơn.

Tấm trở thành người ngoài ngay trong chính căn nhà của mình, thật bất hạnh biết bao. Thế nhưng Tấm là người chịu thương chịu khó, rất ngoan ngoãn nghe lời mẹ kế, chăm chỉ làm việc, dần dần trưởng thành, trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. lại nết na, đảm đang. Còn ngược lại Cám chỉ biết lười biếng, lại còn hay ghen ghét với chị dù được sống sung sướng. Trong truyện những mâu thuẫn đầu tiên của Tấm và Cám bắt nguồn từ việc dì ghẻ sai hai chị em đi xúc tép, ai xúc được nhiều thì dành cho cái yếm đỏ. Các cô gái trẻ thời xưa thì được cái yếm mới có màu sắc sặc sỡ như thế thì thích lắm, một người vốn hiền lành chẳng tranh giành như Tấm cũng vô cùng ao ước có được cái yếm đỏ ấy. Thế nên Tấm ra sức cần mẫn xúc thật nhiều tép, chẳng mấy chốc mà Tấm đã đầy giỏ, ngược lại cô Cám vì lười lại thêm không khéo léo nên chẳng xúc được con nào. Nhưng vốn là con người láu cá, ranh ma biết tỏng Tấm là người thật thà, lương thiện nên Cám đã lừa Tấm đi gội đầu để trút hết cả tép của Tấm, rồi về và chiếm lấy cái yếm đỏ, theo logic thông thường chắc chắn bà dì ghẻ biết được việc làm của Cám nhưng vẫn mắt nhắm mắt mở bởi Cám là con ruột của bà ta, mà có khi cho dù Tấm có mang được giỏ tép về thật thì chưa chắc đã có được cái yếm. Chung quy lại tấm lòng thật thà chất phác của Tấm thật phí phạm cho mẹ con nhà này. Ngược lại cô Tấm sau khi phát hiện mình bị lừa, thì bất lực chỉ biết ngồi khóc mà không thể làm gì hơn, bởi cô hiểu quá rõ hai mẹ con nhà Cám, chắc chắn cô không thể đòi lại công bằng cho mình và lâu dần những chuyện như này đã trở nên quen thuộc với Tấm, Tấm chỉ biết nhẫn nhịn, cô khóc vì thương tấm thân mình bất hạnh, khổ sở chứ không phải vì không được cái yếm đỏ.

Nhưng có lẽ thấu hiểu được tấm lòng của Tấm, nên trời đã phái Bụt xuống chỉ cho Tấm đem con cá bống về nuôi. Mặc dù không biết nuôi để làm gì nhưng với lòng tin vào sự nhân hậu của Bụt, niềm yêu thương động vật, con cá Bống như là niềm an ủi nhỏ nhoi cho sự bất hạnh của Tấm, giúp Tấm nguôi ngoai nỗi buồn và có thêm một người bạn tâm tình mỗi khi Tấm bế tắc. Dù chỉ là một chú cá nhỏ nhưng Tấm dành cho nó rất nhiều tình yêu thương, tựa như đứa em của mình vậy, Tấm vốn không được yêu thương, nên phần cơm ăn cũng ít, nhưng nàng vẫn chia nửa số cơm của mình để chăm Bống, chính vì vậy Bống lớn nhanh như thổi. Những tưởng Bống sẽ theo Tấm bầu bạn mãi mãi, nhưng không ngờ mẹ con Cám đã sớm theo dõi Tấm từ lâu, đang tâm lừa Tấm đi chăn trâu ở đồng xa, rồi ở nhà giết thịt cá Bống. Xét kỹ hai mẹ con Cám không phải chỉ vì ham ăn thịt con cá Bống mà tất cả chỉ vì xuất phát từ lòng ghen ghét đố kỵ, đang tâm hành hạ tinh thần Tấm, nên mới giết đi vật nuôi của nàng, thật sự rất đáng ghét. Cô Tấm thật thà nghe lời đi làm lụng vất vả, tối về thì lại phát hiện cá đã chết, chỉ còn lại cục máu nổi lềnh phềnh dưới giếng, đây quả thực là cú sốc tinh thần cho Tấm, bởi bấy lâu nay Tấm yêu thương chăm bẵm Bống như người thân ruột thịt vậy mà giờ nó lại bị giết hại một cách tàn nhẫn. Cũng như mọi khi Tấm lại gục mặt xuống khóc nức nở, Bụt hiện ra chỉ cho Tấm nhặt lấy xương của Bống bỏ vào lọ chôn ở chân giường. Tấm không hiểu tại sao lại làm vậy, nhưng cô cũng không hỏi mà chỉ lẳng lặng làm theo, một phần vì xót thương Bống, một phần có lẽ Tấm cũng hiểu được rằng lời của Bụt ắt có huyền cơ, không nên tò mò quá nhiều, tò mò sẽ hại chết con mèo. Điều đó càng chính tỏ Tấm là con người ngay thẳng, hiền hòa, một lòng tôn kính và tin tưởng thần phật.

Chính vì tấm lòng lương thiện, tinh thần chịu thương chịu khó nhưng lại gặp phải nhiều trớ trêu bất hạnh, nên cuối cùng Tấm cũng đã được đền đáp. Ngày Vua mở hội chọn Hoàng hậu, Tấm bị ép ở nhà nhặt đậu, lúc này đây thâm tâm người thiếu nữ vừa bất lực vì một công việc lạ lùng ắt chỉ để hành hạ nàng, vừa đau khổ vì đến cả quyền mưu cầu hạnh phúc như những cô con gái khác nàng cũng không có được. Nàng lại gục đầu xuống khóc, Bụt lần nữa hiện ra, sai chim giúp nàng nhặt đậu chỉ nàng đào xương cá lấy đồ đẹp mặc đi dự hội. Ôi thế hóa ra bao nhiêu công sức của Tấm bấy lâu nay cuối cùng cũng đã được đền đáp, Tấm cuối cùng cũng có một lần hạnh phúc rồi. Như ý nguyện Tấm được vua chọn vào cung trở thành mẫu nghi thiên hạ, vua cũng hết lòng yêu thương Tấm vì nàng vừa đẹp người lại đẹp cả nết.

Sau khi đã trở thành hoàng hậu, cuộc đời Tấm đã bước sang một trang mới, nhưng nàng vẫn giữ được cho mình những đức tính tốt đẹp vô cùng, đặc biệt là tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ. Ngày giỗ cha, mặc dù có thể để kẻ hầu người hạ hái cau để cúng, nhưng nàng vẫn tự mình trèo cây để tỏ lòng thành. Đáng tiếc thay tấm lòng ấy của Tấm lại bị chính mẹ con Cám lợi dụng mưu hại Tấm, nhằm thay thế vị trí của Tấm trong cung. Một điểm mới lạ ở nhân vật Tấm là sau khi trở thành hoàng hậu và chết đi, dường như sự mạnh mẽ trong ý thức của Tấm mới có cơ hội thực sự sống dậy. Tấm không còn là người con gái chỉ biết ôm mặt khóc khi gặp khó khăn mà đã trở nên mạnh mẽ, sẵn sàng trả thù, đòi lại công bằng khi bị kẻ khác hãm hại. Tiêu biểu là việc hóa thành chim vàng anh làm bạn với vua, khiến vua yêu thích không rời, mà bỏ mặc Cám, sau đó lại mọc thành cây xoan đào đẹp đẽ, vua yêu thích mắc võng nằm nghỉ ngơi, khiến Cám đố kị không thôi. Đến khi cây bị chặt làm khung cửi, hồn Tấm vẫn hiện về cảnh cáo, đe dọa Cám rằng: “Kẽo cà kẽo kẹt, lấy tranh chồng chị chị khoét mắt ra”. Cám sai người đốt khung cửi chỗ tro than đó lại mọc thành cây thị, cây thị có độc một quả, quả ấy là hóa thân của nàng Tấm, như vậy sức sống của nàng Tấm mãnh liệt, không ngừng nghỉ dù nhiều lần bị Cám tàn ác ra tay trừ khử, nhưng cuối cùng nhờ tấm chân tình, sự kiên trì mạnh mẽ, Tấm và hoàng thượng vẫn nhận ra nhau nhờ miếng trầu têm cánh phượng xinh đẹp.

Cuối truyện có nhiều người nhận xét rằng, thực ra Tấm cũng không phải là người nhân từ gì cho cam, cũng độc ác khi cho người dội nước sôi xử chết Cám, một số kết khác thậm chí Tấm còn sai người lấy thịt Cám làm mắm cho dì ghẻ ăn để trừng phạt. Quả thực đó là những việc vô cùng tàn nhẫn, nhưng xét vào bối cảnh thời phong kiến, việc ra tay trừng trị như vậy là hoàn toàn có thể, đặc biệt Cám đã gây ra biết bao tội lỗi với Tấm, biết bao lần hành hạ trù dập, thậm chí là giết cả chị, rồi tranh cả chồng của chị. Xét về đạo đức quả thật Cám là người vô sỉ, tội chồng tội, bị chết cũng đáng lắm. Nếu như cô Tấm tiếp tục nhân từ không xử chết Cám, thì biết đâu một ngày nào đó người phải chết lại chính là nàng, Tào Tháo từng có câu rất kinh điển: “Nhân từ với kẻ thù chính là tàn nhẫn với bản thân”, quả đúng trong trường hợp này.

Như vậy cô Tấm là tổng hòa của những vẻ đẹp và phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam, nhân hậu, hiếu thảo, chịu thương chịu khó, nhẫn nhịn. Sau khi trải qua nhiều sóng gió từ một cô gái yếu đuối ngây thơ Tấm đã vùng lên chống lại cái ác, với sức sống mãnh liệt, tình cảm thủy chung son sắt với hoàng thượng. Đồng thời sẵn sàng ra tay trừng phạt kẻ thủ ác. Câu chuyện nhằm hướng con người đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống, răn dạy con người về việc “gieo nhân nào gặp quả ấy”, cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác, hướng con người ta sống với những phẩm chất tốt đẹp, tránh xa thói vị kỷ, ghen ghét đố kỵ và ám hại lẫn nhau trong xã hội.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 8

Truyện cổ tích Tấm Cám từ lâu đã được biết đến là một truyện cổ tích khá nổi tiếng và thu hút được rất nhiều người đọc và biết đến. Hình ảnh cô Tấm hiền lành cũng luôn xuất hiện trong ký ức của mỗi em nhỏ và trở thành một nhân vật luôn đại diện cho sự hiếu thảo, hiền lành và tốt bụng. Thông qua Tấm thì tác giả dân gian cũng đã gửi gắm rất nhiều ước mơ, lý tưởng về sự công bình. Nhân vật Tấm cũng chính là một nhân vật trung tâm trong truyện cổ tích “Tấm Cám”

Không khó có thể nhận thấy được “Tấm Cám” là truyện cổ tích thuộc kiểu truyện về người mồ côi và đặc biệt dễ nhận thấy được ở truyện lại mang yếu tố thần kì. Truyện cổ tích đặc sắc và tiêu biểu cho cổ tích của Việt Nam thì “Tấm Cám” thuộc loại truyện đã phản ánh số phận của cô gái mồ côi, nhân vật chính trong truyện cũng lại bất hạnh cùng mơ ước luôn mong muốn được đổi đời và công lí xã hội của người lao động chân chất và rất hiền lành. Đọc truyện “Tấm Cám” người ta nhận thấy được số phận của nhân vật trung tâm là cô Tấm. Hình ảnh của cô Tấm dường như cũng đã lại gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại cái ác và cái xấu qua hai chặng đời đấu tranh của cô được thể hiện rõ trong truyện đó chính là người con mồ côi bị ức hiếp và sau khi trở thành vợ vua sống một cuộc sống hạnh phúc và viên mãn nhất.

Tác giả dân gian cũng đã xây dựng nhân vật cô Tấm mồ côi vốn hiền lành, chăm chỉ, luôn luôn bị mẹ con Cám chà đạp và hãm hại không thương tiếc. Ngay ở phần đầu câu chuyện thì người ta đã bắt đầu nhận thấy được sự mâu thuẫn dù còn nhỏ. Đó chính là chuyện đi bắt tép mà mụ dì ghẻ sai Tấm và Cám đi. Nếu ai mà bắt được nhiều hơn thì sẽ được thưởng cho cái yếm đỏ, Tấm thì chăm chỉ nên bắt được nhiều hơn. Cứ ngỡ rằng Tấm sẽ là người nhận được phần thưởng, thế nhưng bằng mưu mô của mình mà Cám đã lừa chị Tấm để trút hết tôm tép vào giỏ của mình và đi về trước nhận thưởng của mẹ. Tấm như bất lực trước hành động của Cám và cô cũng chỉ còn biết khóc mà thôi. Bụt hiện lên và bảo cô nhìn vào giỏ xem còn cái gì không thì quả nhiên còn một con cá bống. Nghe lời bụt dặn thì cô Tấm mang cá bống về nuôi, hàng ngày để dành ra một bát cơm để nuôi cá bống trong giếng cùng với câu gọi mà Bụt căn dặn. Thế nhưng nuôi chẳng được bao lâu thì cá bống cũng bị mẹ con Cám bắt ăn thịt.

Tiếp theo đó chính là sự việc khi được tin nhà vua mở hội, Tấm lại bị dì ghẻ hành hạ bằng cách bắt nhặt thóc gạo trộn lẫn với nhau, xong mới được đi xem hội. Thực sự người đọc như nhận thấy được cứ mỗi lần mà cô Tấm mà bị hà hiếp, Tấm dường như cũng chỉ biết khóc mà thôi. Tiếng khóc của Tấm như chứng tỏ một điều đó chính là Tấm cũng đã ý thức được nỗi khổ của chính mình và đó là một thái độ phản kháng mang tính thụ động và mềm yếu.

Khi cô Tấm lại trở thành hoàng hậu rồi nhưng vẫn bị cái ác tiêu diệt và luôn luôn đe dọa. Hình ảnh cô Tấm hiền lành, lương thiện khi vừa bị giết chết thì ngay lập tức ta lại thấy được có một cô Tấm mạnh mẽ và quyết liệt sống dậy, trở về với cuộc đời để đòi hạnh phúc cho chính mình và ngày càng quyết liệt hơn nữa. Khi cô Tấm hóa vàng anh thì điều này dường như cũng đã lại báo hiệu sự có mặt của mình thì bị giết chết rồi. Cô Tấm thêm lần nữa lại hóa cây xoan đào (khung cửi), và không ngại ngần khi tuyên chiến với kẻ thù thì bị đốt cháy nhẫn tâm. Tro khung cửi vứt bên vệ đường thì lại mọc lên cây thị. Biết bao nhiêu lần chết đi rồi lại tỉnh lại của Tấm như khẳng định một sức sống vô cùng mãnh liệt không hề dễ dàng bị tiêu diệt. Và đó phải chăng cũng chính là thông điệp của người dân muốn gửi gắm cái thiện không bao giờ chịu khuất phục trước cái ác, cũng không bao giờ bị đánh bại. Hình ảnh con chim vàng anh, cây xoan đào (khung cửi) hay đó còn là hình ảnh của cây thị (quả thị) đều chính là những vật cô Tấm gửi gắm linh hồn. Đồng thời những hình ảnh này dường như cũng là những vật bình dị thân thương trong cuộc sống dân dã của nhân dân lao động.

Biết bao lần hóa thân chiến đấu chống kẻ thù, nhân vật cô Tấm trở lại với cuộc đời. Dường như Tấm cũng đã hiểu rằng không thể có hạnh phúc trọn vẹn nếu cái ác còn tồn tại được. Chính vì thế mà cũng đã có hành động ở cuối tác phẩm đó chính là cô lừa Cám tự dội nước sôi lên người và làm mắm gửi về cho mụ dì ghẻ. Khi cái ác bị tiêu diệt hoàn toàn thì lúc đó Tấm mới có thể sống trọn vẹn được hạnh phúc của mình. Và thông qua câu chuyện thì cha ông ta cũng đã thể hiện được những triết lý thông qua câu chuyện cổ tích Tấm Cám này chính là “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo” thực sự cũng vô cùng phù hợp với mong ước của nhân dân về sự trừng phạt kẻ thù. Có thể nhận thấy được sau bao đau khổ, sau bao nhiêu lần Tấm cứ chết đi sống lại nhiều lần thì cuối cùng Tấm nhận được hạnh phúc trọn vẹn nhất.

Hình ảnh cô Tấm nghèo khổ, lương thiện luôn luôn bị các thế lực khác chèn ép và khiến cho cô nhiều lúc đến đường cùng. Thế nhưng đến cuối cùng thì Tấm vẫn được hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Truyện cổ tích luôn được cha ông ta gửi gắm những ước mơ, ước mơ đổi đời của những người lao động nghèo. Thông qua hình ảnh của Tấm sống thảo hiền thì tác giả dân gian cũng đã tái hiện được bức tranh về một xã hội lí tưởng luôn có cái thánh thiện và sống lương thiện luôn được hạnh phúc, kẻ độc ác cũng sẽ bị trừng trị thích đáng.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 9

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, truyện cổ tích đã đóng góp một số lượng tác phẩm đồ sộ, có ý nghĩa giáo dục to lớn, hướng con người ta đến tư tưởng hành việc thiện, đấu tranh chống lại cái ác, rèn luyện lối sống tốt đẹp. Cũng như trở thành món ăn tinh thần hấp dẫn của nhiều độc giả thiếu nhi trên khắp cả nước, gắn bó sâu sắc với tuổi thơ của nhiều thế hệ. Trong đó câu chuyện Tấm Cám là một câu chuyện phổ biến, được xếp vào hàng kinh điển, cách xây dựng cốt truyện cùng quá trình chuyển hóa, trưởng thành của nhân vật đã đem đến cho người đọc nhiều xúc cảm, cũng như những bài học nhân văn sâu sắc. Nhân vật cô Tấm là nhân vật trung tâm của tác phẩm, là nhân vật cổ tích được yêu thích trong nhiều thế hệ trở thành hình mẫu lý tưởng, ví von tốt đẹp để chỉ những cô gái xinh đẹp, hiền lành. Mà trong truyện Tấm Cám nhân vật này cũng có khá nhiều khía cạnh tính cách thú vị cần phân tích.

Tấm ngay từ thuở nhỏ đã có cuộc sống khổ cực bất hạnh, mồ côi mẹ ngay từ khi còn bé, ít lâu sau thì bố lại cưới vợ mới. Tuy dì ghẻ ghét Tấm nhưng vì còn bố, nên Tấm cũng đỡ phần này khổ cực. Chỉ không may rằng, không bao lâu sau bố đẻ của Tấm cũng qua đời, khiến cô lâm vào cảnh tứ cố vô thân trong chính căn nhà của mình, ngày ngày phải chịu sự chèn ép của người mẹ kế và cô em gái cùng cha khác mẹ.

Dù là con vợ cả thế nhưng Tấm phải làm việc quần quật bất kể ngày đêm, “hết chăn trâu, gánh nước, vớt bèo, thái khoai, đêm lại còn xay lúa giã gạo mà không hết việc”, trái lại Cám lại được ăn trắng mặc trơn, chỉ quanh quẩn ở nhà không phải làm việc nặng bao giờ. Từ đây người ta thấy được một vẻ đẹp của Tấm ấy là sự chăm chỉ, đảm đang trong công việc lao động. Nhưng đồng thời cũng nhận ra giữa Tấm và mẹ con Cám đã xảy ra mâu thuẫn, ấy là sự đối xử bất công và sự bóc lột sức lao động một cách độc ác, cay nghiệt đối với thành viên trong gia đình. Không chỉ vậy Tấm còn bị bóc lột cả về vật chất và tinh thần, khi mụ dì ghẻ đề ra chuyện thi bắt tép, treo thưởng cái yếm đỏ. Rõ ràng mụ thừa biết rằng cô con gái của mình chẳng bao giờ biết mò tép, nhưng vẫn nhắm mắt trao thưởng cho Cám, còn để Tấm phải chịu thua, trong buồn tủi và ấm ức.

Thế nhưng Tấm là người con gái yếu đuối, nhẫn nhịn, trước sự bất công Tấm dường như quen thuộc và chai lỳ, nàng chỉ biết khóc lóc, tủi phận. Bụt lúc này hiện lên giúp đỡ, chỉ cho Tấm đem Bống về nuôi trong giếng, nàng mới tìm lại được chút niềm vui sống, hạnh phúc khi quanh quẩn bên chú cá nhỏ. Tuy nhiên sự ghen ghét, đố kỵ của mẹ con dì ghẻ không bao giờ buông tha cho Tấm, họ sẵn sàng lừa Tấm đi chăn trâu xa để giết thịt Bống, tước đoạt đi niềm vui và giá trị tinh thần duy nhất Tấm hiện có. Nhưng Tấm trước tình cảnh bị chèn ép như vậy vẫn chỉ cắn răng chịu đựng và khóc lóc, nàng không biết phải phản kháng hay đấu tranh như thế nào. Lần nữa Bụt lại hiện lên chỉ dạy cho Tấm đem xương cá đi chôn, ngày sau ắt có lúc dùng đến.

Tấm đã sống trong căn nhà ấy, với thân phận như một kẻ ở, chịu nhiều khổ sở, bị tước đoạt đi sức lao động, niềm vui, giá trị tinh thần, thậm chí sự cay nghiệt của mẹ con Cám còn tận cùng đến độ tước đoạt của Tấm cả quyền được mưu cầu hạnh phúc. Tấm khao khát được đi chơi hội, bởi dù khổ sở, mệt mỏi với công việc đồng áng, nhưng bản thân Tấm cũng đã lớn, đã trở thành một thiếu nữ, nàng cũng ước mong có những phút giây vui vẻ, giao hòa với xã hội, xa hơn là kiếm cho mình một tấm chồng, có cuộc sống điền viên. Thế nhưng mẹ con Cám không cho Tấm được cái quyền ấy, mụ dì ghẻ đã tìm cách ngăn chặn Tấm mưu cầu hạnh phúc bằng việc trộn lẫn gạo và thóc, rồi bắt nàng phải lựa cho xong rồi mới được đi chơi hội. Rõ ràng đó là một chuyện hết sức khó khăn, Tấm có siêng năng nhặt nhạnh đến đâu thì khi xong hội cũng đã tàn.

Lúc này đây đến cả mong ước cuối cùng cũng bị mẹ con Cám chặt đứt, bản thân Tấm lại không thể phản kháng, sự yếu đuối, nhu nhược khiến Tấm chỉ còn cách khóc lóc để xả mối tủi hờn trong lòng. May mắn thay sự yếu đuối, bất lực của Tấm trước thực cảnh bế tắc lại luôn có sự giúp đỡ của Bụt, Bụt sai một bầy chim đến nhặt thóc giúp Tấm, lại chỉ Tấm đào xương cá lên lấy đồ đi dự hội. Và cuối cùng bằng sự giúp đỡ của Bụt, Tấm đã thoát khỏi sự chèn ép của mẹ con Cám để đến gần hơn với hạnh phúc của bản thân. Đặc biệt sự kiện đánh rơi hài đã dẫn nàng đến một chặng đường mới, mà ở đây nàng vừa được nếm trải hạnh phúc tuyệt vời, cũng đồng thời lại rơi vào mối mâu thuẫn gay gắt hơn với mẹ con Cám.

Nhà vua sau khi mò được chiếc hài của Tấm đánh rơi, thì ra lệnh cho các cô gái lần lượt đến thử hài, ai đi vừa người sẽ lấy về làm vợ.

Mẹ con Cám cũng thử nhưng rất tiếc không vừa, nhưng khi Tấm ướm thử thì vừa in, ngay hôm đó nhà vua đã cho người rước Tấm về làm hoàng hậu, nàng hưởng cuộc sống nhung lụa, ấm êm và có được tình yêu thương của nhà vua, đó là thứ trước đây nàng chưa từng nghĩ đến, đồng thời cũng là sự đền bù cho những ngày tháng khổ cực của Tấm trước đây. Tuy nhiên, sự sung sướng, hạnh phúc của Tấm lại trở thành nỗi ghen ghét oán hận của hai kẻ hám danh lợi là mẹ con Cám. Chúng đã ủ mưu giết Tấm, để đưa Cám thế vào vị trí hoàng hậu thay chị. Còn bản thân Tấm, nàng vốn là người con gái hiền lành, thậm chí nói quá là thì có chút nhu nhược, bản thân nàng không thể nhận ra những âm mưu cay độc của mẹ con Cám khi chúng xởi lởi mời nàng về làm giỗ cha.

Mà Tấm dù ở cương vị hoàng hậu, nhưng nàng vẫn một lòng làm tròn đạo hiếu, sẵn sàng tháo giày, trèo lên cây cau theo lời của dì ghẻ để hái cau vào cúng cha. Sự ngây thơ, tin tưởng sai chỗ cùng với bản tính thật thà của nàng đã trở thành trợ lực khiến kẻ xấu được lợi, còn nàng phải chịu cái chết đầy oan ức. Tuy nhiên cái chết của Tấm đã trở thành nền tảng khiến nàng trở nên mạnh mẽ, không còn thụ động khóc lóc, hay cam chịu như khi còn ở nhà. Bởi lẽ lần này mâu thuẫn giữa nàng và mẹ con Cám không còn nằm ở việc bị đối xử bất công, sự bóc lột các giá trị vật chất tinh thần trong gia đình nữa mà chuyển sang một mâu thuẫn gay gắt hơn ấy là sự tranh đoạt về địa vị, quyền lợi xã hội và quan trọng nhất là mạng sống. Tấm đã vùng lên đấu tranh một cách thần kỳ, cố gắng tìm cách quay trở về hoàng cung bằng các hóa thân khác nhau, ban đầu thì là chim vàng anh, sau là cặp xoan đào, rồi đến khung cửi, cuối cùng là bằng thân xác người phàm chiu ra từ quả thị.

Bộc lộ sức mạnh ý chí tinh thần ham sống mạnh mẽ, quyết liệt, không chấp nhận việc hoàn toàn chết đi để được lợi cho kẻ thù. Không chỉ dừng lại ở ý chí sống còn, mà Tấm còn có những đòn phản công mạnh mẽ, khéo léo, đầu tiên là biến thành chim vàng anh quay về cung quấn quýt bên vua, khiến Cám bị ghẻ lạnh. Khi bị Cám giết, vứt lông ra vườn thì lập tức mọc thành hai cây xoan đào để ngày ngày vua mắc võng hóng mát, Cám tiếp tục nhận lấy sự thờ ơ của vua. Như vậy lần này Tấm mới chỉ đơn giản là giành lại hạnh phúc của bản thân thông qua những hóa thân khác nhau, đồng thời cho Cám nếm trải mùi vị bị lạnh nhạt, xa cách, khiến nàng ta đau khổ vì bản thân còn không bằng một con chim, một cây gỗ vô tri. Điều đó khiến Cám càng trở nên cay độc hơn khi chặt cây xoan đào làm khung cửi, để triệt hạ tận gốc sự sống của Tấm, nhưng đáng tiếc Tấm vẫn quay về với lời đe dọa như dự báo trước một kết cục đầy bi thảm cho sự tàn nhẫn của Cám “Cót ca cót két, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”.

Sự đe dọa trắng trợn và khủng khiếp đã khiến Cám hoảng sợ vô cùng, bèn đem đốt khung cửi và ném tro ra thật xa hoàng cung, những tưởng đã diệt trừ được hậu họa. Nhưng không ngờ từ chỗ tro tàn lại mọc lên cây thị, ra độc một trái to và thơm, rồi được một bà lão bán nước xin mang về để trong nhà. Tấm tái sinh, trở lại làm người sau nhiều lần hóa kiếp, và có cuộc gặp gỡ với nhà vua, chồng nàng nhờ miếng trầu têm cánh phượng. Hai người lưỡng tình tương duyệt, cuộc hội ngộ bất ngờ đã khiến nhà vua vô cùng hạnh phúc, liền lập tức đó Tấm về cung, trả lại vị trí hoàng hậu cho nàng. Tấm sau khi trở về đối với kẻ đã nhiều lần hãm hại mình, nàng không muốn và cũng không cần nương tay.

Cũng như thuở trước mẹ con Cám đã làm với mình, Tấm lập mưu lừa Cám nhảy vào hồ nước sôi bỏng chết, mụ dì ghẻ nghe tin con chết thì cũng lăn đùng ra chết theo. Có thể nói rằng sự trả thù, trừng phạt của Tấm là hoàn toàn thích đáng so với những gì mà mẹ con Cám đã gây ra cho nàng. Tính ra bản thân Tấm đã phải chịu sự tước đoạt mạng sống nhiều lần, và đều do hai kẻ độc ác này gây ra. Thế nên chỉ có cái chết mới có thể đền tội của chúng. Thêm vào đó cái chết và sự tái sinh của Tấm chính là một màn lột xác tất yếu, là sự vùng lên phản kháng mạnh mẽ, khẳng định cái thiện tất sẽ không bao giờ bị hủy diệt và luôn luôn chiến thắng cái ác. Sự mạnh mẽ, dứt khoát, thông minh của Tấm sau khi sống lại mới là một đức tính cần có của người mẫu nghi thiên hạ, chỉ khi nàng trở nên cứng rắn, tự bảo vệ được mình thì nàng mới có được hạnh phúc đích thực. Bởi rõ ràng trong suốt quá trình, khi nàng mới về làm hoàng hậu, dù được vua yêu thương, nhưng bản thân nàng cũng phải chịu cái chết oan ức, vua cũng không tìm cách điều tra nguyên nhân mà dễ dàng cho Cám vào cung thế vị trí của chị.

Tấm Cám là một câu chuyện cổ tích hay và lâu đời có nhiều ý nghĩa giáo dục xoay quanh cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, răn dạy con người phải sống lương thiện, không nên làm những việc sai trái, tước đoạt đi vật chất, quyền lợi và cả tính mạng của người khác. Bên cạnh đó nhân vật cô Tấm là một nhân vật có ý nghĩa lớn, đầu tiên người ta ấn tượng với những vẻ đẹp của sự chăm chỉ, hiền lành, biết nhẫn nhịn, sau đó là sức sống tiềm tàng mạnh mẽ thông qua những lần tái sinh chuyển kiếp. Đồng thời là sự trưởng thành trong suy nghĩ, sự cứng rắn trong nội tâm, cũng như sự phản kháng, trả thù mạnh mẽ những kẻ đã gây ra đau khổ cho mình. Khẳng định quy luật muôn đời rằng cái thiện sẽ luôn chiến thắng cái ác dù đó là trong sự vùi dập cường đại của kẻ xấu hay bất kỳ hoàn cảnh khó khăn ngặt nghèo nào.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 10

Từ xa xưa, trong kho tàng văn học Việt Nam có vô vàn những câu truyện cổ tích ý nghĩa răn dạy mỗi con người chúng ta. Những mẩu chuyện về tấm lòng nhân hậu, về lòng nhân ái.Trong đó có cả cái thiện luôn luôn hiện hữu xung quanh cuộc sống chúng ta và cái ác luôn bị cái thiện chiến thắng. Truyện Tấm Cám là một trong số những tác phẩm như thế, truyện kể về cô Tấm xinh đẹp đảm nhân hậu luôn bị mẹ con ghì ghẻ ghẻ lạnh và hãm hại. Cô Tấm là điển hình cho vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam, vừa đẹp người lại đẹp nết, dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng tâm hồn vẻ đẹp của nàng luôn mãi sáng ngời.

Tấm từ nhỏ sinh ra đã vốn hiền lành nhân hậu. Mẹ Tấm mất sớm, ba tấm lấy vợ hai Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám và rồi sau đó mấy năm cha Tấm cũng qua đời. Ghì ghẻ vốn là người nham hiểm độc ác kể cả về lời nói và hành động. Dì ghẻ phân biệt đối xử với em là Cám, cay nghiệt với Tấm bắt Tấm phải làm hết mọi việc nặng nhọc từ việc nhà đến việc chăn trâu cắt cỏ. Tấm phải làm việc vất vả quần quật từ sáng tới tối mà không hết việc trong khí đó mẹ con nhà Cám luôn ngắm khía ăn trắng mặc trơn. Cám hằng ngày chỉ chơi không phải động tay chân việc gì trái ngược hoàn toàn với Tấm. Ấy vậy mà nàng Tấm hiền lành nhân hậu không hề cãi lại hay tỏ bất cứ thái độ nào cả. Nàng chỉ biết vâng lời và chịu đựng làm theo.

Tấm chịu thương chịu khó, hàng này làm việc đều đặn. Cám sống trong sung sướng chính vì vậy sự nuông chiều quá đà khiến Cám trở thành một con người nham hiểm luôn ghen ghét chị của mình mặc dù được sung sướng giống hệt bản chất của mẹ mình. Sống trong một gia đình nhưng Tấm đã trở thành người ngoài từ bao giờ. Nếu trong xã hội xưa gia đình có hai chị em thì tấm lòng thương thảo yêu thương đùm bọc nhau luôn được đặt lên đầu. Nhưng đối với Cám chuyện giúp đỡ chị mình là điều không bao giờ xảy ra.

Trong truyện những mâu thuẫn đầu tiên của Tấm và Cám bắt nguồn từ việc dì ghẻ sai hai chị em đi xúc tép, ai xúc được nhiều thì dành cho cái yếm đỏ. Vốn làm lụng chăm chỉ thường ngày Tấm ra đồng một lúc là đã bắt được đầy giỏ, Còn về phần Cám sống trong sung sướng đâu biết việc bắt tôm tép là gì. Chỉ rong chơi bắt bướm hết ruộng này đến ruộng khác. Nhưng vốn là con người láu cá, ranh ma Cám lợi dụng tấm lòng tin người thật thà của Tấm mà lừa nàng đi gội đầu tránh việc về nhà bị mẹ mắng. Cám trút hết tép ở giỏ Tấm vào giỏ mình và tung tăng ra về nhận yếm đỏ mặc kệ Tấm. Ngược lại cô Tấm sau khi phát hiện mình bị lừa, chỉ biết ôm mặt rồi khóc. Nàng Tấm trở lên yếu đuối chỉ biết khóc lóc khi gặp chuyện khó khăn, bởi cô hiểu quá rõ hai mẹ con nhà Cám, chắc chắn cô không thể đòi lại công bằng cho mình và lâu dần những chuyện như này đã trở nên quen thuộc với Tấm.

Hiểu được sự bất hạnh của nàng. Bụt xuất hiện và chỉ cách để Tấm nuôi cá Bống còn sót lại trong giỏ. Tấm hiền lành lại có bạn để sống cùng. Cứ mỗi bữa ăn, Tấm đều để dành cơm, giấu đưa ra cho bống. Bống lớn nhanh như thổi. Những tưởng Bống sẽ theo Tấm bầu bạn mãi mãi, nhưng không ngờ mẹ con Cám đã sớm theo dõi Tấm từ lâu lừa Tấm để rồi ở nhà thịt cá Bống ăn. Cũng như mọi khi Tấm gọi không thất Bống đâu chỉ thấy một cục máu nàng lại gục mặt xuống khóc nức nở. Bụt hiện lên và rặn Tấm nhặt xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống dưới bốn chân giường mình. Tấm không hiểu nhưng luôn ngoan ngoãn làm theo.

Khi làng mở hội Tấm cũng bị mụ dì ghẻ tìm cách không cho đi bằng cách bắt nàng nhạt đậu. Nàng lại gục đầu xuống khóc, Bụt lần nữa hiện ra, sai chim giúp nàng nhặt đậu chỉ nàng đào xương cá lấy đồ đẹp mặc đi dự hội. Cuối cùng hạnh phúc đã đến với Tấm. Nàng được Vua chọn làm hoàng hậu, đưa về hoàng cung hết mực chiều chuộng.

Cuộc đời Tấm sau khi vào cung đã được như ý muốn hạnh phúc và vui vẻ. Nhưng rồi mẹ con Tấm đâu để nàng sống dễ dàng. Dù đã là Hoàng hậu nhưng Tấm vẫn không quên ngày giỗ cha – đó là một truyền thống quý báu của dân tộc ta, ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây, con cái không bao giờ được quên công ơn dưỡng dục của cha mẹ. Nàng trở về thắp hương cha và bị mẹ con Cám hại chết. Cám vào hoàng cung thay thế Tấm nhưng rồi cái ác đâu thể hiểu được hạnh phúc. Cám luôn bị vua ghẻ lạnh không quan tâm, hàng ngày luôn nhung nhớ Tấm.

Tấm hóa thân thành vàng anh quay về hoàng cung gặp vua nhưng lại bị mẹ con Cám giết hại và bịa chuyện nói dối Vua. Sau đó, Tấm lại hóa thân thành hai cây xoan đào đẹp đẽ hàng ngày rủ bóng, vua đi ngang qua thấy vậy liền sai quân lính mắc võng nằm nghỉ. Bản tính nham hiểm độc ác của Cám lại trỗi dậy, Cám sai người chặt cây đóng làm khung cửi rồi lấy cớ do bão nó với Vua. Hàng ngày, Cám ngồi dệt vải trên chiếc khung cửi đó, Tấm lại đem lời mà dọa Cám. Thấy vậy, Cám sợ hãi sai người đốt khung cửi mà đem tro đi đổ cách xa hoàng cung. Cũng từ đống tro ấy mọc lên một cây thị mà lại một trái rất thơm. Bà hàng nước thấy vậy muốn đem ý mang thị về nhà. Trước đây, Tấm là một người yếu đuối, hiền lành hễ gặp chuyện là chỉ biết khóc, chính hoàn cảnh khó khăn khốc liệt đã đánh thức nàng trỗi dậy, khiến nàng trở lên mạnh mẽ hơn mà không cần nhờ đến sự giúp đỡ của Bụt.Tấm chính là hiện thân một con người nhân hậu hiền lành, chịu thương chịu khó vì hoàn cảnh khó khăn éo le nhưng vẫn sáng lên ý chí chiến đấu, vựơt lên cái ác những điều cám dỗ mà sống một cách mãnh liệt.

Từ sau hôm đó, hàng ngày Tấm lại bước ra từ quả thị giúp đỡ bà việc nhà. Thấy làm lạ bà hàng nước lén trộm nhìn rồi xé vụn vỏ thị để nàng ở lại. Nàng và bà sống vui vẻ với nhau. Một hôm vua đi ngang thấy quán nước sạch sẽ lên ghé lại nghỉ ngơi, Vua nhìn thấy miếng trầu têm cánh phượng giống hệt như vợ mình liền hỏi truyện và biết đó là Tấm. Vua rước Tấm trở về hoàng cung và cùng nhau sống hạnh phúc. Còn mẹ con Cám thì độc ác xấu xa đã phải chết một cách tất tưởi. Chúng phải chết trong nồi nước sôi nóng. Đó chính là kết cục của kẻ ác.

Qua câu chuyện “Tấm Cám” ta thấy được hình tượng của Tấm chính là biểu trưng cho sự đấu tranh gay gắt giữa sự bất công, mâu thuẫn trong nội tại mỗi con người, nhưng qua cuộc đấu tranh ấy, hình tượng nhân vật Tấm lại được sáng lên với những bài học vô cùng sâu sắc và ý nghĩa. Cái ác sẽ không thể nào chiến thắng cái thiện và nó sẽ luôn luôn bị trừng trị.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 11

Từ xưa cho đến nay thì những câu chuyện cổ tích như mang hơi thở ngọt ngào của những quan niệm xưa đã gửi gắm đến thế hệ của chúng ta triết lý như ở hiền gặp lành. Tấm Cám luôn luôn là một trong những truyện dành cho trẻ em và được yêu thích nhiều nhất. Trong truyện thì ta thấy nổi bật lên hình tượng nhân vật cô Tấm với những vẻ đẹp của người con gái thuở xưa hiền lành và chăm chỉ.

Trước hết khi nói về gia cảnh của Tấm, nhân vật Tâm được sinh ra trong một gia đình cũng khá giả thế nhưng mẹ cô mất sớm. Ít lâu sau thì cha cô lấy vợ hai. Cô Tâm phải sống trong gia đình có mụ dì ghẻ ấy độc ác và rất ghét con chồng, nó dường như cũng đã lại thể hiện được một thực tế hiện nay đó là “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ lại thương con chông”. Cũng chẳng bao lâu sau cha Tấm cũng mất nốt Tấm bị mụ dì ghẻ phân biệt đối xử với em là Cám. Nhân vật Tấm phải làm lụng cả ngày và cô hay bị mắng nữa. Với một cốt truyện này là một cốt truyện thường thấy trong truyện cổ tích để có thể nói lên những vẻ đẹp cũng như ở hiền gặp lành như các nàng công chúa xinh đẹp vậy

Có thể nói rằng chính hình ảnh cô Tấm hiện lên đẹp qua cái tên của cô nữa. Cô Tấm bình thường là một hạt gạo khi mà sát ra lại vỡ nhỏ. Cái tên như cũng đã phản ánh được nét văn hóa của dân tộc Việt Nam bởi hạt gạo như là hạt ngọc của đất nước. Cái tên dường như cũng đã lại cho thấy cái giản dị mộc mạc của cô Tấm thông qua cái tên. Hình ảnh cô tấm hiện lên là một người con gái hiền lành hiếu thảo và rất là lương thiện. Cho dù cha có lấy vợ hai đi nữa thì cô cũng không có ý kiến gì cả. Người đọc cũng có thể nhận thấy chính trong khoảng thời gian sống cùng nhau ấy dẫu cho mụ dì ghẻ ấy có đối xử với Tấm như thế nào thì cô cũng không than thở, hay oán trách đến nửa lời. Thực sự lòng cô lương thiện đến mức không vấy bẩn bởi sự ghen tuông ghét dì ghẻ. Cô Tấm đã vậy cũng lại còn rất trong sáng hiền lành và luôn nhường nhịn Cám kể cả biết mình thiệt thòi. Nhân vật cô Tấm hiện lên không chỉ đẹp về nhan sắc mà còn ở phẩm chất cũng như đức hạnh.

Sự mâu thuẫn của Tấm và Cám bắt đầu từ vụ việc vụ dì ghẻ bào rằng hai chị em Tấm Cám để đi mò cua xúc tép ai mò được nhiều hơn thì sẽ được thưởng cho một chiếc yếm đào. Dĩ nhiên Tấm vốn ngoan ngoãn hiền lành xúc mải mê đến chiều thì cũng chính bởi cô quá tin người và hơn hết nhân vật Tấm cũng lại rất hiền lành mà Cám lúc này đây dường như cũng đã lừa tấm và trút hết giỏ cá của Tấm. Khi Tấm lên bờ thấy mất cá cũng chẳng biết làm gì ngoài việc khóc một mình. May thay được Bụt hiện lên và giúp đỡ, dặn cô về nuôi Tấm hiền lành không hôm nào quên cho bống ăn nên bống lớn nhanh lắm.

Nhân vật Tấm còn hết sức hiền lành, thậm chí là cam chịu cả khi làng mở hội Tấm cũng bị mụ dì ghẻ tìm cách không cho đi Tấm bị mụ dì ghẻ như cũng đã làm khó Tấm dường như cũng ngoan ngoãn ma làm theo và cô cũng lại không cãi lại mụ cũng không dám trốn đi đâu. Cô Tấm cũng đã lại khóc và con người hiền lành ấy lại được Bụt giúp đỡ. Ngay cả khi Tấm được vào cung làm hoàng hậu thì đến thì cũng vẫn giúp đỡ mẹ con cám. Thế rồi cũng chính ngày giỗ bố vẫn về không quản khó khăn mà cũng đã trèo lên cây vặt cau giỗ bố mắc mưu của dì ghẻ hại chết chính mình.

Người đọc cũng nhận thấy được Tấm dường như không chỉ đẹp tâm hồn lương thiện mà Tấm còn đẹp bởi nhan sắc của mình. Cô Tấm vốn xinh đẹp da trắng và sự thật khi lấy được hoàng thượng thì quả thật đã thể hiện được vẻ đẹp ấy biết nhường nào.

Sau lần bị hãm hại ấy Tấm biến thành nhiều vật khác nhau và đều bị mẹ con Cám làm cho chết hết lần này qua lần khác. Thế nhưng chính sự biến thành những vật khác nhau mỗi lần chết ấy truyện ngắn này nhằm nói lên sức sống của cái hiền cái thiện thì không bao giờ là mất đi mãi mãi cả, nó dường như chỉ biến sang dạng khác mà thôi. Chính những lần biến ấy thể hiện được vẻ đẹp trưởng thành của nàng Tấm. Cô vẫn tốt bụng như thế nhưng cô không ngây thơ chỉ biết ngồi ôm mặt khóc nữa. Nhân vật cô Tấm cho dù cũng không hóa thành người nhưng cô vẫn có thể hăm dọa và khuyên nhủ mẹ con nhà Cám đã hại mình. Thế rồi cho đến khi biến thành quả thị Tấm được trở về với hoàng thượng và có một cuộc sống ấm no hạnh phúc về sau. Còn mẹ con Cám thì độc ác xấu xa đã phải chết một cách thê thảm. Thực sự chính sự sống của Tấm như thể hiện, biểu trưng cho sự sống của hiền lành đức độ cái tốt ở trên đời này.

Qua hình tượng nhân vật Tấm khi mà trải qua mọi thời điểm cuộc đời nàng ta thấy được vẻ đẹp của người con gái thuở xưa hiền lành lương thiện. Đồng thời qua nhân vật Tấm người xưa cũng thể hiện cho quan niệm ở hiền thì gặp lành những người ở hiền thì gặp lành. Những người sống lương thiện sẽ có cuộc sống hạnh phúc những người xấu xa thì lại phải gánh chịu những đắng cay.

Phân tích nhân vật Tấm – Mẫu 12

Những câu chuyện cổ tích không còn xa lạ đối với mỗi chúng ta, trong kho tàng văn học nước ta có rất nhiều câu chuyện cổ tích với những tình tiết đầy sự hão huyền, siêu nhiên nhưng đan xen vào đó là những bài học quý giá mà câu chuyện muốn đem lại cho chúng ta, truyện Tấm Cám, với nhan đề đã làm nổi bật nên nhân vật Tấm trong truyện.

Nhân vật Tấm sinh ra trong một gia đình khá giả nhưng thật buồn cho Tấm mẹ mất sớm, cha lấy vợ hai, một thời gian, cha cô mất, cô phải sống với mẹ kế độc ác, và cô em gái cùng cha khác mẹ lười biếng. Ngày xưa các cụ có “ mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời mẹ kế lại thương con chồng” cho thấy được sự độc ác của mụ dì ghẻ mà Tấm phải chịu đựng.

Ngay cái tên đã thể hiện Tấm là một cô gái nết na, thùy mị. Cái tên mang sự hiền dịu, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó, cho thấy sự mộc mạc của người con gái Việt Nam, trong thời gian ở với mụ dì ghẻ Tấm không than thở kêu ca mà vẫn nghe lời, làm việc chăm chỉ. Tấm thường xuyên chịu thiệt thòi cay đắng , còn Cám thì được nuông chiều, được ăn ngon mặc đẹp, mẹ kế tìm mọi cách để hành hạ, bắt Tấm làm mọi việc.

Khi mẹ bảo Tấm và Cám đi bắt tôm tép ngoài sông, trong khi cô Tấm chịu khó bắt tôm, cá, ốc thì Cám lại mải chơi, không làm việc để rồi lừa Tấm lấy hết số cá, tôm mà Tấm bắt được mang về để báo với mẹ. Khi đang không biết phải làm sao thì Ông Bụt hiện lên, cũng kể từ đây nhờ sự giúp đỡ của ông mà cuộc sống của Tấm đã phần nào bớt khổ cực mà cô phải chịu. Người xưa có câu “ở hiền gặp lành” để thấy được sự lương thiện trong mỗi con người, sống lương thiện chắc chắn sẽ được báo đáp.

Không những đẹp về đức tính mà Tấm còn đẹp về cả tâm hồn và vẻ bề ngoài, thế vậy nàng được nhà vua để ý đưa về cung làm hoàng hậu, thương xót vì tình cảm gia đình mà Tấm mang mẹ con Cám vào cung ở cùng nhưng chính hành động này đã khiến Tấm phải chết đi sống lại nhiều lần.

Và mỗi lần hóa thân thành nhiều sự vật khác nhau Tấm lại toát lên sự lương thiện của mình, và mỗi lần như vậy làm tấm trở nên trưởng thành hơn, vẫn tốt bụng nhưng cô đã biết đấu tranh bảo vệ bản thân, hạnh phúc của mình, hạnh phúc của mình không muốn về tay người khác, đấu tranh lại cái ác, có câu thiện luôn thắng tà cho thấy sự bao dung, vị tha luôn hơn những kẻ tham lam, ích kỷ chỉ biết bản thân mình.

Từ con chim vàng anh bị Cám mang đi giết rồi chôn xa, đến cây xoan đào cũng bị mẹ con Cám chặt đi làm thành khung cửi, nhưng khung cửa cũng bị mụ dì ghẻ đem đốt đi, qua những hành động đấy mới thấy sự độc ác của mẹ con nhà Cám, dùng mọi mưu kế, sự độc ác để hãm hại Tấm không muốn cô được sống trong hạnh phúc.

Advertisement

Khi Tấm hóa thân thành quả thị gặp được bà lão bán nước tốt bụng xin quả thị rơi rụng vào túi của mình mang về ngửi chứ bà không ăn, sau khi bà lão mang về, mỗi lần đi làm về thấy nhà cửa dọn dẹp sạch sẽ, có cơm nước ngon lành. Rồi một hôm bà rình trộm thấy một cô gái xinh đẹp bước ra từ quả thị, bà bắt cô lại và mong cô làm con nuôi từ đó hai mẹ con nương dựa vào nhau mà sống.

Một thời gian sau, nhà vua đi du ngoạn qua quán nước dừng lại mới thấy miếng trầu rất giống mà vợ mình thường têm, nhà vua mới hỏi bà lão miếng trầu này ai làm, cuối cùng Tấm gặp lại nhà vua hai người gặp nhau vui mừng sau bao tháng ngày xa cách, rồi Tấm được đưa trở về cung và sống hạnh phúc bên nhà vua.

Còn mẹ con Cám bị đuổi ra khỏi cung, cho thấy sự lương thiện trong đức tính của Tấm, qua nhân vật Tấm thấy được sự tốt bụng trong tâm hồn, và lối sống của người con gái Việt Nam, để từ đây hạnh phúc luôn đến với những người tốt bụng. Kết quả xấu đối với những kẻ chỉ biết bản thân, hãm hại người khác, sau cùng phải chịu những hậu quả do chính mình gây ra cho người khác.

Nhân vật Tấm đã được xây dựng một hình ảnh hoàn mỹ, một người đẹp cả ngoại hình lẫn tính tình, làm biểu tượng sáng cho người phụ nữ Việt Nam, làm cho chúng ta hiểu thêm giá trị cuộc sống, khi ta sống tốt, sống đẹp ắt sẽ có người giúp đỡ mình và nhận được hạnh phúc mà mình vốn nhận được.

Phân tích nhân vật Tấm trong Tấm Cám – Mẫu 13

Từ ấu thơ, ta lớn lên trong tiếng ru ầu ơ của mẹ, trong câu hát em thơ và những chuyện ngày xửa ngày xưa bà thường hay kể. Ta biết mẹ Âu Cơ sinh con từ bọc trăm trứng, biết Sơn Tinh –Thủy Tinh giao tranh vì nàng công chúa xinh đẹp, kiều diễm, biết Thánh Gióng lớn lên cầm tre mà đánh giặc và ta cũng biết cô Tấm nết na bước ra từ quả thị. Câu chuyện về Tấm một lần nữa được gợi nhớ trong tác phẩm Tấm Cám.

Tục ngữ có câu “Cha chết ăn cơm với cá, mẹ chết liếm lá đầu chợ”, nó như là minh chứng cho nỗi thiệt thòi của đứa trẻ thiếu mẹ. Tất cả những cơ hành tấm phải chịu đựng đều đến từ sự tàn nhẫn, ích kỉ của mẹ con Cám. Tấm chọn sự câm lặng, dùng giọt nước mắt để vơi bớt tủi thân. Cuộc thi để có được yếm đào càng khẳng định với Tấm mỗi món đồ nhỏ bé đều quý trọng. Tấm khóc không chỉ vì nỗi thương mình mà còn bởi chút hi vọng được nhận yêu thương cũng tan biến mất. Đến chú bống bé nhỏ bầu bạn với Tấm cũng bị giết, Tấm lại khóc. Với cô gái mồ côi không được nhận sự chăm sóc nào như Tấm thì việc cô nuôi cá bống cũng như đang vun vén cho chính cuộc đời mình, như để tìm tiếng nói đồng điệu, đồng cảm. Vì vậy, việc giết bống cũng như dập tan nơi tựa của cô gái đơn côi. Lần thứ ba, khi mọi người từ già đến trẻ, từ giàu đến nghèo đều được đi hội, đều hòa vào dòng người đầy vui tươi náo nhiệt thì tấm lẻ loi giữa chính cuộc đời. Mẹ con cám dùng mọi âm mưu cản bước chân Tấm. Nỗi đau và sự tủi thân được đẩy lên cao trào, uất ức đến tận cùng, Tấm lại khóc.

Mỗi khi Tấm gặp khó khăn hay đau khổ, Bụt đều dang rộng tay mà nâng đỡ. Không có yếm đào, Tấm được tặng cá bống. Mẹ con Cám làm khó, Bụt cho chim sẻ đến giúp Tấm. Bụt đã được dân gian hoá, trở thành ông lão hiền lành, tốt bụng, hóa phép cho số phận hẩm hiu cho người nghèo. Không chỉ Bụt mà những con vật nhỏ bé bên cạnh cũng góp công không nhỏ giúp cô trên đường tới hạnh phúc. Rõ ràng, việc Tấm trở thành hoàng hậu là hoàn toàn hợp lý, đó chính là hạnh phúc tươi đẹp và xứng đáng nhất.

Tấm đã có hạnh phúc nhưng hạnh phúc ấy sẽ không vẹn nguyên, sẽ méo mó khi có sự tồn tại của mẹ con Cám. Cái chết nhục nhã và đau đớn của mẹ con Cám là hậu quả của hành động tàn nhẫn với tâm địa độc ác bởi người xưa thường nói “gieo nhân nào gặt quả nấy”. Riêng Tấm được sống lại với bình yên, được trở về hạnh phúc sau bao thử thách, bao chông gai, bao cố gắng và quyết tâm. Có lẽ chính tinh thần, ý chí và sự bền bỉ của con người đã chiến thắng mọi gian ác. Cuộc sống là cuộc hành trình đầy gian lao mà ta phải gồng mình gánh vác, đấu tranh vì hai từ “hạnh phúc”. Ta cũng thấy một cái kết có hậu đậm tính nhân văn làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm. Ta phải biết trân trọng và gìn giữ những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, đừng nên chạy theo những xa vời, mơ hồ bởi mọi yên bình và tốt đẹp đều nằm trong tay ta và tồn tại ngay trong cuộc sống thường ngày. Đúng như dân gian có câu:

Chim vàng anh, cây xoan đào (khung cửi), cây thị (quả thị) là hình hài Tấm hóa thân, cũng là linh hồn của làng quê với tất cả mộc mạc trong cuộc sống dân dã làm nên ấn tượng thẩm mĩ cho câu chuyện. Nếu như ở phần đầu truyện, mỗi lần Tấm khóc Bụt đều dang rộng vòng tay cưu mang thì càng đến cuối chuyện, Tấm không còn nhờ cậy vào bất kì phép màu nào mà cứng rắn, kiên quyết hành động đến cùng. Cũng chính nhân dân lao động, những người có thân phận như Tấm đang dùng hết sức mình, oằn mình trước thử thách, vững bước trước gian lao để bảo vệ hai chữ hạnh phúc được tròn đầy. Quả đúng, hạnh phúc chỉ bền chặt khi ta biết dũng cảm giành và giữ lấy. Vì vậy, nếu lúc đầu mỗi lần Tấm uất ức chỉ biết ngồi khóc, còn Bụt làm thay tất cả, thì đến đây chim vàng anh, khung cửi, quả thị (yếu tố kì ảo) không thay Tấm trong cuộc chiến đấu mà chính nó là hình hài giúp tấm trở về quyết liệt hơn.

Sau hành trình đầy gian lao, sau cuộc chiến không khoan nhượng, Tấm trở lại với dịu hiền, với thương yêu trong hình ảnh miếng trầu têm cánh phượng. Miếng trầu là hình ảnh rất quen thuộc trong đời sống văn hoá Việt Nam, gắn với phong tục hôn nhân người Việt “Miếng trầu nên dâu nhà người”, “Miếng trầu ăn ngọt như đường, đã ăn lấy của phải thương lấy người”…

Có lẽ cô Tấm đã trở thành “nàng thơ” trong trái tim mỗi người với tất cả xinh đẹp, dịu dàng, đoan trang, mạnh mẽ, quyết liệt. Chính cuộc đời Tấm và chặng đường đấu tranh của cô càng khẳng định chân lý cuộc sống là một cuộc hành trình có cả những vấp ngã chông gai, những tủi hờn, hành động hôm nay sẽ quyết định hạnh phúc của mai sau.

Phân tích nhân vật Tấm hay nhất – Mẫu 14

Trong chiếc nôi văn học Việt Nam,những câu truyện cổ tích đã góp phần làm nên vẻ đẹp của văn học Việt. Những câu truyện cổ tích như tiếng nói của lớp người bình dân trong xã hội phong kiến. Dẫu có bị “vùi trong lớp bùn” của cuộc đời, thế nhưng những mảnh đời nhỏ bé, yếu ớt ấy vẫn vươn lên. Câu truyện cổ tích Tấm Cám là minh chứng rõ rệt cho sự lạc quan, mạnh mẽ trước cái ác. Thông qua hình tượng cô Tấm để khắc họa rõ nét về sự thay đổi suy nghĩ, tâm lý và hành động để đòi công bằng và hạnh phúc cho bản thân.

Có lẽ bất hạnh của cuộc đời đã dành cho Tấm từ khi lọt lòng. Mẹ mất sớm, cha lấy vợ khác nhưng rồi cũng qua đời sớm. Tấm mất đi chỗ dựa về tinh thần, sống trên cuộc đời này với dì ghẻ và đứa em gái cùng cha khác mẹ tên là Cám. Hằng ngày, Tấm phải làm đủ mọi việc trong nhà quét nhà, nấu cơm, chăn trâu, xay thóc, gánh nước.

Không khi nào Tấm được ngơi tay, thế nhưng vẫn bị dì ghẻ đánh đập, chửi bới. Thế nhưng Tấm vẫn luôn âm thầm chịu đựng, bởi lẽ Tấm không có ai bên cạnh để bênh vực, che chở. Vốn tính hiền lương, cam chịu Tấm luôn cố gắng nhẫn nhịn cho dù bản thân bị thiệt thòi.

Có một hôm, dì ghẻ giao cho Tấm và Cám một cái giỏ để bắt tôm, bắt tép. Đồng thời còn đưa ra một điều kiện, nếu ai bắt được nhiều tôm cá vào giỏ sẽ được thưởng một cái yếm đào. Vốn đã quen thuộc với việc này, nên Tấm đã nhanh chóng bắt đầy giỏ. Cám thấy vậy, liền lừa Tấm xuống ao gội đầu còn mình ở trên trút hết tôm cá vào giỏ của mình.

Tấm bước lên, thấy giỏ mình không còn con tôm con cá nào.Biết là Cám đã lừa mình, thế nhưng cũng chỉ biết bưng mặt khóc. Ông Bụt hiện lên, an ủi Tấm rồi cho Tấm một con cá Bống đem về nuôi. Hằng ngày, Tấm lấy cơm của mình đem cho cá Bống ăn, rồi truyện trò cùng với nó. Mẹ con Cám thấy vậy, lập mưu giết chết cá Bống.

Một hôm dì ghẻ dặn Tấm đi chăn trâu ở đồng xa, Tấm vâng lời đi ngay. Ở nhà mẹ con Cám gọi cá Bống lên rồi giết nó ăn thịt. Khi Tấm về, gọi cá lên thì chỉ thấy cục máu. Tấm biết do mẹ con Cám làm nhưng chỉ biết ôm mặt khóc..Lúc này ông Bụt hiện lên, chỉ cho Tấm chỗ dấu xương cá bống trong bốn góc nhà.

Khi nhà vua mở hội, Tấm cũng muốn đi hội nhưng bị dì ghẻ trộn thóc và gạo lại với nhau. Tấm phải lựa sạch mới được đi hội. Tấm nhìn gạo và thóc trộn lẫn với nhau rồi bưng mặt khóc. Rõ ràng mẹ con Cám không muốn Tấm đi trẩy hội, nhưng Tấm lại không thể làm được gì. Ông Bụt hiện lên, sai bầy chim sẻ đến lựa sạch thóc và gạo. Rồi chỉ Tấm đào 4 cái hũ ở 4 góc nhà lên.

Tấm đã có áo đẹp, hài đẹp, ngựa đẹp để đi hội. Tấm chạy nhanh đến nơi, gặp được nhà vua rồi trở thành Hoàng Hậu.

Thế nhưng mẹ con Cám vẫn không buông tha cho Tấm. Nhân ngày giỗ cha, Tấm về nhà. Lúc này dì ghẻ lừa Tấm leo lên cây hái cau cúng cha. Tấm vâng lời leo lên thì bị dì ghẻ chặt cây té chết. Cám thay Tấm vào cung làm vợ vua, còn Tấm hóa thân thành chim vàng anh.

Vua mê mẩn chim vàng anh, ngày ngày chơi đùa cùng chim. Vàng anh lúc này là Tấm, thấy Cám đang giặt áo cho vua thì lên tiếng:

Tấm đã không còn im lặng, đã có lời cảnh cáo Cám. “ Đó là chồng của tao”! Tiếng hót của chim vàng anh đã khiến Cám không ngồi yên. Cám đã giết chim vàng anh, như giết Tấm thêm một lần nữa. Tấm hóa thân thành cây xoan, ngày ngày cho Vua nằm dưới bóng cây hóng mát. Cám không đành lòng, chặt cây xoan làm khung cửi.

“Kẽo cà kẽo kẹt, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”. Phân tích nhân vật Tấm lúc này cho thấy, Tấm đã không dùng lời cảnh cáo nữa mà đã có hành động “khoét mắt ra”. Có thể thấy chuyển biến tâm lý, lời nói và hành động của Tấm đã có sự phát triển vượt bậc.

Cám lại một lần nữa đốt khung cửi, đem tro đổ ra ngoài cung. Tấm hóa thân thành quả thị, sống cùng bà lão ngoài cung. Hằng ngày Tấm phụ bà dọn dẹp, têm trầu cánh phượng. Một hôm nhà vua đi ngang qua, nghỉ chân quán nước, nhìn ra miếng trầu cánh phượng của Tấm. Tấm được đón về cung, đối mặt với Cám.

Lần này Tấm đã không còn nhẫn nhịn hay cam chịu như trước. Sự trả thù đã trở nên dứt khoát và có chút “tàn nhẫn”. Tuy trong Sách giáo khoa không đề cập rõ, chỉ nói Cám thấy Tấm da trắng bèn hỏi Tấm cách làm. Tấm chỉ Cám cách tắm nước sôi, Cám làm theo rồi chết.

Tuy nhiên, có một số thông tin đưa ra rằng Tấm cho người đào hố rồi dội nước sôi lên người Cám đến chết. Tiếp đó lấy xác cám làm mắm, gửi cho dì ghẻ ăn. Sau khi ăn phát hiện đó là con mình thì kinh hãi rồi chết.

Phân tích nhân vật Tấm xuyên suốt câu chuyện cho thấy, Tấm đã có sự chuyển biến rõ rệt. Ban đầu Tấm chỉ là cô gái yếu đuối, chỉ biết cam chịu, khóc lóc mỗi khi gặp khó khăn. Tiếng khóc thể hiện sự bất lực, cũng là lời cầu cứu của Tấm. Thế nhưng ông Bụt không thể xuất hiện mãi, cũng như Tấm không thể yếu đuối, cam chịu.

Sau những lần bị Cám hại chết, Tấm đầu thai hết lần này đến lần khác. Mỗi lần đầu thai, Tấm đều bên cạnh làm tròn nhiệm vụ người vợ với vua. Bên cạnh đó, Tấm cũng liên tục phản kháng, đe dọa lại Cám. Rõ ràng sau mỗi lần hồi sinh, Tấm đã mạnh mẽ hơn trước.

Điều này cho thấy cái ác không thể chiếm giữ mãi cuộc sống. Cái thiện sẽ lên ngôi, đè bẹp những điều xấu xa. Có ý kiến cho rằng, Tấm thật ra cũng ác không thua gì Cám. Thế nhưng, liệu với những kẻ đã năm lần bảy lượt hại chết mình, liệu sự trừng phạt trên có phải là đích đáng không.

Phân tích nhân vật Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám để thấy hình ảnh cô Tấm hội tụ đủ hình ảnh người phụ nữ Việt. Chăm chỉ, hiền lành, cam chịu, yêu thương chồng hết mực. Thế nhưng ẩn sâu bên trong cũng là sức mạnh tiềm tàng, sẵn sàng chiến đấu để giành lại công bằng và hạnh phúc cho bản thân. Nội dung câu truyện cổ tích hướng tới giá trị nhân văn sâu sắc, “ác giả ác báo”. Phân tích nhân vật Tấm cũng lời thức tỉnh, Ông Bụt không thể xuất hiện mãi khi ta khó khăn. Phải đứng lên đấu tranh giành lại những thứ thuộc về mình. Ông Bụt chỉ xuất hiện tức thời, bản thân phải mạnh mẽ để tự bảo vệ mình.

Phân tích nhân vật Tấm trong truyện Tấm Cám – Mẫu 15

Truyện cổ tích là thể loại văn học dân gian, gắn bó với tuổi thơ của hầu hết trẻ nhỏ Việt Nam. Nội dung của truyện cổ tích mang ý nghĩa giáo dục, hướng con người đến sống tử tế, chống lại cái ác. Truyện “Tấm Cám” là một tác phẩm nổi bật trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, được truyền kể qua nhiều thế hệ độc giả thiếu nhi. Nhân vật chính của truyện “Tấm Cám” là Tấm, một hình mẫu lý tưởng, tiêu biểu cho sự hiền lành, xinh đẹp của các cô gái.

Có thể nói, truyện cổ tích nói riêng và các tác phẩm văn học dân gian Việt Nam nói riêng là một phương thức thể hiện tiếng nói, khát vọng của nhân dân trong xã hội cũ. Đối với truyện Tấm Cám, tác phẩm mang tinh thần lạc quan và niềm tin của nhân dân lao động vào lòng tốt, vào một tương lai hạnh phúc. Tấm có số phận bất hạnh nhưng lại mang vẻ đẹp tâm hồn sáng ngời. Tấm phải trải qua nhiều gian nan nhưng cuối cùng có được cuộc sống hạnh phúc viên mãn. Qua nhân vật Tấm, nhân dân gửi gắm ước mơ về kết quả tốt đẹp dành cho người tốt, chăm chỉ, đồng thời thể hiện khát vọng cái thiện sẽ chiến thắng cái ác.

Tấm mồ côi từ nhỏ. Mẹ Tấm mất từ khi Tấm còn bé. Tấm có người em gái cùng cha khác mẹ tên là cám. Mấy năm sau khi mẹ Tấm mất thì cha tấm cũng qua đời, vì vậy Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám. Chúng ta dễ nhận ra số phận mồ côi là mô típ truyện cổ tích quen thuộc. Ở cùng dì ghẻ và em gái, Tấm chịu sự hành hạ ác độc của hai người và phải sống vất vả cực nhọc.

Tấm phải làm lụng ngày đêm, còn Cám thì thảnh thơi chơi đùa. Không những thế, Tấm còn bị Cám lừa mất giỏ cá mà Tấm đã chăm chỉ bắt ngoài đồng. Việc mất giỏ cá đồng nghĩa với việc Cám sẽ không nhận được phần thưởng của dì ghẻ, là một chiếc yếm đẹp. Về Tấm cũng tiếp tục bị ghẻ lạnh mà không nhận được tình yêu thương như của mẹ mà Tấm khao khát bấy lâu.

Nhẫn tâm hơn, khi trong giỏ cá chỉ còn con cá bống bầu bạn cùng Tấm, nhưng mẹ con cám cũng bắt và giết thịt. Lúc này ta thấy cuộc đời Tấm bị bao vây bởi dã tâm hãm hại của mẹ con Cám. Cá bống được Tấm xem là người bạn tâm sự, sẻ chia mỗi ngày nhưng cuối cùng người bạn cũng bị lấy mất. Có thể nói, nhân vật Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám là tiêu biểu cho số phận bị đày đọa, vì thấp cổ bé họng mà chịu nhiều thiệt thòi, bị tước đoạt ngay cả những quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc cơ bản nhất. Đó cũng là lý do tại sao, tiếng khóc của Tấm trong lúc bị áp bức đã khơi dậy lòng cảm thông, trái tim nhân từ, thương người của mọi người mà trước hết ở đây là ông Bụt.

Nhờ sự giúp đỡ của Bụt, Tấm cuối cùng trở thành hoàng hậu, sống hạnh phúc bên nhà vua. Mỗi khi Tấm khóc, buồn tủi Bụt sẽ xuất hiện và an ủi, giúp đỡ Tấm. Khi Tấm bị mất chiếc yếm đỏ, Bụt mang đến cho Tấm cá Bống làm người bầu bạn. Khi Tấm bị mẹ con cám bắt mất cá bống, Bụt lại cho Tấm hi vọng bằng gợi ý chôn xương cá bống ở chân giường, mà mai này từ đó Tâm có được một đôi giày xinh xắn. Khi tấm bị mẹ con Cám hãm hại không cho đi xem hội, Bụt đã cho đàn chim sẻ đến giúp nhặt đậu trong thúng thóc, nhờ đó Tấm có thể đi hội làng và ở đó Tấm gặp nhà vua. Khi Tấm đi hội và làm rơi giày, nhưng nhờ chiếc giày này mà Tấm gặp lại nhà vua và trở thành hoàng hậu, trở thành người có ngôi vị. Điều này cũng thể hiện cho khát vọng, cho ước mơ của nhân dân, những người bị áp ức, chèn ép trong xã hội cũ. Mà hạnh phúc ấy chỉ những người lương thiện, hiền lành mới có thể nhận được.

Tấm dù là một cô gái yếu đuối, nhưng luôn không ngừng đấu tranh cho hạnh phúc của chính mình. Qua nhân vật Tấm hay những cuộc đấu tranh vì kiên cường của Tấm, nhân dân lao động trong xã hội cũ thể hiện niềm tin và khát vọng đổi đời, về sự chiến thắng của cái thiện, cái đẹp trước cái ác, cái xấu xa. Để đến được đích hạnh phúc, Tấm đã phải nhiều lần hóa thân trở thành nào chim Vàng Anh, nào cây xoan đào, nào khung cửi, rồi đến quả thị. Và rồi từ quả thị, Tấm bước ra trở lại làm người. Như vậy có thể thấy, cuộc đấu tranh để giành lại quyền sống hạnh phúc của Tấm trải qua nhiều gian nan, cũng thể hiện ý chí quyết liệt, không khoan nhượng của Tấm. Cuộc đấu tranh này đã minh chứng rằng, cái ác vẫn luôn hiện diện, ở khắp mọi nơi và luôn cố gắng hành hạ, vùi dập cái thiện. Việc mẹ con Cám vẫn đeo bám để giết hại Tấm tới cùng, ngay cả khi Tấm đã trở thành hoàng hậu đã chứng minh cho điều này. Ta lại thấy, đến lúc này, cuộc đời Tấm không chỉ bị tước đoạt hạnh phúc mà còn bị tước đoạt cả tính mạng.

Trong lần hóa thân cuối cùng của mình, Tấm lại bước ra trở lại làm người. Điều này là sự thể hiện sự gửi gắm của dân gian về quan niệm của hạnh phúc. Đó là sự khẳng định rằng, hạnh phúc chốn trần gian mới là hạnh phúc đích thực của con người và đáng trân trọng biết bao. Mà qua phân tích nhân vật tấm ta càng hiểu sâu sắc thứ hạnh phúc của cuộc đời thực, khi được sống cạnh những người mình yêu thương, sống giữa tình cảm gia đình ấm áp. Quan trọng hơn, để đi đến đích đến hạnh phúc ấy, Tấm đã phải trải qua nhiều gian khổ, đã phải đấu tranh ngoan cường. Ta thấy sự chuyển biến rõ rệt về ý thức của Tấm trong suốt thiên truyện cổ tích, đó là ban đầu khi Tấm khóc, buồn tủi sẽ có Bụt hiện ra giúp đỡ; nhưng về sau Tấm đã tự mình đấu tranh, giành lấy hạnh phúc cho chính mình. Sau bao đấu tranh, Tấm trở lại làm người, trở thành hoàng hậu xinh đẹp. Nhưng nếu cái ác vẫn còn nhởn nhơ, vẫn chưa bị trừ diệt tận gốc, thì hạnh phúc của cái thiện, của Tấm sẽ chẳng bền lâu. Bởi vậy, cuối cùng Tấm đã tự tay trừng phạt mẹ con Cám, kẻ ác cuối cùng phải nhận cái kết thích đáng. Kết thúc này thể hiện niềm tin của nhân dân vào Tấm, vào công lý, và là sự khẳng định cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác.

Qua đây ta thấy truyện tấm Cám là tác phẩm điển hình về niềm lạc quan của người dân lao động vào những điều đúng đắn, vào lẽ phải. Thông qua số phận của nhân vật Tấm, tác giả dân gian đã phản ánh và lên án hiện thực xã hội cũ bất công. Đồng thời cũng qua nhân vật này và các yếu tố kỳ ảo trong tác phẩm, nhân dân lao động gửi gắm ước mơ về cuộc sống hạnh phúc, công bằng.

Có thể nói, văn học dân gian từ bao đời nay, trải qua không biết bao thăng trầm lịch sử, vẫn giữ một vị trí quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam cũng như các thế hệ độc giả. Với tác phẩm “Tấm Cám” nói riêng và phân tích các tác phẩm cổ tích, truyền thuyết nói chung, ta thấy được đời sống tinh thần của người dân lao động trong xã hội cũ, qua đó càng thêm trân trọng các tác phẩm văn học dân gian Việt Nam.

8 Bài Văn Phân Tích Tâm Trạng Của Nhân Vật Trữ Tình Trong “Đây Thôn Vĩ Dạ” Của Hàn Mặc Tử Hay Nhất

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 1

Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chói lọi diệu kỳ trong vòm trời rực rỡ lấp lánh nhiều tinh tú lạ. Thơ Hàn vừa thể hiện tình yêu khôn cùng với cuộc sống trần tục, vừa hướng về Chúa Trời với những niềm thanh khí thần tiên. Đã có nhiều hướng tiếp nhận kiệt tác Đây thôn Vĩ Dụ. Song, ai cũng thấy rằng bài thơ nói về tình yêu – một tình yêu đơn phương, thơ mộng, trong sáng, hồn huyền ảo. Tuy nhiên, khó phủ nhận được là Hàn Mặc Tử đã nói khá hay về xứ Huế mộng và thơ. Đây thôn Vĩ Dạ chi vẻn vẹn có 3 khổ, tổng cộng 12 câu thất ngôn.

Bài thơ có lẽ là lời trách thầm, và cũng là lời nhắn nhủ nhẹ nhàng gửi gắm của nhân vật trữ tình, trong một tâm trạng vời vợi nhớ mong:

Sao anh không về chơi thôn Vi?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền?

Nếu như mỗi tình yêu đều gắn với một không gian và thời gian cụ thể, thì mỗi hình ảnh của nhân vật trữ tình trong bài thơ này gắn với vườn tược và con người Vĩ Dạ, đều những kỉ niệm thật khó quên. Có dịp, xin mời bạn hãy về thăm thôn Vĩ vào một buổi sớm mai Vĩ Dạ nằm ngay bên bờ sông Hương êm đềm thơ mộng, chỉ cách trung tâm cố đô Huế khoảng không đầy một giờ tản bộ. Từ xưa, thôn Vĩ Dạ đã nổi tiếng bởi cây cối xanh tươi, và những biệt thự nhỏ nhắn duyên dáng, thấp thoáng, tưới màu xanh của cây lá. Thôn Vĩ Dạ cũng nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự, chùa Thiên Mụ… của xứ này. Bởi vậy, ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Nguyễn Bính, Bích Khuê, Nguyễn Tuân… đều có những cảm giác mà cảm hứng được nảy sinh từ thôn Vĩ Dạ nên thơ.

Sớm mai, nắng mới long lanh trên những tàu cau còn ướt sương đêm. Khách từ xa tới sẽ thấy hàng cau trước nhất, vì nó thường cao hơn hẳn những cây cối xum xuê ở dưới. Đất đai Vĩ Dạ phì nhiêu, được con người cần cù chăm bón; quả thật, cây cối ở đây xanh tốt mơn mởn và sạch sẽ như được lau chùi, mài giũa thành như những cành vàng lá ngọc. Câu thơ:

Thật là một sáng tạo độc đáo. “Mặt chữ điền” gợi cho người đọc nhớ tới hình ảnh người dân có khuôn mặt vuông vức, thân hình cường tráng, đầy nam tính. Nhưng, khi hình tượng này đặt trong chính thể đoạn thơ và câu thơ: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” thì ấn tượng nổi bật lại là sự hài hòa, gắn bó mật thiết giữa con người với vườn tược quê hương. Như vậy, câu thơ còn khắc họa thành công một nét đáng nhớ; đáng yêu của thôn Vĩ: Cảnh đẹp đẽ, tốt tươi; con người đôn hậu giàu sức sống.

Tiếp nối mạch cảm xúc của khổ đầu, dường như khổ thứ hai, nhà thơ có phần (lành để đặc tả cảnh sóng nước, mây trời xứ Huế và cũng bộc lộ niềm hoài vọng bâng khuâng:

Gió theo lối gió mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu hoa bắp bay;

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Nhịp điệu dịu dàng, khoan thai của xứ Huế được khắc họa thành công: Gió và mây nhè nhẹ trôi đi; sông Hương nước chảy lặng lờ. Hoa ngô (hoa bắp) chi khẽ đung đưa theo chiều gió. Khác với khố một, đến khổ thứ hai này, không gian được miêu tả như trong mộng ảo, tràn ngập ánh trăng. Nhà thơ không những chỉ ta, không những chỉ nhìn bằng mắt mà điều quan trọng hơn là còn “nhìn” bằng thế giới tâm linh của mình: Do đó, không có biên giới giữa thực và mộng và dường như càng về cuối thế giới tâm linh, thế giới mộng ảo càng lấn át thế giới hiện thực. Vì là mộng ảo, nên có nỗi băn khoăn rất mộng mơ:

“Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Thuyền trăng thì có nhiều thi nhân nhắc đến nhưng “sông Trăng” thì có lẽ Hàn Mặc Tử là người sáng tạo đầu tiên. Dường như trong những câu thơ trên, có sự mong chờ, niềm hy vọng, lẫn nỗi buồn man mác của nhà thơ, ở đây rõ ràng, không có sự đặc sắc của một bút pháp phác họa đúng linh hồn của một xứ sở, mà điều quan trọng nữa là: Những nét phác họa ấy gợi lên ở người đọc một tình yêu thật dịu dàng, kín đáo, mà sâu xa rộng mở đến khôn cùng. Ấn tượng của người đọc về những điều nói trên sẽ được nhà thơ tô đậm qua khổ kết:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Đúng là xứ Huế vốn mưa nhiều, lắm sương khói. Do đó, phải chăng khổ thơ trên có nét tả thực, cũng giống như “hàng cau”, “lá trúc” “hoa bắp”… ở những khổ thơ trước? Sương khói trắng, và áo em cũng trắng: Bởi vậy, nếu nhà thơ chỉ nhìn thấy bóng người thôi (nhân ảnh), thì cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, như đã nêu, Hàn Mặc Tử vốn là nhà thơ lãng mạn đích thực, cái chính là thi sĩ đã nói bằng tâm tưởng, gieo vào lòng người đọc một thoáng bâng khuâng: Người thiếu nữ Huế tươi đẹp quá, kín đáo và huyền ảo quá; nào ai có biết tình yêu của họ bền chặt, hay cũng chỉ mờ ảo như khói sương xứ Huế? Ở đây, dường như tác giả cảm thấy mình chơi vơi hụt hẫng, trước một mối tình đơn phương lung linh, huyền ảo. Nếu nhận ra rằng. Hàn Mặc Tử vốn là người rất mực tài hoa, luôn khao khát yêu thương; nhưng căn bệnh phong hiểm nghèo đã làm ông không có được một tình yêu trọn vẹn.

Nhà thơ đã từng phải sống có độc, lúc thì trong một con thuyền nhỏ lênh đênh chẳng có bến bờ, lúc thì khắc khoải bên dãy núi ven thành phố, và cuối cùng phải nằm vô vọng ở nhà thương Tuy Hòa chờ cái chết… Ta càng thông cảm cho một thoáng hờn dỗi, trách móc tưởng như vô cớ của cây bút đa tài, mà bất hạnh này. Phải yêu người Vĩ Dạ, nói rộng ra là phải yêu người xứ Huế; hiểu xứ Huế, gắn bó với xứ Huế sâu sắc đến độ nào, thì thi sĩ mới nói về tình yêu, về xứ Huế đứng và hay như thế!

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 1

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 5

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 1Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 1

Hàn Mặc Tử là một trong những những đỉnh cao của phong trào thơ mới. Ông qua đời ở tuổi 28 do bệnh phong và những năm cuối đời phải cách li với mọi người, cô đơn một mình. Vì vậy, những nỗi đau là nguồn cơn cho những cơn sáng tạo đỉnh cao của ông. Khi còn sống, ông chỉ có một tập thơ là Gái quê, sau này có thêm những tập khác như Thơ điên, Xuân như ý.. Đây Thôn Vĩ Dạ được trích từ tập Thơ Điên, bài thơ không chỉ đơn thuần mà là vịnh người, vịnh cảnh, mà còn là tâm trạng của nhà thơ được gửi gắm vào từng con chữ.

Đây Thôn Vĩ Dạ được sáng tác khi Hàn Mặc Tử đang bị bệnh nặng và phải cách li ở trại phong Tuy Hòa. Trước kia, khi còn làm ở sở Đạc Điền Bình Định, Hàn Mặc Tử phải lòng cô con gái chủ xưởng, Hoàng Thị Kim Cúc. Sau này, khi Hoàng Cúc biết tin ông mắc bệnh phong đã gửi tới một bức bưu thiếp có phong cảnh xứ Huế, dòng sông Hương cùng lời hỏi thăm động viên. Điều này khiến Hàn Mặc Tử bị xúc động mạnh và lập sức sáng tác bài thơ này. Vì vậy, bài thơ là nỗi nhớ, là hoài niệm của tác giả về xứ Huế, nơi có cảnh vật, có người mình yêu của một kẻ si tình. Là nỗi đau, niềm mặc cảm của một kẻ sắp chết. Và cũng là sự khát khao hạnh phúc của một tình yêu đời da diết.

Nhà thơ mở đầu tác phẩm cùng một câu hỏi tu từ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Thoạt nhìn, người ta sẽ nhầm lẫn đây là lời trách móc nhẹ nhàng, của một cô gái xứ Huế, như mời gọi chàng trai trở về Vĩ Dạ. Trở về nơi chốn thân thương mà người hằng yêu. Nhưng nếu chỉ đơn giản như vậy thì thơ Hàn Mặc Tử đã không thể sống mãi trong suốt những thập kỉ qua. Câu hỏi cùng từ để hỏi “sao” được đặt ở đầu câu khiến nhịp thở dồn dập, cảm xúc dồn nén, giục giã. Rất có thể đây là lời phân thân của chính nhà thơ để tự hỏi chính mình. Từ “anh” gợi cảm giác gần gũi, như một người con xa xứ tràn ngập tình yêu với Vĩ Dạ, nhưng lại “không về”. Trọng âm của câu thơ như bị đổ dồn vào hi từ này. Tại sao lại “không về”, khi mà Vĩ Dạ vốn là nơi chốn thân thuộc mà Hàn Mặc Tử yêu thương, nơi có người con gái mà ông trao trọn trái tim? Tác giả sử dụng từ “không”, thay vì “chưa”, bởi lẽ nhà thơ không thể về. Dẫu rằng ông yêu thương chốn này, dẫu rằng không phải là không muốn về, mà là không thể về được nữa.

Hàn Mặc Tử ý thức rõ về tình cảnh bệnh tật của mình, nên không về được Huế, vả lại, ông yêu nơi đó, yêu người con gái nơi đó, nhưng làm sao có thể về, khi mà không một ai mong ngóng? Câu thơ là nỗi đau xót, bất lực của nhà thơ trước hiện thực tàn khốc, là niềm mặc cảm bị tách li khỏi thế giới, xa lánh mọi người. Nỗi đau ấy đã thấm vào thơ của tác giả khi mà ông từng coi mình như một nàng cung nữ với số phận hẩm hiu bị nhốt vào lãnh cung, nhớ thương vị vua của mình, cuộc đời tươi đẹp ngoài kia:

“Ngoài kia xuân đã thắm hay chưa

Trời ở trong đây chẳng có mùa

Không có niềm trăng và ý nhạc

Có nàng cung nữ nhớ thương vua”

Chữ “không về” càng khắc sâu tình đơn phương của Hàn Mặc Tử đối với Hoàng Cúc:

“Có một dòng sông chỉ có một bờ

Câu thơ là niềm khát khao, là niềm đau, là nỗi nhớ, là buồn tủi của nhà thơ. Và khi quá yêu một mảnh đất, nhưng lại chẳng thể quay lại, thì con người ta chỉ còn cách trở về qua những hoài niệm. Qua đó, khu vườn Vĩ Dạ hiện lên tươi mới, ngập tràn tình yêu của nhà thơ:

“Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Trong thơ mới, ta từng gặp nhiều hình ảnh nắng đặc biệt. Như cái nắng trở chiều của ông hoàng thơ tình Xuân Diệu, hay “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” trong Mùa xuân chín của chính Hàn Mặc Tử. Còn ở đây, chúng ta có “nắng hàng cau”. Cau vốn là cây cao nhất trong vườn, vì thế những người khách từ xa nhìn tới, sẽ thấy câu đầu tiên. Và cũng vì thế nên cáu được hứng ánh nắng sớm đầu tiên nên “nắng hàng cau” là thứ nắng tinh khôi, trong treo, sau một đêm dài cây cau như được tắm nắng, hong khô những giọt sương đêm còn vương đọng. Không chỉ vậy, cau vốn mọc thẳng đứng, lại có đốt nên nhìn từ xa, vào sớm mai, cau trở thành một chiếc thước kẻ khổng lồ, đo mực nắng. Đó không chỉ là hình ảnh của VĨ Dạ, của xứ Huế. Mà còn là hình ảnh thân thuộc ở các làng quê Việt Nam. Một hình ảnh bình dị, dân dã, gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Sau khi hướng lên cao cùng nắng hàng cau, nhà thơ lại hướng người đọc xuống thấp hơn để nhìn ngắm khu vườn.

Cùng biện pháp so sánh, khu vườn như tràn ngập sắc xanh tươi mơn mởn. Bởi “ngọc” không chỉ đơn thuần là có màu xanh, mà còn gợi màu xanh ánh từ bên trong, lại lan tỏa được màu xanh. Vì thế, khu vườn ngập trong màu xanh nõn nà, tràn đầy nhựa sống cùng tính từ cực tả “quá” đã tuyệt đối hóa vẻ đẹp khu vườn. Nhưng cái gì càng đẹp, lại càng khó nắm bắt, càng phi thường, lại càng xa vời. Cảnh đẹp Vĩ Dạ đẹp, nhưng lại là “vườn ai” khiến cảnh đẹp ấy bỗng trở nên vô định, vô chủ. Bởi “ai” ở đây là đại từ phiếm chỉ, ý để hỏi khu vườn đẹp tuyệt trần ấy là của ai? Chính nhà thơ cũng không rõ. Cảnh mờ đi, chẳng còn là cảnh thực. Ông lấy đi một chút rõ ràng để thêm nhiều phần mơ mộng. Mà làm sao có thể rõ ràng khi mà mọi thứ chỉ còn là hồi ức của nhà thơ? Cảnh dẫu đẹp tới đâu giờ đây cũng đã thuộc một thế giới khác, một thời gian khác, nơi mà nhà thơ không còn thuộc về. Sau cùng, bức tranh thiên nhiên có xuất hiện hình ảnh con người: “Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”. Không rõ đây là gương mặt của người con gái, hay con trái, hay chính là gương mặt của Hàn Mặc Tử. Cũng có lẽ là gương mặt quen thuộc vốn hay xuất hiện nhưng ẩn mình sau thiên nhiên trong thơ ông. Các ý kiến chưa ngã ngũ, nhưng hình ảnh gợi ta nhớ đến câu ca dao xứ Huế thân thuộc

“Mặt em vuông tựa chữ điền

Da em thì trắng áo đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời

Có câu nhân nghĩa, có lời thủy chung”

Khuôn mặt chữ điền vốn gợi lên sự chung thủy, đôn hậu, chất phác của con người, lại ẩn hiện sau thiên nhiên đầy thi vị, hài hòa gợi nét đẹp con người xứ Huế. Khổ thơ đầu không chỉ là tả cảnh thiên nhiên xứ Huế, mà còn gửi vào đó tâm trạng của nhà thơ. Cảnh nơi đây đẹp tới thế, yêu nơi này tới thế, nhưng Hàn Mặc Tử không thể trở về nữa. Khổ thơ đầu là nỗi nhớ nơi chốn thân thương, cũng như sự bất lực không thể quay về của nhà thơ. Tới khổ thơ sau, có sự thay đổi về cả cảnh lẫn tâm trạng nhà thơ. Cảnh không còn non trẻ, tươi mới đầy sức sống nữa, cảnh đều thấm đượm một nỗi buồn thân phận.

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Gió và mây vốn gắn liền với nhau, gió thổi mây bay. Nhưng giờ đây, nhà thơ lại để hai sự vật chia lìa, chia cắt, trái với quy luật thông thường. Nếu Huy Cận đã viết về cuộc chia li của thuyền và nước và để lại nỗi sầu trăm ngả, thì sự phiêu tán này của Hàn Mặc Tử để lại nỗi buồn chia cắt. Nỗi buồn ấy thấm đượm lên cả dòng sông ngoài kia, khiến nó “buồn thiu”. Cùng biện pháp nhân hóa, dòng nước như không muốn chảy, trì trệ, để mong ngừng trôi như được chảy từ vạn cổ. Cảnh ngoài kia, có lẽ chẳng còn là cảnh ngoài kia, mà đã là cảnh ở trong lòng. Bởi hơn ai hết, nhà thơ hiểu rõ nỗi sầu biệt li. Mọi thứ đề cứ phiêu tán đi, chỉ còn lại “hoa bắp lay”. Là thứ hoa bắp vô hồn, uể oải, nhợt nhạt, chỉ chuyển động khẽ khàng “lay”. Cái lay đó đã lay cả vào lòng người đọc, để ta nhớ tới câu ca dao xứ Huế:

“Ai về giồng dứa qua chuông

Gió lay bông sợi bỏ buồn cho em”

Hay trong bài thơ “Bờ sông vẫn gió” của Trúc Nhân

“Lá ngô lay ở bờ sông

Bờ sông thấy gió, người không thấy về”

Từ “lay” gợi nỗi buồn thân phận của nhà thơ, khi mà mọi cảnh vật đều phiêu tán đi, thì hoa bắp chỉ đành ở lại, khẽ lay chuyển. Giống như nhà thơ chẳng thể cất mình lên để ra với cuộc sống ngoài kia. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh, gợi nỗi buồn chất chứa tâm can. Và lúc này, khi chứng kiến quá nhiều li biệt, ông lại chỉ mong chờ một thứ quay trở về với mình, đó là trăng.

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Trăng vốn là hiện thân cho vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp con người. Con thuyền chở trăng là con thuyền chưa tình yêu, chứa hạnh phúc. Nhưng vẫn lại là “thuyền ai”, hình ảnh nửa mơ, nửa thực, mơ mộng, nhạt nhòa. Sông trăng là hình ảnh đầy thi vị, thân quen trong thi ca, dòng sông trôi chảy giữa hai bên bờ thực và ảo, khó nắm bắt được. Đó là ánh trăng trên trời cao soi xuống sông, tạo thành sông trăng, cũng hiểu được là ánh trăng chảy khắp mặt sông. Phải chăng đó là con đường trôi chảy vào cõi mộng? Nhà thơ chờ trăng, trần đời có mấy ai say trăng được như Hàn Mặc Tử? Thơ ông luôn rợn ngợp ánh trăng sáng

“Trăng sõng soài trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi”

Không chỉ với riêng Hàn Mặc Tử, mọi thi sĩ khác đều coi trăng như người bạn tri kỉ không bao giờ rời xa của mình. Vì vậy, ông đã kêu lên tha thiết ở câu cuối khổ 2 “Có chở trăng về kịp tối nay”. Đó không chỉ là câu nói thông thường, nó vang lên khẩn thiết, thấm một nỗi xót xa. Cùng với từ “kịp” là khoảng thời gian hạn định “tối nay”. Nhà thơ mong mỏi, bất lực, vì dường như chỉ còn tối nay thôi, đó là khoảng thời gian cuối cùng rồi. Nếu không phải tối nay, có lẽ là chẳng bao giờ được nữa. Bởi quỹ thời gian còn lại của bản thân quá ít ỏi, nên câu thơ vang lên trong sự giục giã, hối hả. Đó là nỗi mặc cảm về cuộc đời ngắn ngủi của mình, có lẽ, bản thân Hàn Mặc Tử cũng cảm nhận được từng phút một của cuộc đời mình cứ dần trôi đi. Mà nếu đêm nay không thể về, có lẽ mọi thứ sẽ chìm vào bóng tối. Từ đó, bộc lộ một khát khao sống mãnh liệt cùng với tư thế sống chạy đua cùng thời gian.

Như Xuân Diệu cũng từng vì quá yêu hương sắc đất trời mà chạy đua cùng thời gian, Hàn Mặc Tử cũng vậy. Ông yêu cuộc đời này, yêu Vĩ Dạ, yêu xứ Huế, yêu cuộc sống ngoài kia, “chẳng ai yêu đời hơn một kẻ sắp chết.” Nhưng bởi vì sắp chết, vì quỹ thời gian dần cạn nên có cố gắng chạy đua với thời gian bao nhiêu, cũng trở nên vô vọng. Khổ hai, cảnh vật thấm đượm nỗi buồn của nhà thơ. Mọi thứ chia li, phiêu tán, nhà thơ cố níu, nhưng không thể nắm giữ bởi bản thân cuộc đời nhà thơ cũng đang đi tới hồi kết. Dẫu vậy, ta vẫn có thể thấy niềm khát khao, mong mỏi mãnh liệt được tận hưởng thêm một phút giây nữa thôi để kịp đón lấy tình yêu hạnh phúc. Cảnh vật cứ mờ dần, xa dần, là vì về đêm nên mọi thứ trở nên hư ảo, hay là qua con mắt của kẻ sắp chết, vạn vật đã trở thành một thế giới vô sắc, mộng mị, ngập ánh trăng? Từ nhớ thương, bất lực không thể trở về, nhà thơ đau xót, lo âu, và khát khao mãnh liệt được sống thêm một chút, là nỗi đau của thân phận. Tới khổ thơ cuối, ánh nắng không còn, ánh trăng cũng tắt, sau tất cả, còn lại là một cõi hư ảo nơi kẻ si tình chới với đuổi theo nhưng mãi mãi chẳng đuổi kịp.

“Mơ khách đường xa, khách đường xa”

Mơ không còn là trạng thái thực, mà đã rơi vào mộng mị, nhưng lại là “mơ khách đường xa” thể hiện niềm khát khao được gần gũi với bóng hình con người. Bởi có lẽ, thế giới thực tại Hàn Mặc Tử đã phải rời xa, ông chỉ còn cách bấu víu vào cõi hư ảo. Cuộc đời ngoài kia đang nhạt dần, chìm vào cõi mộng. “Khách” vốn đã xa lạ, khách khí, vậy mà ở đây lại là “khách đường xa”, được điệp lại hai lần. Vế đầu vẫn còn từ mơ, nhưng vế sau thì đã mất, con người xa lạ ấy đi mất rồi, mờ mất rồi. Dẫu là trong mơ thì hình bóng con người xuất hiện vẫn xa lạ, mịt mù, người mơ càng gọi, càng chạy theo, người khách càng lùi xa trong sự bất lực của nhà thơ. Vậy người khách ấy là ai? Phải chăng là “em” : “Áo em trắng quá nhìn không ra”? Thơ Hàn Mặc Tử luôn chứa đựng những sắc trắng tinh khôi, thanh khiết như màu trắng rợn mình

“Ống quần vo xắn lên đầu gối

Da thịt, trời ôi! Trắng rợn mình”

Hay màu trắng trong Mùa xuân Chín “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. Sắc trắng của áo được Hàn Mặc Tử ngợi ca theo cách cực tả quen thuộc, là sắc trắng khiến ông khao khát, mê say. Nhưng sắc trắng đó lại khiến người “nhìn không ra”. Nhà thơ bất lực, chạy đuổi theo “em” nhưng vô vọng, cố gọi “em” nhưng em chẳng quay đầu lại. “Em” nghe sao mà thân thương, mà yêu nhớ, nhưng tại sao người cố loạng choạng bước theo, em lại cứ xa? Là em không muốn ở lại chốn này, hay là em vốn chẳng thuộc về nơi đây? Câu thơ là nỗi đau tuyệt vọng, cùng chữ “quá” khiến câu thơ run lên một nỗi xót xa cho con người cố với theo thứ chẳng thể nào chạm tới.

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

Trong làn sương khói hư vô, nhà thơ tự xác lập một thế giới riêng “ở đây”. Nhưng không rõ ở đây là chốn nào, là trại phong Tuy Hòa, hay là thế giới trong kí ức thi nhân, hay là nơi mộng ảo nhà thơ đang chìm vào? Nghe sao mà chua xót, quặn thắt, nhà thơ có lẽ chẳng còn ý thức được gì nữa, ám ảnh làm sao khi mà mình đang ở nơi nào cũng không hay.

“Tôi đang ở đây hay ở đâu Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu”

Ở đây là nơi lãnh cung lạnh lẽo chỉ chứa sự cô đơn, nỗi niềm mặc cảm thân phận đã khiến Hàn Mặc Tử luôn có một khoảng cách với thế giới bên ngoài. Và trong làn sương khói thân thuộc của xứ Huế, nhưng lại trộn lẫn thực ảo, nhà thơ thốt lên một câu hỏi cứ xoáy vào lòng người đọc. Đại từ phiếm chỉ “ai” một lần nữa lại xuất hiện, nó biến niềm hoài niệm “vườn ai”, niềm hoài vọng “thuyền ai” thành niềm hoài nghi “tình ai”.

Câu thơ bỗng trở nên đa nghĩ, ai là hỏi cô gái hay chàng trai, là hỏi người hay hỏi ta? Và “tình ai”, phải chăng là tình đời, tình người. Có thể hiểu nhà thơ băn khoăn, khắc khoải liệu sa khi bị tách li khỏi thế giới này, liệu có còn ai nhớ tới mình. Nhưng cũng có thể hiểu đó là tình yêu da diết, mãnh liệt của nhà thơ với cuộc đời ngoài kia. Liệu có ai hay dẫu bị đẩy vào lãnh cung của sự chia li đơn côi, thì thi nhân vẫn yêu đời bằng một tình yêu da diết đậm đà, chỉ mong có ai đó thấu hiểu cho tình yêu nỗi nhớ ấy. Câu hỏi chất chứa sự hoài nghi, dằn vặt, đau đớn với khát vọng khôn nguôi được giao cảm với cuộc đời. Khổ cuối là sự thăng hoa tột đỉnh của cảm xúc hoài nghi. Mạch cảm xúc ấy có sự nối mạch từ những câu hỏi xuất hiện từ khổ một, khổ hai. Bản thân tác giả đang cố tin nhưng hiện thực lại khẳng định điều ngược lại, khao khát cháy bỏng được trở về với Vĩ Dạ, với cuộc đời, nới có thiên nhiên tươi đẹp, có con thuyền chở đầy hạnh phúc, có người con gái đẹp đang chờ đợi đã trở thành nỗi tuyệt vọng.

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 4

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 5Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 5

Hàn Mặc Tử là một trong số những tài năng độc đáo và thống soái một trường thơ: thơ điên. Chế Lan Viên từng quả quyết rằng : “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kì này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử. Bên cạnh thơ điên, Hàn Mặc Tử còn có những vần thơ trữ tình rất dịu dàng và duyên dáng. Trong số đó có bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ”. Mở đầu bài thơ về Vĩ Dạ thôn là một câu thơ rất gợi tình, gợi thương:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Câu hỏi tu từ mở ra một trời liên tưởng. Nó dường như là lời của một người con gái:”sao lâu quá anh không về Vĩ Dạ?. Câu hỏi mang bao giận hờn trách móc mà cũng ẩn chứa biết bao niềm thương nhớ: sao anh không về thăm em. Nhưng ngẫm kĩ thêm chút nữa, cũng có thể nhà thơ đã đã tự đặt câu hỏi cho chính mình:” Sao mình không về thôn Vĩ?” , hỏi cũng để tác giả tự bài tỏ lòng mình, tự giãi bày nỗi niềm thương nhớ. Thôn Vĩ Dạ đã từng in dấu chân của tác giả và những kỉ niệm về người thương. Về với Vĩ Dạ là về với những hình ảnh quen thuộc, với chân trời cảm xúc. Cảnh cũ người xưa thấp thoáng trong vần thơ đẹp mang hoài niệm, bao kỷ niệm sống dậy trong một hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế mộng mơ:

“Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền?”

Tất cả là của quá khứ hay của hiện tại trong tưởng tượng của nhà thơ? Chỉ biết là thiên nhiên và con người thôn vĩ hiện lên thật đẹp. “Nắng hàng cau” là thứ nắng mai tinh khiết khi những hàng cau thẳng tắp vươn lên chào đón bình minh. Viết về cau trước Hàn Mặc Tử có nhiều:

“Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau” (Hồng Nguyên)

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào” (Nguyễn Bính).

Những hàng cau trong hừng đông thì chỉ Hàn Mặc Tử mới có. Đó là một cái nhìn mê mải, câu thơ tiếp theo là một lời reo mừng thích thú: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Nhìn vào vườn cây xanh mướt ấy con người thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn. Đó là lời ca ngợi say sưa của người yêu thiên nhiên và có ân tình đậm đà với thôn Vĩ. Không những thiên nhiên mà con người hiện lên với một hình ảnh cụ thể: “lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Mặt chữ điền có thể là khuôn mặt của một người con gái ngay thẳng, phúc hậu và cũng là khuôn mặt của thôn Vĩ, của con người xứ Huế. Hàn Mặc Tử đã tinh tế dùng lá trúc che ngang để khuôn mặt chữ điền hiện lên trong một vẻ đẹp kín đáo. Có thể nói đây là khổ thơ đầu mang nặng những kí ức của tác giả. Tuy câu hỏi đầu mang vẻ ngậm ngùi tiếc nuối nhưng nhanh chóng chìm đi khi tâm hồn nhà thơ bị cuốn vào cảnh sắc. Qua đó ta có thể đồng cảm cho một con người mang mặc cảm bệnh tật nhưng vẫn hướng về cảnh và người thôn Vĩ với tình yêu dạt dào.

Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong Đây thôn Vĩ Dạ có những biến chuyển, thay đổi theo tư duy, theo cảm xúc và theo nỗi nhớ không nguôi của Hàn Mặc Tử về Vĩ Dạ. Khổ thơ sau vẫn nối tiếp mạch thơ, nhưng không còn êm ái mà tan tác chia lìa:

“Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?”.

Thường thì gió và mây luôn gắn kết với nhau nhưng từ nay xa cách nhau. Gió mây ở đây không phải là hiện thực mà nó mang tâm trạng của người trong cảnh chia lìa. Nhớ Vĩ Dạ nhưng không thể trở về nơi ấy được nữa nên buồn và nỗi buồn đã tràn ra cảnh vật :”Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”. Dòng nước thấm cái buồn của ngoại cảnh hay chính là cái buồn thiu của tâm cảnh. Thiên nhiên đẹp nhưng cũng thật lạnh lẽo, nó mang đầy tâm trạng u buồn, cô đơn của nhà thơ trước sự xa cách, thờ ơ của cuộc đời đối với mình. Dù vậy tâm hồn thơ của tác giả vẫn chan chứa tình yêu : “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay?” Trăng từng xuất hiện rất nhiều trong thơ Hàn Mặc Tử với đủ hình dạng, trạng thái khác nhau:

“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

Đợi gió thu về để lả lơi”

Nhưng Còn ánh trăng ở đây lại là một ánh trăng huyền ảo, một không gian tràn đầy trăng và thơ. Thuyền ở đây là thuyền của người thôn Vĩ hay con thuyền của chính tác giả? Chỉ biết con thuyền chở đầy trăng. Dòng sông Hương dát ánh trăng trở thành dãy ngân hà của vũ trụ. Liệu con thuyền ấy có chở trăng về kịp tối nay hay là một tối khác? Câu hỏi này cũng là câu hỏi của tác giả liệu mình có đến được bến bờ thời gian khi mà cuộc sống ngày một khép lại. Có lẽ chỉ có trăng là hiểu được nỗi lòng của nhà thơ, có thể là một người bạn đồng hành cùng ông vơi đi cảm giác cô đơn và mặc cảm bệnh tật.

Qua một loạt các câu hỏi tu từ vườn ai thuyền ai đến cuối cùng là “tình ai”:

“Mơ khách đường xa khách đường xa

Ai biết tình ai có đậm đà”

Hàn Mặc Tử đắm chìm trong cảnh vật nhưng vẫn không thôi trăn trở. Thôn Vĩ và con người thôn Vĩ hiền lành phúc hậu, xinh đẹp, tất cả cũng chỉ là phiếm định, là “ai” mà thôi. Cuộc trở về trong hoài niệm càng mơ hồ đến cuối cùng nhà thơ trở nên xa lạ trong kí ức của mình.” Khách đường xa là ai?” Ai mơ khách đường xa? Có phải là hình dáng của “thuyền ai” “vườn ai”? Hay tác giả lại là một khách đường xa đang trở về trong mơ nên :”Áo em trắng quá nhìn không ra”, tất cả tạo thành một lời trăn trở “Ai biết tình ai có đậm đà“. Đó là câu hỏi tu từ đặt ở cuối bài thơ khiến cho nỗi niềm riêng của nhà thơ càng trở nên xót xa, làm tăng lên nỗi cô đơn trong tâm một con người thiết tha yêu đời yêu người. Hỏi mà không biết ai hỏi, hỏi ai. Hỏi mà không có câu trả lời. Câu hỏi rơi vào hư vô, day dứt ám ảnh không nguôi để lại dư âm trong lòng người đọc.

“Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp về cảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. Bằng thủ pháp nghệ thuật liên tưởng cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, tác giả Hàn Mặc Tử đã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và ẩn trong đấy là nỗi lòng của chính nhà thơ: nỗi đau đớn trước sự cô đơn, buồn chán trần thế, đau cho số phận ngắn ngủi của mình. Đây thôn Vĩ Dạ sẽ mãi là tiếng lòng của một tâm hồn yêu thương con người, tạo vật nhưng đầy bất hạnh.

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 4Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 4

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 7

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 4Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 4

Chế Lan Viên từng nhận xét: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình.” Hàn Mặc Tử có một phong cách thơ vô cùng đặc biệt, ông tỏa sáng như một giọng thơ phức tạp và đầy bí ẩn. Qua giọng thơ ấy, người đọc cảm nhận được một tình yêu đau đớn hướng về trần thế, điều này đã được thể hiện vô cùng tha thiết thông qua bức tranh tâm trạng trong bài Đây thôn Vĩ Dạ.

Tấm bưu thiếp và những lời thăm hỏi của bà Hoàng Thị Kim Cúc đã gợi nên cảm hứng để nhà thơ viết Đây thôn Vĩ Dạ, thể hiện tình yêu thầm kín của mình, tâm trạng của mình trong hoàn cảnh éo le, bất hạnh. Có thể xem đây là duyên cớ để nhà thơ bày tỏ tình yêu tha thiết với thiên nhiên, cuộc sống và con người. Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ lúc ban mai, qua đó thể hiện tình yêu tha thiết với thiên nhiên, với cuộc đời.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Câu hỏi tu từ kết hợp với cách gieo vần bằng một loạt thanh bằng: Vừa như lời trách móc, hờn dỗi; vừa như lời mời gọi tha thiết của người con gái thôn Vĩ. Đó cũng có thể là lời tự vấn bản thân vì sao lại không về thăm thôn vĩ. Đây là ao ước thầm kín, là niềm khao khát được trở về thôn Vĩ, được thăm lại cảnh cũ, người xưa của nhà thơ.

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Điệp từ “nắng” và hình ảnh “nắng mới lên” đã gợi lên sắc nắng ấm áp, trong trẻo, tinh khôi. “Mướt quá” là tính từ đầy gợi cảm, mượt mà óng ánh đầy xuân sắc. Sự kết hợp với đại từ phiếm chỉ “ai” khiến cho câu thơ như một lời tự thán, ca ngợi cái đẹp tột cùng. Nhà thơ đã so sánh màu xanh với ngọc, diễn tả được sự xanh trong, vừa có màu vừa có ánh. Vườn thôn Vĩ lúc này như một viên ngọc rời rợi sắc xanh, tỏa ánh sáng vào ban mai. Lúc này, một bóng hình đẹp bỗng xuất hiện:

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”:

“Mặt chữ điền” là mặt của một chàng trai? Hay đó là gương mặt của một cô gái? Dẫu sao, ta vẫn có thể cảm nhận được đó là biểu tượng của nét đẹp phúc hậu, hiền lành. Nét đẹp ấy được “lá trúc che ngang”, lá trúc mảnh mai, gợi nét đẹp kín đáo, dịu dàng của con người xứ Huế. Câu thơ giàu chất tạo hình: sự hài hòa giữa khung cảnh thiên nhiên xứ Huế (hàng cau, lá trúc…) và bóng hình của con người (mặt chữ điền) trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng. Ta có thể cảm nhận được cảnh vườn thôn Vĩ tươi sáng trong nắng mai, với cảnh sắc bình dị mà tinh khôi, đơn sơ mà thanh tú, nghiêng về cõi thực. Thông qua bức tranh thiên nhiên ấy, ta cảm nhận được bức tranh tâm trạng của nhà thơ: niềm khát khao gặp gỡ, hòa cảm với cái đẹp.

Khổ thơ thứ hai đưa ta đến với bức tranh sông nước thôn Vĩ trong đêm trăng, từ đó cảm nhận được nỗi khát khao giao cảm với cuộc đời trần thế của nhà thơ.

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Điểm nhìn thay đổi từ ban mai sang đêm tối, từ cảnh vườn thôn đến sông trăng, từ khung cảnh hiện thực sang không khí hư hư thực thực đầy huyền ảo. Ta cảm nhận được sự chia lìa li tán được gợi lên qua cả hình ảnh và nhịp điệu. Hình ảnh “Gió theo lối gió, mây đường mây” vận động trái với tự nhiên. Nhìn theo lô gích hiện thực thì mây và gió không thể tách rời. Đây là sự tách rời phi lí và ngang trái. Có thể thấy, sự vật được nhìn nhận không phải bằng cái nhìn thị giác mà bằng mặc cảm chia lìa. Đồng thời nhà thơ còn nhân hóa “Dòng nước buồn thiu” để nhấn mạnh nỗi buồn. “Hoa bắp lay” thể hiện sự phiêu tán, sự ra đi, lưu luyến vô vọng. Từ những hình ảnh ấy, ta nhận ra chủ thể trữ tình cảm thức về thân phận bị bỏ rơi. Nhưng sự chia lìa còn được thể hiện ở nhịp điệu khác thường. Một câu thơ thất ngôn bình thường sẽ có nhịp 2/2/3, nhưng câu thơ này lại sử dụng nhịp: 4/3. Phải chăng mỗi đối tượng bị cách li trong một khuôn nhịp riêng biệt, làm nổi bật sự lìa xa nhau. Hình ảnh và nhịp điệu quyện vào nhau khiến cho cuộc chia lìa gió mây càng sắc nét, gây nên cảm xúc đau buồn.

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?”

Câu hỏi “Có chở trăng về kịp tối nay?” xuất hiện từ “kịp” như đang phân cách đôi bờ, như một sự hoảng sợ về những phút giây cuối cùng còn tồn tại trong cuộc đời. Mặc cảm chia lìa thấm đẫm vào vạn vật, đó là tiếng khóc cho thân phận bị bỏ rơi bên trời quên lãng của mình. Nhưng đồng thời, bởi sự chia lìa ấy, mà khát khao níu giữ hiện lên rõ rệt. Bởi chỉ một mình trăng là đi ngược lại xu thế chảy đi của những “mây”, “gió”… Từ “kịp” thì lại thể hiện sự phấp phỏng, lo âu, khát khao được gắn bó, được níu giữ. Đó là niềm thiết tha gắn bó, tha thiết đến đau thương, mãnh liệt mà vô vọng. Khổ thơ này giúp ta cảm nhận được tâm trạng hoài nghi, mong ngóng, đồng thời cũng thể hiện khát vọng hòa mình giao cảm với thiên nhiên và con người.

Khổ thơ thứ ba hiện lên một cách rõ ràng bức tranh tâm trạng của chủ thể trữ tình, đó là tâm trạng bâng khuâng, xót xa của một tâm hồn đang khao khát được yêu, khao khát sự đồng điệu, đồng cảm:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Từ “mơ” mở ra như báo hiệu một trạng thái vô thức, nhà thơ đang chìm trong cõi mộng. Điệp từ “khách đường xa” nhấn mạnh nỗi xót xa của nhà thơ, một hình bóng đẹp nhưng xa vời đến nỗi không thể nào gặp được

“Áo em trắng quá nhìn không ra”

Vì sao lại là “trắng quá nhìn không ra”? Tác giả đã cực tả sắc trắng, trắng một cách kì lạ và bất ngờ. Biện pháp hoán dụ khiến cho màu sắc không còn là màu sắc thực nữa mà là màu của tâm tưởng.

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”

“Ở đây”: hiện thực, là trại phong, nơi tác giả bị cách li với thế giới bên ngoài. Lớp từ: “sương khói”, “mờ” đã nhấn mạnh sự nhạt nhòa, hư ảo, hư thực vì đó là giấc mộng của tác giả, mong được liên kết với cuộc đời nhưng không thể. Tất cả khiến cho ta cảm nhận được bi kịch hiện thực, dường như nhà thơ đang bị lưu đày, cách xa thế giới ngoài kia.

“Ai biết tình ai có đậm đà?”

Đại từ phiếm chỉ “ai” lặp lại hai lần cho thấy tiếng gọi tha thiết đầy khát vọng nhưng “khách đường xa” cứ chập chờn rồi khuất bóng. Đồng thời, câu hỏi tu từ khiến ta cảm nhận được tâm trạng đau khổ vì cô đơn, hoài nghi. Bức tranh tâm trạng của nhà thơ ở đây là sự bâng khuâng, xót xa của một tâm hồn đang khao khát được yêu, khao khát sự đồng điệu, đồng cảm.

Có thể nói, bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh toàn bích về cảnh vật và con người thôn Vĩ. Ẩn sau bức tranh thiên nhiên ấy là niềm khát khao giao cảm với cuộc đời trần thế bằng tình yêu tha thiết đến đau đớn. Bài thơ đã vượt lên trên một bài thơ tình đơn thuần để chuyển tải những khát vọng về tình yêu, cuộc sống, con người. Với những giá trị như vậy, chắc chắn Đây thôn Vĩ Dạ sẽ sống mãi trong lòng những người yêu thơ Hàn Mặc Tử.

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 7Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 7

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 3

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 7Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 7

Theo ông Quách Tấn, người bạn chí thân và đồng thời cũng là người hiểu khá rõ về nhà thơ Hàn Mặc Tử, thì bài thơ này, tức bài Đây thôn Vĩ Dạ được sáng tác vào năm 1939, ngay sau khi tác giả nhận được một bức bưu ảnh, một “phiến phong cảnh” kèm với lời hỏi thăm sức khỏe của cô Hoàng Cúc – cố nhân, người yêu cũ của Hàn. Chính lời hỏi thăm của người con gái ấy đã khiến tứ thơ vụt sáng trong đầu thi nhân, trong lúc thi nhân đang lâm vào nghịch cảnh, thời điểm bi đát nhất của cuộc đời mình.

Bài thơ được Hàn chia thành ba đoạn, mỗi đoạn là một cung bậc cảm xúc xong đều bị chi phối bởi một sắc màu phức cảm nhất định.

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Âm điệu, giọng thơ từ những vần đầu của thi phẩm là một phần vô cùng quan trọng, bởi nó sẽ quyết định âm hưởng chủ đạo xuyên suốt toàn bộ hành trình cảm xúc của tác phẩm. Về những đoạn sau, âm hưởng, nhạc điệu của bài thơ có đa dạng, biến hóa hơn lúc đầu thế nào đi nữa thì ý thức thơ và tư duy thơ của người đọc cũng như của nhân vật trữ tình hay của tác giả vẫn bị ảnh hưởng, chi phối mạnh bởi cấu thanh ấy. Cảm xúc chính: Quá khứ sống dậy trong miền nhớ. Cảm xúc chính của nhân vật trữ tình ở đây là xao xuyến, bâng khuâng, nhớ nhung da diết.

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Câu thơ lắng lại trong một nội lực phù sa xúc cảm đầy mạnh mẽ, nỗi buồn từng phá nhuốm trên từng con chữ vần thơ, mặc cảm chia lìa, dáng dấp của một nỗi sầu chia ly tan tác quyết định cái tôi của Mặc Tử, và đổ bóng xuống cảm quan không gian, nó dựng lên bối cảnh tương quan trong Đây thôn Vĩ Dạ, thiên nhiên trong thơ bị chi phối bởi tâm trạng con người, nó là một thực tại cô đơn, phiêu tán: gió bay đi, mây trôi đi, sông cũng lặng lờ buồn thiu chảy về miền xa vắng – cái hiện thực, cảnh tượng ấy ám ảnh một cái nhìn khác đời, ngang trái và trớ trêu: gió mây, hai vật thể gắn chặt ấy làm sao có thể rách rời (gió thổi mây bay, mây không thể tự nhiên mà di chuyển được, mây và gió cũng không thể đi ngược hai luồng), nếu nhìn qua lăng kính của đôi mắt không thôi, thì Hàn Mặc Tử chắc chắn không thể viết nên những vần thơ như thế, khung cảnh thiên nhiên đã được Tử ghi lại bằng rung cảm tâm hồn đầy “mặc cảm”, và, “mặc cảm ấy đã chia lìa những thứ tưởng không thể chia lìa”.

Dòng nước hồn nhiên, vô tư kia cũng trở nên buồn bã. Dòng nước ấy vừa như mang sẵn một mạch buồn vô hạn, vừa như bị chia phôi nỗi sầu từ gió, từ mây. Bức tranh sự chuyển động ấy cũng không làm khung cảnh ấy vui lên, sống động lên; tranh có hoa, song, cũng chỉ là hoa bắp –một thứ hoa vô sắc vô hương, buồn bã, vô tình. Động từ láy là một động từ “trung tính”, thế nhưng, đặt từ ngữ ấy vào bối cảnh bài thơ, sao mà buồn bã, thê thiết thế:. Hàn Mặc Tử nhìn hoa bắp chỉ cảm nhận được được sự ly biệt, phiêu tán, rời xa: gió, mây, dòng nước đã đi hết rồi, chỉ còn hoa bắp là không thể tự mình di chuyển được, cái “lay” phảng phất những cái níu giữ vu vơ, cái níu giữ vô hình. Trong hoa bắp đã in hình cuộc đời của Hàn Mặc Tử: một cuộc đời côi cút, cô đơn, một cuộc đời “bị quang ra ngoài xã hội”. Gió, mây, dòng nước đều muốn ra đi, chỉ còn trăng là lội ngược dòng, xuôi về với lòng thi nhân, chỉ còn trăng mới tìm thi nhân bầu bạn:

Có chở trăng về kịp tối nay

Mơ khách đường xa khách đường xa

Ai biết tình ai có đậm đà…

Hai câu thơ đầu tốc ký về cái khoảnh khắc bâng khuâng, bồng bềnh phiêu lắng trong cõi mộng, đau đáu dõi theo bóng của một ảo ảnh trên con thuyền chở trăng với khát khao mong tìm được “chân ảnh” của kẻ thi nhân lạc loài cô đơn ham sống đang tìm về “cõi mộng mong nhập thế”. Song, cảnh thiên tiên đẹp mấy cũng sẽ tàn, mộng nơi trần gian say lâu rồi cũng tỉnh, trong phút chốc, mọi cá thể hư ảo đều hóa ra thành mây khói: ánh nắng của những khổ thơ trước đã tan, sắc trăng đã tắt, nhân ảnh hư mờ, cả đoạn thơ bao phủ bởi một màu trắng gắt đến lặng cả những vần thơ. Thi nhân bị đẩy lại nơi trần thế đầy nghịch cảnh. Chữ quá như nghẹn ngào, như xót xa tiếc nuối trong nỗi đau của mặc cảm chia lìa. Có thể phân tích thêm ý nghĩa của sắc trắng trong những câu thơ cuối. Gam trắng là gam màu quyền lực nhất trong thơ văn Hàn Mặc Tử, nó mang một ý nghĩa riêng.

Đi tìm cái đẹp của cõi thực, cõi thực hờ hững. Đi tìm sự đồng cảm, đồng điệu trong cõi mộng, cõi mộng hư ảo, mù mịt. Cho nên, đắm say rồi nguội lạnh, bằng gió, mộng rồi lại tỉnh. Đó là logic vận động tâm trạng của một cái tôi ham sống, yêu đời trong Đây thôn Vĩ Dạ. Cảnh lúc như gần, lúc như xa, lúc rất thực, càng về sau càng trở nên hư ảo, huyền hồ. Sắc điệu tiếng nói trữ tình lúc âm u, lúc chói lạnh. Cảm nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình trong Đây thôn Vĩ Dạ cũng chính là tiếng lòng khắc khoải của Hàn Mặc Tử vừa đẹp nhưng lại đau thắt tới tận cùng.

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 8

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 3Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 3

“Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm” và thơ của Hàn Mặc Tử là thứ âm nhạc như thế. Hàn Mặc Tử là một nhà thơ tài hoa và lỗi lạc của phong trào Thơ mới. Ông viết thơ đâu chỉ bằng chữ mà còn bằng trái tim, bằng tình yêu thơ, yêu thiên nhiên đất nước sâu đậm. “Đây thôn Vĩ Dạ” rút trong tập “Thơ điên” là tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ ông. Gấp lại trang thơ, ta ấn tượng với tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài.

Bài thơ mở đầu với một câu hỏi tu từ tình tứ và giàu sức gợi:

Đó vừa như một lời chào mời, vừa như lời trách móc nhẹ nhàng với người thương ông hằng nhớ đợi chờ. Chỉ với một câu thơ ngắn ngủi, Hàn Mặc Tử đã đưa người đọc trở về với không gian vườn tược nơi xứ Huế mộng mơ:

……

Qua lăng kính quả Hàn Mặc Tử, cảnh sắc thiên nhiên hiện lên thật vui tươi, lấp lánh. Từ xa là hình ảnh những hàng cau thẳng tắp vươn cao đón nắng mặt trời. Điệp từ “nắng” cùng với nghệ thuật so sánh ” xanh như ngọc” gợi một không gian với những hình ảnh: Từng cành cây, ngọn cỏ, khóm lá rất tươi tốt láng bóng, ” xanh như ngọc” là màu xanh sáng xanh trong là xanh của sự sống. Điểm nhấn chính là câu thứ tư khắc họa thiếu nữ trang nhã, phúc hậu. “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Tác giả đã khéo léo tô đậm nét đẹp của cô gái Huế duyên dáng, dịu dàng, kín đáo, tình tứ đáng yêu giữa một khu rừng vui tươi, lộng lẫy. Có thể nói, phải có một tâm hồn nhạy cảm, biết yêu thương cái đẹp thì tác giả mới có thể vẽ nên bức tranh ngập tràn nắng mới như vậy. Những câu thơ tiếp lại có vẻ đượm buồn với gió, mây, dòng sông và hoa bắp:

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”.

Trong thơ ca, gió và mây thường gắn kết, song hành với nhau nhưng này lại chia đôi ngả. Phải chăng nó chất chứa nỗi niềm của chủ thể trữ tình trong cảnh chia lìa? Dòng Hương Giang thấm cái buồn của cảnh vật nên cũng trôi lờ lững trong “buồn thiu”, bâng khuâng. Đứng trước thiên nhiên với tâm trạng u buồn, tác giả buông câu hỏi tu từ:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Buồn bã là thế nhưng nhà thơ vẫn không quên miêu tả vẻ đẹp của dòng “sông trăng” quê hương. Có thể thấy, không gian trăng lấp lánh kia đã trở thành hiện thân về trần thế tươi đẹp, về cuộc đời mà tác giả khao khát được hòa nhập và chiếm lĩnh. Tác giả hoàn toàn ý thức được số phận nghiệt ngã của mình, nhận biết được quỹ thời gian ngắn ngủi của mình. Vì thế, câu hỏi “Có chở trăng về kịp tối nay? ” vang lên. Chữ “kịp” vang lên đầy xót xa, đau đớn như để khắc họa tâm trạng lo âu, bồn chồn của nhà thơ. Qua đó, ta thấy một hồn thơ Hàn Mặc Tử lãng mạn, mang trong mình một tình yêu kín đáo, thơ mộng và thoáng buồn với quê hương. Nắng mới đã tan, sắc trăng đã tắt, nhân ảnh hư mờ, cả đoạn thơ bao phủ bởi một màu trắng xóa của sương khói:

Ai biết tình ai có đậm đà”.

Hiện thực nghiệt ngã bỗng chốc ùa về. Nếu trong thơ ca xưa, “sương khói” thường đi liền với tình cố hương thì này, xuất hiện giữa màn khói sương mờ ảo là dáng hình của một cô gái xứ Huế trắng trong, kín đáo. Chữ “quá” vang lên sao lại xót xa tiếc nuối đến thế. Giờ đây, Hàn Mặc Tử đang sống với những mảnh kí ức mong manh, đang dần nhạt hòa của mình. Để rồi, chính nhà thơ cũng trở nên xa lạ trong kí ức của mình “Ai biết tình ai có đậm đà”. Câu hỏi tu từ đặt ở cuối bài thơ dường như khiến nỗi niềm riêng của nhà thơ trở nên xót xa, làm tăng lên nỗi cô đơn trong tâm một con người thiết tha yêu đời yêu người.

Đọc “Đây thôn Vĩ Dạ”, chúng ta thấy mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình ở đây là xao xuyến, bâng khuâng, nhớ nhung da diết. Cũng nhờ những tâm trạng ấy mà ta mới thấy được một bức tranh thiên nhiên và con người xứ Huế thật đẹp, một chàng thi sĩ với trái tim thương yêu thiên nhiên, đất nước đang bộc lộ tâm tư, cảm xúc của mình.

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 2

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 8Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 8

“Mở cửa nhìn trăng, trăng tái mặt,

Khép phòng đốt nến, nến rơi châu…”

Mấy ai đã từng say trăng như Hàn Mặc Tử? “Trăng sõng soài trên cành liễu – Đợi gió đông về để lả lơi…” (“Bẽn lẽn”) – Thi sĩ còn nói đến thuyền trăng, sông trăng. Cả một trời trăng mộng ảo, huyền diệu. Thơ Hàn Mặc Tử rợn ngợp ánh trăng, thể hiện tâm hồn “say trăng” với tình yêu tha thiết cuộc đời, vừa thực vừa mơ. Ông là một trong những nhà thơ lỗi lạc nhất của phong trào Thơ mới (1932-1941). Với 28 tuổi đời (1912-1940), ông để lại cho nền thơ ca dân tộc hàng trăm bài thơ và một số kịch thơ. Thơ của ông như trào ra máu và nước mắt, có không ít hình tượng kinh dị. Cũng chưa ai viết thơ hay về mùa xuân và thiếu nữ (“Mùa xuân chín”), về Huế đẹp và thơ (“Đây thôn Vĩ Dạ”) như Hàn Mặc Tử.

“Đây thôn Vĩ Dạ” rút trong tập “Thơ điên” xuất bản năm 1940, sau khi nhà thơ qua đời. Bài thơ nói rất hay về Huế, về cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, về con người xứ Huế, nhất là các cô gái duyên dáng, đa tình, đáng yêu – tình yêu thơ mộng say đắm, lung linh trong ánh sáng huyền ảo. Bài thơ giãi bày một nỗi niềm bâng khuâng, một khao khát về hạnh phúc của thi sĩ đa tình, có nhiều duyên nợ với cảnh và con người Vĩ Dạ.

Câu đầu “dịu ngọt” như một lời chào mời, vừa mừng vui hội, vừa nhẹ nhàng trách móc người thương biết bao nhớ đợi chờ. Giọng thơ êm dịu, đằm thắm và tình tứ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Có mấy xa xôi. Cảnh cũ người xưa thấp thoáng trong vần thơ đẹp mang hoài niệm. Bao kỷ niệm sống dậy trong một hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế mộng mơ:

Cảnh được nói đến là một sáng bình minh đẹp. Nhìn từ xa, say mê ngắm nhìn những ngọn cau, tàu cau ngời lên màu nắng mới, “nắng mới lên” rực rỡ. Hàng cau như đón chào người thân thương sau bao ngày xa cách. Hàng cau cao vút là hình ảnh thân thuộc thôn Vĩ Dạ từ bao đời nay. Quên sao được màu xanh cây lá nơi đây. Nhà thơ trầm trồ thốt lên khi đứng trước một màu xanh vườn tược thôn Vĩ Dạ: “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Sương đêm ướt đẫm cây cỏ hoa lá. Màu xanh mỡ màng, non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng, trông “mượt quá” một màu xanh như ngọc bích. Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa, con người cần cù chăm bón mới có “màu xanh như ngọc” ấy. Thiên nhiên rạo rực, trẻ trung và đầy sức sống. Cũng nói về màu xanh ngọc bích, trước đó (1938) Xuân Diệu đã từng viết: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá…” (“Thơ duyên). Hai chữ “vườn ai” đã gợi ra nhiều ngạc nhiên và man mác. Câu thứ tư tả thiếu nữ với khóm trúc vườn đầy đặn, phúc hậu. “Lá trúc che ngang” là một nét vẽ thần tình đã tô đậm nét đẹp của cô gái Huế duyên dáng, dịu dàng, kín đáo, tình tứ đáng yêu. Hàn Mặc Tử hơn một lần nói về trước và thiếu nữ. Khóm trúc như toả bóng xanh mát che chở cho một mối tình đẹp đang nảy nở:

“Thầm thì với ai ngồi dưới trúc

Nghe ra ý nhị và thơ ngây” (“Mùa xuân chín”)

Câu 3, 4 trong khổ thơ đầu tả cau, tả nắng, tả vườn, tả trúc và thiếu nữ với một gam màu nhẹ thoáng, ẩn hiện, mơ hồ. Đặc sắc nhất là hai hình ảnh so sánh và ẩn dụ. (xanh như ngọc mặt chữ điền) Cảnh và người nơi Vĩ Dạ thật hồn hậu, thân thuộc đáng yêu.

Vĩ Dạ – một làng quê nằm bên bờ Hương Giang, thuộc ngoại ô cố đô Huế. Vĩ Dạ đẹp với những con đò thơ mộng, những mảnh vườn xanh tươi bốn mùa, sum sê hoa trái. Những ngôi nhà xinh xắn thấp thoáng ẩn hiện sau hàng cau, khóm trúc, mà ở đây thường dìu dặt câu Nam ai, Nam bình qua tiếng đàn tranh, đàn thập lục huyền diệu, réo rắt. Thôn Vĩ Dạ đẹp nên thơ. Hàn Mặc Tử đã dành cho Vĩ Dạ vần thơ đẹp nhất với tất cả lòng tha thiết mến thương.

Khổ thơ thứ hai nói về cảnh trời mây, sông nước. Một không gian nghệ thuật thoáng đãng, mơ hồ, xa xăm. Hai câu 5, 6 là bức tranh tả gió, mây, dòng sông và hoa (hoa bắp). Giọng thơ nhẹ nhàng, thoáng buồn. Nghệ thuật đối tạo nên 4 bức cảnh hài hòa, cân xứng và sống động. Gió mây đôi ngả như mối tình nhà thơ, tưởng gần đấy mà xa vời, cách trở. Dòng Hương Giang êm trôi lờ lững, trong tâm tưởng thi nhân trở nên “buồn thiu”, nhiều bâng khuâng, man mác. Hoa bắp lay nhè nhẹ đung đưa trong gió thoảng. Nhịp điệu khoan thai thơ mộng của miền sông Hương, núi Ngự được diễn tả rất tinh tế. Các điệp ngữ luyến láy gợi nên nhiều vương vấn mộng mơ:

Hai câu tiếp theo nhà thơ hỏi “ai” hay hỏi mình khi nhìn thấy hay nhớ tới con đò mộng nằm bến sông trăng. Sông Hương quê em trở thành sông trăng. Hàn Mặc Tử với tình yêu Vĩ Dạ mà sáng tạo nên vần thơ đẹp nói về dòng sông Hương với những con đò dưới vầng trăng. Nguyễn Công Trứ đã từng viết: “Gió trăng chứa một thuyền đầy”. Hàn Mặc Tử cũng góp cho nền thơ Việt Nam hiện đại một vần thơ trăng độc đáo:

Thuyền em hay “thuyền ai” vừa thân quen, vừa xa lạ. Tâm hồn nhà thơ xao xuyến khi nhìn sông trăng và con thuyền. Thuyền em hay “thuyền ai” vừa thân quen, vừa xa lạ. Chất thơ mộng ảo “Đây thôn Vĩ Dạ” là ở những thi liệu ấy. Câu thơ gợi tả một hồn thơ đang rung động trước vẻ đẹp hữu tình của xứ Huế miền Trung, nói lên một tình yêu kín đáo, dịu dàng, thơ mộng và thoáng buồn.

Khổ thơ thứ ba nói về cô gái xứ Huế và tâm tình thi nhân. Đương thời nhà thơ Nguyễn Bính đã viết về thiếu nữ sông Hương: “Những nàng thiếu nữ sông Hương – Da thơm là phấn, má hường là son”…Vĩ Dạ mưa nhiều, những buổi sớm mai và chiều tà phủ mờ sương khói. “Sương khói” trong Đường thi thường gắn liền với tình cố hương. Ở đây sông khói làm nhòa đi, mờ đi áo trắng em, nên anh nhìn mãi vẫn không ra hình dáng em (nhân ảnh). Người thiếu nữ Huế thoáng hiện, trắng trong, kín đáo và duyên dáng. Gần mà xa. Thực mà mơ. Câu thơ chập chờn, bâng khuâng. Ta đã biết Hàn Mặc Tử từng có một mối tình với một thiếu nữ Huế mang tên một loài hoa đẹp. Phải chăng nhà thơ muốn nói về mối tình này?

“Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà”.

Cũng cần nói đôi lời về chữ “ai” trong bài thơ này. Cả 4 lần chữ “ai” xuất hiện đều mơ hồ ám ảnh: “vườn ai mướt quá xanh như ngọc?” – “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?” – “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Con người mà nhà thơ nói đến là con người xa vắng, trong hoài niệm bâng khuâng. Nhà thơ luôn cảm thấy mình hụt hẫng, chơi với trước một mối tình đơn phương mộng ảo. Một chút hi vọng mong manh mà tha thiết như đang nhạt nhòa và mờ đi cùng sương khói?

Hàn Mặc Tử đã để lại cho ta một bài thơ tình thật hay. Cảnh và người, mộng và thực, say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ bao hình ảnh và cảm xúc đẹp hội tụ trong ba khổ thơ thất ngôn, câu chữ toàn bích.Cảm nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình trong Đây thôn Vĩ Dạ bằng sự thấu hiểu, cảm thông chúng ta có thể thấy đây là một bài thơ tình tuyệt tác. Cái màu xanh như ngọc của vườn ai, con thuyền ai trên sông trăng, và cái màu trắng của áo em như đang dẫn hồn ta đi về miền sương khói của Vĩ Dạ thôn một thời xa vắng:

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?”

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 6

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 2Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 2

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân xếp Hàn Mặc Tử vào nhóm thơ “kì dị” cùng với Chế Lan Viên. Đọc thơ Hàn Mặc Tử, nhiều bài quả là kì dị. Ông đã tạo ra cho mình “một thế giới nghệ thuật điên loạn, ma quái, xa lạ với đời thực”.

Tuy vậy, bên cạnh những vần thơ điên loạn, thi sĩ nhiều khi lại sáng tạo nên những hình ảnh tuyệt kĩ và hồn nhiên, trong trẻo lạ thường. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ như thế. Đọc bài thơ, ta thấy được một phương diện rất đẹp của tâm hồn nhà thơ.

Có tài liệu cho rằng bài thơ được gợi hứng từ bức ảnh phong cảnh Huế cùng mấy lời thăm hỏi của Hoàng Cúc, người con gái thôn Vĩ Dạ xứ Huế, cũng là người mà Hàn Mặc Tử đã thầm yêu trộm nhớ ngày xưa. Vì thế bài thơ vừa làm sống dậy những kỉ niệm về Huế mộng và thơ, vừa thể hiện được tâm trạng buồn bã vô vọng, chập chờn, lãng đãng như sương, như khói.

Câu thơ mở đầu này vừa như một câu hỏi, vừa như một lời mời gọi, trong đó hàm chứa cá sự ngạc nhiên lẫn niềm nuối tiếc. Cảnh Vĩ Dạ đẹp thế, hấp dẫn là vậy sao anh không về? Cảnh thiên nhiên tươi đẹp thôn Vĩ Dạ hiện lên qua một vài nét vẽ thoáng nhẹ, nhưng lại đầy ấn tượng. Cái ấn tượng vốn đã ăn sâu đậm trong tâm hồn nhà thơ về xứ Huế. Cảnh vật ở đây dường như được sàng lọc qua tâm trí nhà thơ, chỉ giữ lại những đường nét tiêu biểu nhất. Một buổi sáng ở thôn Vĩ, ánh nắng chiếu sáng lấp loáng những hàng cau còn ướt đẫm sương đêm. Hàng cau hiện lên trong một khoảnh khắc đặc biệt, gắn liền với cái ánh nắng mới lên trong trẻo, tinh khôi, cụ thể và gợi cảm.

Tả cảnh vườn cây tươi mát, sum suê, Hàn Mặc Tử chỉ tập trung làm nổi bật cái mướt xanh của lá: Vườn ai mướt quá xanh như ngọc. Cảnh vật ấy như sinh động hẳn lên khi thấp thoáng xuất hiện bóng người, một khuôn mặt kín đáo, phúc hậu, dịu dàng:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Thiên nhiên và con người rất hài hòa, gợi lên cái thần thái, cái hồn của Vĩ Dạ, một Vĩ Dạ vốn thơ mộng, vì có “nàng” ở đó, trong những vườn tược, nên lại càng thơ mộng hơn đâu hết. Ở khổ thơ thứ hai, tâm trạng nhà thơ như chuyển hẳn sang một gam khác. Nếu như ở khổ thơ đầu, một Vĩ Dạ với cảnh vật tươi sáng trong trẻo lạ thường thì đến khổ thơ này, một nỗi buồn đã bao phủ lên tất cả. Sự chuyển biến đột ngột từ vui sang buồn như thế khá phổ biến trong Thơ mới và văn chương lãng mạn nói chung:

Phải chăng Huế ở khổ thơ đầu là Huế trong kí ức đẹp ngày xưa, còn Huế ở khổ thơ thứ hai là Huế trong tâm trạng của nhà thơ khi trở về hiện tại. Thôn Vĩ Dạ hiện lên vẫn thơ mộng với gió, trăng, mây nước, thuyền bến và hoa bắp lay. Nhưng tất cả đều nhuốm một nỗi buồn. Tâm trạng của người buồn nhìn đâu cũng thấy chia lìa và buồn bã:

Gió theo lối gió, mây đường mây

Gió mây đã chia lìa đôi ngả, dường như chẳng có quan hệ gì; dòng nước vốn chẳng biết vui buồn cũng trở nên buồn thiu. Hình ảnh hoa bắp lay gợi một nỗi buồn hiu hắt. Một nỗi buồn bao phủ từ bầu trời đến mặt đất, từ gió, mây đến dòng nước và hoa bắp bên sông. Đằng sau những cảnh vật ấy là một tâm trạng của một con người mang nặng một nỗi buồn xa cách, một mối tình vô vọng. Giờ đây tất cả chỉ còn trong cõi mộng cả cảnh vật cũng như tình người. Một không gian tràn ngập ánh trăng, một dòng sông trăng, một bến đò trăng, một con thuyền đầy trăng… Cảnh thật thơ mộng nhưng buồn mênh mang:

Nhà thơ như không còn sống với cảnh vật bên ngoài nữa, mà chìm đắm trong cõi lòng riêng của mình. Sông với cảnh mộng và với người trong mộng, Hàn Mặc Tử, ở khổ thơ cuối, như đối thoại trong mơ với một đối tượng hư ảo:

Hình ảnh của cô gái thôn Vĩ ngày xưa chập chờn trong cõi mộng tạo cho nhà thơ một cảm giác bâng khuâng, ngơ ngẩn. Màu áo trắng của cô gái Huế trắng quá như lẫn vào sương khói. Sương khói của đất trời xứ Huế hay là sương khói của thời gian và không gian xa cách phủ lên một mối tình cũng thật xa vời.

Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi và kết thúc bằng một lời đáp lại. Những lời đáp cũng là một câu hỏi. Phải ai biết tình ai có đậm đà để có thể trở về thăm thôn Vĩ?

Hàn Mặc Tử đã mất nhưng bài thơ thôn Vĩ vẫn còn đó. Bài thơ ấy đã vượt qua lớp sương khói của thời gian để bất tử hóa một mối tình tuyệt vọng nhưng rất đỗi thiết tha, trong sáng

Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 6Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử số 6

Đăng bởi: Nhân Dương

Từ khoá: 8 Bài văn phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử hay nhất

Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất ✅ Đón Đọc Tuyển Tập Bài Viết Đặc Sắc Phân Tích Hình Tượng Nhân Vật Của Nhà Văn Nam Cao.

Lập dàn ý phân tích nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc sẽ là nội dung định hướng để triển khai bài viết. Tham khảo mẫu phân tích nhân vật lão Hạc dàn ý chi tiết như sau:

I. Mở bài phân tích nhân vật lão Hạc:

Giới thiệu khái quát về nhà văn Nam Cao, truyện ngắn Lão Hạc.

Giới thiệu về nội dung cần phân tích – nhân vật lão Hạc – nhân vật trung tâm của tác phẩm.

II. Thân bài phân tích nhân vật lão Hạc:

1.Phân tích hoàn cảnh sống của nhân vật lão Hạc:

Vợ mất sớm, một mình nuôi con khôn lớn.

Tài sản trong nhà không có gì ngoài ba sào vườn, một túp lều nhỏ và một con chó.

Không có tiền cho con trai cưới vợ, người con trai bỏ đi đồn điền cao su, bỏ lại lão sống một mình.

Sau một trận ốm, trong nhà không còn gì để ăn, lão quyết định bán cậu Vàng – kỉ vật mà anh con trai để lại, không chỉ là một con vật mà còn giống như một người bạn.

Hoàn cảnh vô cùng khó khăn, khổ cực.

2.Phân tích vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật lão Hạc:

a. Một con người hiền lành, nhân hậu và giàu tình yêu thương:

-Một người cha hết mực yêu thương con:

Day dứt vì không có tiền lo cho con lấy vợ.

Kiên quyết giữ lại mảnh vườn là của hồi môn của con dù trong nhà không có gì ăn.

-Yêu thương con chó vàng, coi nó là một người bạn:

Cho ăn bằng một cái bát lớn như của nhà giàu, có gì ăn cũng gắp cho nó cùng ăn.

Khi rảnh rỗi còn đem nó ra tẳm rửa, bắt giận.

Mỗi khi lão uống rượu có đồ nhắm ngon lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con cháu trong nhà.

Thường xuyên tâm sự với nó, vỗ về ôm ấp.

Đối xử giống như với một con người.

-Quyết định bán cậu Vàng: vô cùng khó khăn, trăn trở giống như phải quyết định một việc trọng đại trong đời.

-Diễn biến tâm trạng sau khi bán chó: Sáng hôm sau, lão Hạc sang nhà ông giáo kể lại toàn bộ sự việc.

Cố làm ra vẻ vui mừng: “Cậu Vàng đi đời rồi ông giáo ạ”, nhưng thực ra lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậc nước.

“Mặt lão đột nhiên co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra”

Lão hu hu khóc…

Tự trách bản thân mình đã già rồi còn đi lừa một con chó: “Khốn nạn… Ông giáo ơi!… như thế này à?”

Chua chát bảo với ông giáo: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta phải hóa kiếp cho nó…”

Lão cười và ho sòng sọc, Lão nói xong lại cười đưa đà… Nụ cười dường như để nén đi nỗi đau đơn khi mất đi “người bạn” duy nhất.

Nam Cao đã khắc họa chân thực nỗi đau khổ, day dứt của Lão Hạc sau khi bán cậu Vàng

b. Một con người trong sạch, giàu lòng tự trọng

Quá túng quẫn, chỉ ăn củ chuối, sung luộc…, nhưng lại từ chối “một cách gần như hách dịch” những gì ông giáo ngầm cho lão.

Lão đến nhờ cậy ông giáo hai việc: Trông nom hộ mảnh vườn, khi thằng con trai về sẽ giao lại cho nó. Mang hết tiền dành dụm được nhờ ông giáo giữ hộ để khi mình chết thì nhờ ông giáo và bà con lo liệu ma chay cho mình.

Lão đến xin Binh Tư một ý bả chó và nói dối rằng dạo này có con chó hay đến vườn nhà lão nên muốn đánh bả nó. Nếu được lão sẽ mời hắn uống rượu. Nhưng thực ra lão Hạc dùng số bả chó ấy để tự tử.

Hình ảnh lão Hạc khi chết đầy ám ảnh: “Lão Hạc đang vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người lão chốc chốc lại bị giật mạnh một cái. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ mới chết”. Cái chết dữ dội, đau đớn và thê thảm của một con người lương thiện.

Qua nhân vật, Nam Cao tố cáo xã hội đã đẩy người nông dân vào hoàn cảnh khốn cùng.

3.Phân tích đặc sắc nghệ thuật trong xây dựng nhân vật lão Hạc:

Ngôi kể thứ nhất tự nhiên, linh hoạt

Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật

Ngôn ngữ đối thoại, độc thoại…

III. Kết bài phân tích nhân vật lão Hạc:

Khái quát chung lại về nhân vật lão Hạc

Đánh giá của người viết về nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc 🍀 17 Bài Mẫu Ngắn Hay Nhất

Hình tượng người nông dân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 được khai thác một cách sâu sắc và triệt để trong văn học. Qua những trang văn của các tác giả, những con người với số phận bất hạnh nhưng ngời sáng những phẩm chất cao quý được thể hiện một cách rõ nét.

Nếu Ngô Tất Tố thành công với việc khắc họa hình tượng nhân vật chị Dậu, một người phụ nữ yêu chồng thương con, giàu đức hi sinh nhưng cũng có những phút giây vùng lên để chống lại cái xấu, cái ác trong “Tắt đèn” thì Nguyễn Công Hoan lại xây dựng hình ảnh một anh Pha dám vùng lên đánh trả lại bọn cường hào ác bá trong “Bước đường cùng”.

Và Nam Cao với hình tượng nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên đã khắc họa thành công hình tượng người nông dân với số phận nghèo khổ, bần cùng nhưng lương thiện, chất phác và rất giàu lòng tự trọng.

Lão Hạc là một truyện ngắn hay và xuất sắc nhất của Nam Cao giai đoạn trước cách mạng tháng tám, để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Không chỉ là cái chết đầy ám ảnh của một kiếp người tàn mà ở đó ta thấy được nhiều vẻ đẹp đáng quý của một con người giữa cái thời đói khổ khốn nạn.

Ở nhân vật Lão Hạc, đó là tấm lòng thương yêu con sâu sắc, chịu chết để giữ vườn cho con, là lối sống ân nghĩa, thủy chung với cả con chó, là sự lương thiện, thực thà của một con người dù đói chứ cũng không bao giờ táy máy của ai, là tấm lòng tự trọng, chu toàn không muốn phiền lụy đến một ai sau khi chết. Một đời người lắm hy sinh, lắm tốt đẹp như thế nhưng Lão Hạc vẫn phải chịu nhiều nghiệt ngã đớn đau, vì trời bắt tội những kẻ nghèo, thật khiến người ta không khỏi bùi ngùi, xót xa.

Mời bạn tham khảo 🌠 Sơ Đồ Tư Duy Lão Hạc Nam Cao 🌠 12 Mẫu Vẽ Tóm Tắt Hay

Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc trong giai đoạn văn học 1930 – 1945. Qua nhiều tác phẩm, tác giả đã vẽ nên khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Sự đói khổ ám ảnh nhà văn bởi nó ảnh hưởng không ít tới nhân cách, nhưng trong cảnh nghèo đói thê thảm, phẩm chất tốt đẹp của người nông dân vẫn tồn tại và âm thầm tỏa sáng.

Truyện ngắn Lão Hạc thể hiện cái nhìn nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Trong đó, nhân vật chính là một nông dân gặp nhiều nỗi bất hạnh vì nghèo đói nhưng chất phác, đôn hậu, thương con và có lòng tự trọng.

Vợ mất sớm, lão Hạc dồn tất cả tình yêu thương cho đứa con trai duy nhất. Lão sẽ sung sướng biết dường nào nếu con trai lão được hạnh phúc, nhưng con trai lão đã bị phụ tình chỉ vì quá nghèo, không đủ tiền cưới vợ.

Thương con, lão thấu hiểu nỗi đau của con khi anh nghe lời cha, không bán mảnh vườn để lấy tiền cưới vợ mà chấp nhận sự tan vỡ của tình yêu. Càng thương con, lão càng xót xa đau đớn vì không giúp được con thỏa nguyện, đến nỗi phẫn chí bỏ nhà đi phu đồn điền đất đỏ mãi tận Nam Kì. Mỗi khi nhắc đến con, lão Hạc lại rơi nước mắt.

Lão Hạc rất quý con chó vì nó là kỉ vật duy nhất của đứa con trai. Lão trìu mến gọi là cậu Vàng và cho nó ăn cơm bằng chiếc bát lành lặn. Suốt ngày, lão thầm thì to nhỏ với con Vàng. Với lão, con Vàng là hình bóng của đứa con trai yêu quý, là người bạn chia sẻ cô đơn với lão. Vì thế nên bao lần định bán con Vàng mà lão vẫn không bán nổi.

Nhưng nếu vì nhớ con mà lão Hạc không muốn bán cậu Vàng thì cũng chính vì thương con mà lão phải dứt khoát chia tay với nó. Lão nghèo túng quá! Lão đã tính chi li mỗi ngày cậu ấy ăn thế bỏ rẻ cũng mất hai hào đấy. Cứ mãi thế này thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được… Thôi bán phắt đi, đỡ đồng nào hay đồng ấy. Bây giờ, tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của con. Tiêu lắm chỉ chết nó!

Thế là vì lo tích cóp, giữ gìn cho con trai chút vốn mà lão Hạc đành chia tay với con chó yêu quý. Đã quyết như thế nhưng lão vẫn đau đớn, xót xa. Lão kể cho ông giáo nghe cảnh bán cậu Vàng với nỗi xúc động cực độ. Lão đau khổ dằn vặt vì cảm thấy mình đã đánh lừa một con chó. Nỗi khổ tâm của lão cứ chồng chất mãi lên.

Trước đây, lão dằn vặt mãi về chuyện vì nghèo mà không cưới được vợ cho con, thì bây giờ cũng chỉ vì nghèo mà lão thêm day dứt là đã cư xử không đàng hoàng với một con chó. Lão cố chịu đựng những nỗi đau đớn ấy cũng chỉ nhằm một mục đích là giữ gìn chút vốn cho con.

Biểu hiện cao nhất của tình yêu thương con chính là cái chết của lão. Ông lão nông dân nghèo khổ ấy đã tính toán mọi đường: Bây giờ lão chẳng làm gì được nữa… Cái vườn này là của mẹ nó chắt chiu dành dụm cho nó, ta không được ăn vào của nó… Ta không thể bán vườn để ăn… Chính vì thương con, muốn giữ cho con chút vốn giúp nó thoát khỏi cảnh nghèo mà lão Hạc đã chọn cho mình cái chết.

Đó là một sự chọn lựa tự nguyện và dữ dội. Nghe những lời tâm sự của lão Hạc với ông giáo, không ai có thể kìm nổi lòng xót thương, thông cảm và khâm phục. Một con người vì nghèo đói mà bất hạnh đến thế là cùng! Một người cha thương con đến thế là cùng!

Không chỉ có vậy, qua từng trang truyện, chúng ta còn thấy lão Hạc là người đôn hậu, chất phác. Suốt đời, lão sống quanh quẩn trong lũy tre làng. Trong làng chỉ có ông giáo là người có học nên lão tìm đến ông giáo để chia sẻ tâm sự. Lời lẽ của lão Hạc đối với ông giáo lúc nào cũng lễ phép và cung kính. Đó là cách bày tỏ thái độ kính trọng người hiểu biết, nhiều chữ của một lão nông.

Cảnh ngộ lão Hạc đã đến lúc túng quẫn nhưng lão tự lo liệu, xoay xở, cố giữ nếp sống trong sạch, tránh xa lối đói ăn vụng túng làm càn. Thậm chí, lão kiên quyết từ chối sự giúp đỡ chỉ vì lòng thương hại.

Lão đã chuẩn bị kĩ lưỡng mọi việc. Trước khi chết, lão nhờ ông giáo viết văn tự để giữ hộ con trai mình mảnh vườn và gửi ông giáo 30 đồng để lo chôn cất. Lão không muốn mọi người phải tốn kém vì lão. Rất có thể vì tốn kém mà người ta lại chẳng oán trách lão sao? Không phiền lụy đến mọi người, đó cũng là cách để giữ gìn phẩm giá. Thì ra ông lão có vẻ ngoài gàn dở ấy lại có phẩm chất đáng quý biết nhường nào!

Nhà văn Nam Cao đã giúp chúng ta hiểu được nỗi khổ tâm, bất hạnh vì nghèo đói cùng những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Từ những trang sách của Nam Cao, hình ảnh lão Hạc luôn nhắc chúng ta nhớ đến những con người nghèo khó mà trong sạch với một tình cảm trân trọng và yêu quý.

Đọc nhiều hơn 🌻 Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Lão Hạc 🌻 15 Bài Văn Hay

Nhân vật lão Hạc đã để lại trong lòng người đọc bao nỗi xót thương về một con người dù sống trong hoàn cảnh nghèo khó, túng quẫn nhưng vẫn giữ tấm lòng trong sạch đáng quý.

Ông là một lão nông nghèo khổ, tài sản của ông chỉ có ba sào vườn, một túp lều và một con chó vàng. Hoàn cảnh của ông thật bất hạnh, vợ mất sớm từ lâu, một mình ông “gà trống nuôi con” nhưng vì không đủ tiền cưới vợ cho con nên con trai ông phẫn uất bỏ đi đồn điền cao su biền biệt. Đó là nỗi đau khiến ông luôn day dứt khi không thể lo cho con cuộc sống đầy đủ. Do đó, từ ngày con đi, lão tích cóp dành dụm và cố gắng giữ trọn mảnh vườn để khi về con trai có tiền lấy vợ.

Vắng con, ông chỉ có cậu Vàng làm bạn, ông coi nó như người bạn thân thiết, như con cháu của mình. Ông trò chuyện, mắng yêu nó, nói với nó như nói với một đứa bé. Nhưng trận ốm yếu kéo dài cùng trận bão to đã khiến cuộc sống của ông càng lúc khó khăn. Lão không nuôi nổi nó nữa và sợ phải tiêu lạm vào số tiền dành dụm cho con. Đó là nỗi đau đớn của lão. Bởi vậy lão cứ đắn đo, do dự mãi khi quyết định bán chó, lão khóc mà “đôi mắt ầng ậc nước”.

Cả đời sống trung thực, lương thiện mà giờ đây ông phải lừa dối, ông thấy lương tâm đau nhói khi nhìn ra trong đôi mắt con chó bất ngờ bị trói có cái nhìn trách móc. Bằng ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, Nam Cao đã diễn tả được nỗi khổ tâm, dằn vặt, niềm xót thương của lão Hạc với cậu Vàng lên đến tột độ. Phải là người có trái tim vô cùng nhân hậu thì con người mới có tâm trạng đau đớn đến thế, mới cảm thấy có lỗi với một con chó đến mức như vậy.

Cũng chính bởi sự hối hận đó, lão đã chọn cho mình cái kết cái kết bi thảm: ăn một liều bả chó để tự tử, đó là cái chết dữ dội và thê thảm. Lão có quyền chọn cho mình cách kết thúc nhẹ nhàng hơn thế nhưng lão đã chọn cách đau đớn này, phải chăng vì những dằn vặt khi lão lừa bán cậu Vàng.

Câu chuyện khép lại nhưng mở ra trong lòng người đọc bao nỗi xót thương. Trong cảnh đời nghèo khó, bất hạnh ấy ta lại thấy lấp lánh những nét đẹp trong nhân cách lão Hạc: một người cha hết lòng vì con, sẵn sàng chấp nhận cái chết để hi sinh cho con; một người nông dân dù đến bước đường cùng vẫn giữ trọn nhân cách của mình “chết trong còn hơn sống đục”.

Giới thiệu đến bạn 🌟 Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Lão Hạc 🌟 13 Bài Văn Hay Nhất

Luyện tập viết bài văn phân tích nhân vật lão Hạc ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập và chuẩn bị cho bài viết trên lớp.

Cùng với Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố, Nam Cao là tác giả tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán, luôn hướng về người nông dân, phản ánh hiện thực đời sống của người nông dân trước Cách mạng. Truyện ngắn Lão Hạc là tác phẩm đặc sắc của Nam Cao, mà trong đó, hình tượng nhân vật lão Hạc như một điểm son trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Nam Cao luôn trăn trở về số phận của người nông dân lương thiện trong xã hội phong kiến. Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên là chân dung của một lão nông Việt Nam đáng thương và đáng kính. Số phận của Lão Hạc thật đáng thương bởi cái nghèo nàn, túng thiếu. Vợ mất sớm, lão dồn tình thương nuôi con khôn lớn. Khi đứa con trai đến tuổi lấy vợ, lão tính chuyện cưới vợ cho con, nhưng vì nghèo túng mà người ta lại thách cưới nặng quá nên con trai không cưới được vợ.

Thất vọng, đứa con bỏ nhà ra đi làm phu đồn điền ở Nam Kì. Khi con đi rồi, lão cô đơn, sống trong hiu quạnh. Bấy giờ, chỉ có con Vàng là nguồn vui của lão. Cậu Vàng được lão chăm sóc chu đáo. Lão xem cậu Vàng như một đứa trẻ cần sự chăm sóc, yêu thương. Lão nhân hậu ngay cả với con chó của mình. Tội nghiệp cho số phận ông lão.

Cuộc đời túng quẫn, nghèo khó cứ đeo đẳng bên lão. Vợ chết để lại mảnh vườn ba sào, nhưng lão nhất quyết không bán dù cho nghèo khó. Lão tự bảo: Cái vườn là của con ta … của mẹ nó tậu thì nó được hưởng. Lão nghĩ vậy và làm đúng như vậy. Tất cả hoa lợi thu được lão bán để dành dụm riêng chờ ngày con về cưới vợ. Cảm thương cho ông lão đã vò võ trông con về làng, lão chắc mẩm thế nào đến lúc con lão về cũng có được trăm đồng bạc.

Nhưng hy vọng chẳng có, thất vọng lại về, lão bị một trận ốm đúng hai tháng mười tám ngày, bao nhiêu vốn liếng dành dụm được đều sạch nhẵn. Sau trận ốm, người lão yếu quá, không làm được việc nặng, việc nhẹ thì người ta tranh hết, lão phải cầm hơi qua ngày bằng củ chuối, củ ráy, con ốc, con trai…

Vì không kiếm được tiền để sống, lại sợ tiêu lạm vào tiền của con nên lão quyết định tìm đến cái chết. Lão chết để con lão khỏi trắng tay. Thật cảm động biết bao về tấm lòng yêu thương bao la và đức hi sinh cao cả của một người cha khốn khổ! Số phận của lão thật bi thương.

Nghèo đến nỗi phải bán đi con Vàng mà lão yêu thương, gắn bó. Kể lại việc bán chó với ông giáo, lão đau đớn xót xa: mặt lão đột nhiên rúm lại, những nép nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít, lão hu hu khóc… lão khóc vì thương chó, và cảm thấy mình là kẻ lừa dối khi bán cậu Vàng. Số phận của lão thật bi thương nhưng lão không đánh mất phẩm giá của mình. Đến bước đường cùng lão luôn nghĩ đến con mà chẳng nghĩ đến mình.

Lão đủ can đảm để nghĩ đến chuyện kết thúc cuộc đời để không làm phiền đến ai. Lão từ chối mọi sự thương hại của người khác, cho dù đó là sự cưu mang chân tình. Ngay cả ông giáo, người hàng xóm gần gũi nhất và tin tưởng nhất, ông cũng từ chối sự giúp đỡ. Lão Hạc còn nghĩ đến cái chết không làm phiền lòng người khác. Lão nhịn ăn, tích góp được hai lăm đồng cộng với năm đồng bán chó, lão gửi ông giáo nhờ làm đám ma cho lão.

Trước khi chết, lão còn nghĩ đến hạnh phúc của con. Lão viết văn tự nhượng mảnh vườn cho ông giáo để không ai còn mơ tưởng, dòm ngó đến, khi nào con lão về thì sẽ nhận vườn làm. Tuy lão nghèo khó, lại bị xã hội bỏ rơi nhưng lão vẫn giàu đức hi sinh, giàu tình thương và giữ vững phẩm chất cao đẹp của mình.

Hình ảnh Lão Hạc chết thật thê thảm. Lão mượn miếng bả chó để tự kết liễu đời mình. Tội nghiệp cho lão quá! Lão vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra… Cái chết đau đớn của lão đã làm sáng tỏ thêm phẩm chất cao đẹp của người nông dân hướng thiện. Tuy sống trong cái xã hội đầy bóng tối, nhưng tâm trí lão vẫn sáng ngời, tính cách của lão thật cao quí. Cả đời lão nghèo đói nhưng không làm mất đi tấm lòng đôn hậu, trong sáng của mình.

Với bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật, xen kẽ tự sự, Nam Cao đã gợi cho ta niềm cảm thương vô hạn đối với những người nông dân nghèo khổ. Ngòi viết của Nam Cao là tiếng nói cảnh tỉnh về một xã hội thiếu công bằng, không quan tâm đến người nghèo, chà đạp lên số phận của con người lương thiện.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Trong đội ngũ nhà văn hiện đại Việt Nam, Nam Cao được coi là một nhà văn hiện thực xuất sắc trước Cách mạng. Ông hi sinh năm 1951 trong cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc đó, ông mới 36 tuổi. Tuy cuộc đời ngắn ngủi nhưng Nam Cao đã để lại cho đời nhiều áng văn có sức sống lâu bền. Tác phẩm của Nam Cao – những truyện ngắn, truyện dài – thấm đẫm giá trị hiện thực và nhân đạo.

Đó là những trang viết chân thực, vô cùng sâu sắc về người nông dân nghèo đói bị vùi dập và người trí thức cùng phẫn phải sống mòn mỏi, bế tắc trong xã hội cũ. Đọc truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, chúng ta bắt gặp cả hai kiểu nhân vật đó: lão Hạc và ông giáo.

Ông giáo là người kể chuyện, lão Hạc là nhân vật chính của câu chuyện. Cả hai người đó đều đáng cảm thông và đáng trân trọng, nhất là lão Hạc. Lão Hạc – ông cụ lão nông ấy – đã phải trải qua hai cái chết trong cuộc đời mòn mỏi bế tắc, nhưng có một tấm lòng thương con vô cùng sâu nặng.

Cảnh ngộ của lão Hạc thật bi thảm. Nhà nghèo, vợ chết, hai cha con lão Hạc sống lay lắt, rau cháo qua ngày. Một ngày nọ, người con trai của lão phẫn chí vì không có tiền cưới vợ, bỏ đi làm phu đồn điền cao su biền biệt, một năm nay chẳng có tin tức gì. Lão Hạc thui thủi sống cô quạnh một mình với con chó Vàng, kỉ vật người con trai để lại. Lão gọi con chó là “cậu Vàng”, coi con vật như người thân trong nhà. Vắng nhà đi kiếm ăn thì thôi, hễ về tới nhà là ông lão lại trò chuyện tâm tình, chia sẻ mọi nỗi vui buồn với “cậu Vàng”.

Nhiều khi lão gọi Vàng là con, là… cháu, xưng ông cứ y như là hai ông cháu vậy. Đối với lão Hạc, con chó là niềm vui, là nguồn hạnh phúc đơn sơ mà thiết thực giúp lão sống trong đói nghèo để đợi người con trai trở về xây dựng hạnh phúc lứa đôi và hạnh phúc gia đình cho lão được sống bên con, bên cháu, vui vầy như bao người bình thường khác. Nhưng sự túng quẫn ngày càng đe dọạ lão.

Sau trận ốm nặng kéo dài, lão yếu người đi ghê lắm. Đồng tiền bấy lâu nay dành dụm cạn dần. Lão không có việc làm. Rồi một cơn bão ập đến, phá sạch sành sanh hoa màu trong vườn. Giá gạo thì cứ cao mãi lên. Vì thế, lão Hạc lấy tiền đâu để nuôi “cậu Vàng”?

Kể ra trong nhà cũng còn ít tiền để dành cho đứa con trai, nhưng lão không muốn tiêu lẹm vào đấy. Mà cho “cậu Vàng” ăn ít, thì “cậu” gầy đi, tội nghiệp. Ông lão nông nghèo khổ ấy cứ băn khoăn day dứt mãi, cuối cùng dằn lòng quyết định bán “cậu Vàng”, rồi đến nhà ông giáo cậy nhờ một việc quan trọng.

Đọc phần trích, cũng là phần đặc sắc nhất của thiên truyện, chúng ta cảm nhận rõ hai sự việc lớn của cuộc đời lão Hạc : việc bán “cậu Vàng” và việc tìm đến cái chết. Hai sự việc ấy tuy khác nhau nhưng đều toát lên một ý nghĩa chung vé tấm lòng người cha thương con mênh mông, sâu nặng. Bán con chó Vàng, lão Hạc đối mặt với cái chết thứ nhất. Vì sao lão Hạc phải bán “cậu Vàng”?

Nếu để con chó lại nuôi thì lão Hạc phải tiêu lẹm vào số tiền dành dụm cho người con đang xa nhà. Điều đó lão không muốn, tuyệt đối không muốn. Đối với lão Hạc, số tiền và mảnh vườn dành cho con thiêng liêng như một báu vật mà hằng ngày lão chỉ biết hết lòng bảo vệ chứ không bao giờ dám xâm phạm. Việc quyết định bán con chó Vàng bắt nguồn từ tấm lòng thương con sâu sắc của một người cha nhân hậu và giàu lòng tự trọng.

Bán con chó Vàng vì thương con, nhưng rồi lão Hạc lại vô cùng ăn năn, day dứt. Lão sang nhà ông giáo giãi bày những nỗi đau thống thiết của mình. “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”. Mấy câu văn ngắn ngủi đặc tả ngoại hình nhân vật thật ấn tượng.

Tác giả đã sử dụng các từ tượng hình: “co rúm lại”, “xô lại”, “ngoẹo về một bên”… và một từ tượng thanh “hu hu” khiến cho nét mặt, thân hình và tâm trạng của lão Hạc hiện lên thật thê thảm. Làm một việc vì tình thương con, nhưng người cha ấy vẫn tự dằn vặt, đau khổ như vừa phạm lỗi lớn. Phải chăng lão Hạc cảm thấy mình có lỗi với “cậu Vàng”, con vật rất đỗi thân thương của lão?

Ta nghe lời lão kể với ông giáo trong truyện mà như nghe chính lão Hạc kể với ta: “Này… cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo,.tôi rằng: A! Lão già tệ lắm! Tôi ân ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?. Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!…”.

Đây là lời nói, hay chính là lời sám hối, lời tự than, tự trách mình quá phũ phàng, nhẫn tâm của một tấm lòng nhân hậu! Từ những nét ngoại hình quằn quại đến những lời ăn năn, sám hối này, lão Hạc quả là một con người nặng tình nặng nghĩa, thuỷ chung, vô cùng trung thực.

Từ ngày người con phẫn chí ra đi vì không có tiền cưới vợ, lão Hạc luôn mang tâm trạng “mắc tội” bởi không lo liệu nổi hạnh phúc cho con. Lão cố dành tiền cho con, cố chăm sóc “cậu Vàng” như chăm sóc kỉ vật của con. Vậy mà giờ đây lão phải bán “cậu Vàng” cho người ta giết thịt, lão cảm thấy mình “mắc tội” nặng hơn, tội với con người, tội với cả con vật.

Tấm lòng người lão nông ấy bao la, sâu nặng biết nhường nào. Con chó Vàng sẽ bị người ta giết thịt. Lão Hạc dự cảm rõ điều đó. Đối với lão, dó là cái chết thứ nhất, một cái chết do chính lão gây ra. Nhưng, người đọc chúng ta ngày nay, suy ngẫm sâu xa một chút, sẽ thấu hiểu và xiết bao xót thương ông lão nông khốn khổ và nhân hậu ấy. Và chúng ta cũng hiểu rằng chính cái xã hội thực dân phong kiến bấy giờ đã đẩy lão Hạc và biết bao người nông dân khác vào bi kịch như lão Hạc.

Vì hạnh phúc của một người con này, lão Hạc phải chứng kiến cái chết của một “người… con” khác, phải tự huỷ diệt một niềm vui, một kỉ vật thân thương của đời mình. Nêu sự việc lão Hạc bán chó, rồi đau khổ vật vã tự trách mình, ngòi bút Nam Cao đã lay động tận nơi sâu thẳm tình cảm bạn đọc chúng ta.

Nhưng Nam Cao không dừng lại ở đó. Nhà văn tiếp tục lay động chúng ta bằng một sự việc tiếp sau dữ dội hơn, thống thiết hơn. Đó là việc lão Hạc tìm đến cái chết. Với cái chết lần thứ hai này, tấm lòng người lão nông thương con mênh mông, sâu nặng ấy mãi mãi toả sáng. Tìm hiểu về sự việc này, chúng ta thử hoá thân vào nhân vật ông giáo để lắng nghe lời lão Hạc nói và chứng kiến công việc ông lão làm.

Sau những lời đắng cay về việc bán chó, lão Hạc rề rà, nhỏ nhẹ mà tha thiết, chân thành giãi bày hoàn cảnh của mình để nhờ ông giáo giúp cho hai việc. Việc thứ nhất: gửi ba sào vườn, khi anh con trai lão trở về thì ông giáo giao lại để anh có đất ở, có vốn mà sinh nhai. Việc thứ hai : gửi ba mươi đồng bạc (hai mươi nhăm đồng tích cóp tằn tiện hơn một năm trời và năm đồng vừa bán chó) để khi ông lão chết, nhờ hàng xóm chi tiêu cho việc ma chay…

Những điều lão Hạc thu xếp, nhờ cậy ông giáo thật là chu đáo. Nghĩ đến con, ông cụ luôn mong ước con được sống yên ổn„ hạnh phúc. Nghĩ về mình cụ luôn luôn tự trọng, không muốn phiền luỵ ai. Khi nghe lão Hạc trình bày, ông giáo bật cười bảo : “Sao cụ lo xa quá thế? Cụ còn khoẻ lắm, chưa chết đâu mà sợ! Cụ cứ để tiền ấy mà ăn..”.

Ông giáo không thể biết được rõ ý nghĩa việc lão Hạc nhờ cậy. Còn chúng ta, đọc truyện, nhận rõ ổng cụ lão nông đó đã chuẩn bị cho cái chết của mình thật là bình tĩnh, chủ động, tự nguyện, tự giác. Thực ra lão đã âm thầm chuẩn bị cho cái chết của mình từ khi bán “cậu Vàng”, đúng như lời lão nói với ông giáo: “Tôi đã liệu đâu vào đấy… Thế nào rồi cũng xong”.

Như vậy, trong tình cảnh đói khổ, túng quẫn, lão Hạc đã định liệu cho “cậu Vàng” – con vật thân thương nhất – và bản thân mình một sự giải thoát. Với con chó thì hoá kiếp cho “để thành kiếp người”. Còn với mình, lão chết để thành kiếp gì? Thật mịt mờ, bế tắc. Nhà văn Nam Cao cứ nhẹ nhàng dẫn dắt câu chuyện theo lời kể của ông giáo, đưa người đọc chúng ta từ sự việc này sang sự việc khác đầy hấp dẫn, bất ngờ.

Sau khi nghe lời lão Hạc nói rằng: “Tôi đã liệu đâu vào đấy”, ông giáo đã cảm động bởi cách lo toan chu đáo, tấm lòng thành thực, vừa thương con, vừa tự trọng của lão Hạc thì được nghe Binh Tư kể việc lão Hạc xin bả chó… Ông giáo đã thốt lên: “Hỡi ôi! Lão Hạc”.

Người đọc cũng ngỡ ngàng, sửng sốt, tưởng rằng lão Hạc sẽ làm một việc xấu xa, đáng buồn như việc Binh Tư thường làm: đánh bả chó, rồi thịt chó uống rượu. Vẻ đẹp của hình tượng lão Hạc bỗng mờ đi, như cuộc sống lúc bấy giờ “cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Câu chuyện tưởng chừng ngoặt sang hướng khác. Những dòng chữ lời văn như ngưng đọng lại, căng thẳng, hồi hộp!

Nhưng rồi, đến phần cuối của câu chuyện, tất cả đã ùa ra. Lão Hạc đã chọn một cái chết dữ dội, bất ngờ. Chúng ta hãy vào nhà lão Hạc. Một cảnh tượng rùng rợn thảm thương bày rạ trước mắt ta: “Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết…”.

Dồn dập trong mấy câu miêu tả là các từ tượng hình “vật vã”, “rũ rượi”, “xộc xệch”, “long sòng sọc”, và các cụm động từ mạnh như “sùi ra”, “giật mạnh”, “nảy lên”, “đè lên”,… đã cực tả một cái chết thật dữ dội, đau đớn. Tại sao lão Hạc không chọn một cái chết khác êm dịu, lặng lẽ, âm thầm?

Đối chiếu với cái chết thứ nhất của “cậu Vàng”, nhìn thoáng bên ngoài, ta cảm thấy cái chết của. lão Hạc như có những nét tương tự. “Cậu Vàng” bị lão Hạc đánh lừa, cho ăn cơm, rồi bị hai người (“thằng Mục” và “thằng Xiên”) đè xuống, trói lại. Lão Hạc cũng bị hai người đàn ông lực lưỡng “đè lên người”. Biết là mình sẽ chết, “cậu Vàng” kêu “ư ử”, lão Hạc thì “tru tréo”, “vật vã”,…

Phải chăng khi chọn cho mình cái chết dữ dội thảm thương này, người lão nông ấy như có ý tự trừng phạt mình, chia sẻ nỗi đau với con vật thân yêu như ruột thịt. Bởi vì, cả đời ông lão sống trung thực, chưa đánh lừa ai. Lần đầu tiên lão làm một việc xấu xa là đánh lừa “cậu Vàng”, người bạn thân thiết, niềm hạnh phúc, niềm vui của chính mình. Lão đã lừa để con chó bị chết thì giờ đây lão cũng phải chết theo kiểu con chó bị lừa. Điều này càng chứng tỏ lão Hạc có lòng tự trọng rất cao, ứng xử trung thực vô ngần.

Và cũng chứng tỏ ngòi bút nhà văn Nam Cao sắc lạnh, tỉnh táo vô cùng. Nam Cao rất thương con người, tôn trọng con người, đồng thời luôn đòi hỏi cao ở con người. Ông đã đặt nhân vật lão Hạc vào những cuộc lựa chọn khắc nghiệt : chọn hai cái chết. Cái chết thứ nhất tuy không đau đớn về thể xác nhưng lại đau đớn, day dứt về tinh thần. Còn cái chết thứ hai, tuy đau đớn thể xác nhưng dường như ông lão đã được giải thoát và… thanh thản về tinh thần vì lão đã trả hết nợ đời, nợ với con chó Vàng, nợ với đứa con trai tội nghiệp phải bỏ nhà ra đi.

Có thể nói, đọc truyện Lão Hạc, chúng ta thấy nổi bật lên, ấn tượng mạnh mẽ nhất là câu chuyện về hai cái chết: cái chết của con chó Vàng do lão Hạc gây nên và cái chết của lão Hạc do tự lão lựa chọn. Cả hai cái chết này đều bắt nguồn từ tình cảm người cha thương con mênh mông, sâu nặng. Lão Hạc phải bán “cậu Vàng” – cũng là cách tự huỷ một niềm vui, một khát vọng để không phải tiêu lẹm vào số tiền dành cho con.

Lão Hạc tự tử cũng nhằm không muốn sống thừa, sống lay lắt, vô vị mà ăn lẹm vào số vốn liếng, mảnh đất đợi con về… Người cha ấy đã hi sinh cả cuộc đời mình cho hạnh phúc của con. Người lão nông ấy đã sống một cuộc đời đau khổ nhưng thật trong sáng, đáng cảm thương và trân trọng.

Cùng với nhân vật lão Hạc, chúng ta bắt gặp nhân vật ông giáo (có thể coi là tác giả). Nhờ ông giáo, nhờ nhà văn kể chuyện, chúng ta càng thấm thía hơn cuộc đời đau khổ của lão Hạc. Khi ông giáo nghĩ “Cuộc đời đáng buồn, nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”, chúng la hiểu rằng Nam Cao rất xót xa, căm giận cái xã hội tối tăm ngột ngạt bấy giờ. Xã hội ấy đã đẩy những người có nhân cách cao đẹp như lão Hạc vào tình cảnh đói nghèo, bế tắc, phải chết thảm thương.

Khi ông giáo than thở : “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn ;… không bao giờ ta thương…”, chúng ta càng thấu hiểu suy nghĩ sâu sắc, mang tính triết lí và tình thương bao la đậm chất nhân văn của Nam Cao. Và chúng ta cũng rút ra được bài học thiết thực về cách nhìn, cách ứng xử mà các nhà nghiên cứu gọi là “vấn đề đôi mắt”…

Tóm lại, truyện ngắn Lão Hạc đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận đau thương và phẩm chất cao quý của người nông dân cùng khổ trong cuộc đời cũ. Cuộc đời ấy là xã hội thực dân nửa phong kiến ở nước ta, giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 mà “hạnh phúc chỉ là một cái chăn quá hẹp. Người này co thì người kia bị hở”. Lão Hạc, vì tình thương con sâu nặng đã chấp nhận những giá lạnh cuộc đời để nhường chút hơi ấm của tấm chăn hạnh phúc cho người con xa nhà.

Cũng qua câu chuyện về lão Hạc, nhà văn Nam Cao thể hiện lòng thương yêu, thái độ trân trọng đối với những con người bất hạnh mà biết sống cao thượng. Tác phẩm này cho thấy tài năng của nhà văn qua nghệ thuật xây dựng tình huống truyện; kể các sự việc, khắc hoạ nhân vật sinh động, có chiều sâu tâm lí, cách kể linh hoạt, hấp dẫn, ngôn ngữ giản dị, tự nhiên mà trĩu nặng những cảm xúc và suy nghĩ lắng sâu.

Ngoài ra, tại chúng tôi còn có 🌺 Thuyết Minh Về Truyện Ngắn Lão Hạc 🌺 15 Bài Văn Hay

Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên là một trong những nhân vật “để đời” của Nam Cao. Lão Hạc, một nông dân nghèo khổ, cùng quẫn, nhưng không bị biến chất như Chí Phèo, mà trái lại có một tâm hồn đẹp, một nhân cách cao thượng.

Lão sống một thân một mình trong cô đơn, vất vả. Lão chỉ có đứa con trai duy nhất để nương tựa tuổi già thì anh ta lại phẫn chí bỏ đi phu đồn điền cao su- “cao su đi dễ khó về”. Lão Hạc đành thui thủi làm thuê, làm mướn kiếm ăn lân hồi, đồng thời cố nhặt nhạnh, dành dụm cho con.

Nhưng một trận ốm đã làm lão trở nên tay trắng. Sức yếu dần “những công việc nặng không làm được nữa”, việc nhẹ thì “đàn bà tranh hết”. Lão Hạc không có việc. Rồi lại bão. Hoa màu trên mảnh vườn bị phá sạch sành sanh. Gạo cứ kém dần. “Một lão với một con chó, mỗi ngày ba hào gạo mà gia sự còn đói gieo đói dắt. Cuối cùng lão phải ăn khoai. Khoai cũng hết. Bắt đầu từ đây, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc.

Thực ra tình cảnh lão Hạc đã làm gì bế tắc đến thế. Lão còn mảnh vườn đó, con chó vàng đó, có thể bán đi mà tiêu. Nhưng lão sống vì con chứ đâu vì mình. Điều này mấy ai hiểu cho lão. Người ta chỉ thấy lão lẩm cẩm. Có ông giáo hàng xóm là người có lòng ái ngại, nhưng vừa bày tỏ với vợ đã bị thị gạt phắt ngay: “Cho lão chết! Ai bão lão có tiền mà chịu khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Con mình cũng đói”.

Còn Binh Tư, một gã lưu manh chuyên đánh bả chó thì lại lấy làm khoái chí khi thấy lão đến xin mình một ít bả. Hắn tưởng đâu lão Hạc “đói quá hóa liều” cũng quay sang trộm cắp như hắn. Hắn bĩu môi: “Lão làm bộ đấy! Thật ra thì lão chỉ tẩm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chẳng vừa đâu”. Ngay đến ông giáo tuy hiểu lão Hạc hơn cả mà cũng đâm ra nghi ngờ. Người ta chỉ hiểu lão khi lão đã chết rồi. Lão tự tử bằng nắm bả chó của Binh Tư. Lão chết đi nhưng sẽ còn sống mãi trong lòng người như một tấm gương đạo đức hiếm có.

Hiếm có người cha nào thương con như lão Hạc. Nghèo khó nhưng lúc nào cũng nghĩ đến bổn phận làm cha, lo làm tròn bổn phận ấy, dẫu có phải chịu khổ, chịu đói và chết bi thảm. Hình ảnh đứa con trái, nỗi lo chu tất cho con luôn ám ảnh, dằn vặt tâm trí lão. Hồi anh ta còn ở nhà, lão không cho anh ta bán vườn để cưới vợ cũng là xuất phát từ sự tính toán điều hơn lẽ thiệt của bậc làm cha.

Thực ra lão dằn lòng lắm. Bởi đạo làm cha phải lo cho con một người vợ, một căn nhà – một tổ ấm gia đình. Song tình cảnh lão thì lo chưa chu toàn được. Anh con trai phẫn chí ra đi, ngày về khó hẹn, lão lại đã già. Đã bao lần, lão ngỏ tâm sự này với ông giáo: tiền hoa lợi trong vườn, tiền bán con chó vàng, mảnh vườn, lão không dám đụng đến, vì đây là tiền của con, là tiền mà người làm cha phải để lại cho con. Nếu không, không phải “đạo”.

Đã bao lần lão tính tiền bòn vườn sủa con, “không cho bán là ta chỉ có ý giữ cho nó, chứ có phải giữ để ta ăn đâu!… Ta bòn vườn của nó, cũng nên để ra cho nó, đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm vào cho nó, nếu nó có đủ tiền cưới vợ thì ta cho vợ chồng nó để có chút vốn mà làm ăn”. Lão đã làm y như thế. Thà ăn khoai, ăn củ chuối, củ ráy… chứ lão không ăn vào tiền của con, không chịu bán mảnh vườn của con.

Bao nhiêu tiền nhặt nhạnh được từ mảnh vườn, lão gửi tất cả nhờ ông giáo giữ hộ. Rồi lão chết để không bao giờ phải đụng đến. Ôi, lão Hạc, con người bề ngoài thì có vẻ tiều tụy và gàn dở như vậy mà thật giàu tình nặng nghĩa. Mà đâu chỉ đối với đứa con. Tấm lòng nhân hậu của lão còn thể hiện ở cái tình rất nặng với con chó vàng mà lão gọi là “cậu vàng” như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự.

Cứ xem cái cách lão nựng con chó: “À không! À không! Cậu vàng của ông ngoan lắm! ông không cho giết… ông để cậu vàng ông nuôi”…, hay cái vẻ mặt vô cùng đau khổ của lão khi kể cho ông giáo nghe lão đã bán con chó. “Mặt lão tự nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít”, đủ thấy lão thương xót con chó và cảm thấy mình có tội như thế nào khi phải bán nó đi.

Chân thật, chất phác, đôn hậu, tràn đầy tình thương và trách nhiệm, lão Hạc cũng thật giàu lòng tự trọng. Đối với ông giáo, người lão tin tưởng và quý trọng đến thế, lão cũng vẫn giữ ý để khỏi bị coi thường. Lão đói đấy, lão phàn nàn “kiếp người như lão cũng khổ như kiếp chó” đấy, nhưng khi ông giáo mời lão ăn khoai, uống nước chè tươi, lão đã từ chối.

Lão dứt khoát “từ chối tất cả”. Khi ông giáo giấu vợ, thỉnh thoảng muốn ngấm ngầm giúp đỡ lão một chút gì, lão từ chối “một cách gần như hách dịch”. Rồi lão cứ cố ý xa ông giáo dần dần. Cuối cùng thì lão Hạc chết. Chủ động tìm đến cái chết, một cái chết bi thảm, khốc liệt như là cái chết của một con người cao quý. Bởi qua cái chết này, tất cả những phẩm giá cao đẹp của lão ánh lên, chiếu sáng thăm thẳm vào lòng người.

Gần đây người ta đã dựng phim về các nhân vật của Nam Cao – phim Làng Vũ Đại ngày ấy. Nhà văn Kim Lân được mời đóng vai lão Hạc. Kim Lân đã nghiền ngẫm kĩ về nhân vật của mình, ông nói: “Lão Hạc không chỉ là một người nghèo, đó là một con người có nhân cách, tự trọng và bất khuất”. Chúng ta cũng hoàn toàn đồng ý với Kim Lân.

Ta còn thấy rằng những phẩm chất ấy của lão Hạc đã cho ta những suy nghĩ sâu sắc. Cái chết của lão Hạc đã để lại cho chúng ta, cùng với nỗi xót thương vô hạn là nhiều bài học quý. Bài học sâu sắc nhất là trong bất kì thân phận nào, hoàn cảnh nào cũng phải giữ danh hiệu con người cao quý.

Giữa người với người phải có trách nhiệm với nhau hơn, phải hiểu biết để đánh giá đúng và cảm thông với người khác hơn, phải tin tưởng hơn ở con người và cuộc đời. Và phải biết căm ghét xã hội bất công, những thế lực độc ác vùi dập, đày đọa những con người như lão Hạc.

Vợ ông giáo từng nói về lão Hạc: “Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ. Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ!”. Nhưng thực ra sống làm người, có những điều dù khổ, dù phải tự làm khổ mình cũng phải giữ. Chết cũng giữ! Đó là những điều thuộc về đạo lí, nhân cách làm người như lão Hạc đã giữ.

Vì thế, đã hơn 60 năm (truyện Lão Hạc ra đời năm 1943), lão Hạc vẫn sống cùng chúng ta,sẽ còn sống cùng chúng ta. Và dẫu cho cuộc đời này còn nhiều nỗi đáng buồn nhưng có những con người như lão Hạc thì cuộc đời “chưa hẳn đã đáng buồn”.

Gợi ý cho bạn 🍃 Phân Tích Nhân Vật Ông Giáo 🍃 10 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Nam Cao là một nhà văn lớn của người nông dân Việt Nam, đặc biệt là người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông vẫn cảm nhận được những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn của họ trước bờ vực của cái đói, cái nghèo. Truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn là một tác phẩm như thế.

Nhân vật chính của tác phẩm – nhân vật lão Hạc – dù có một hoàn cảnh bất hạnh, đau đớn nhưng lão vẫn giữ được tình yêu thương đối với những người thân yêu và đặc biệt là một lòng tự trọng cao cả. Qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện tư tưởng nhân đạo tiến bộ và sâu sắc.

Lão Hạc cũng như bao người nông dân Việt Nam khác phải đối mặt với cái nghèo, cái đói của cuộc sống cơ cực, tăm tối trước Cách mạng. Nhưng lão còn có những hoàn cảnh riêng vô cùng bất hạnh. Vợ lão chết sớm. Con trai lão phẫn chí vì nghèo không lấy được người mình yêu nên bỏ đi đồn điền cao su. Lão chỉ có con Vàng là kỷ vật của con để làm bạn.

Vậy là cùng một lúc lão phải đối mặt với bao đau khổ: cái đói, sự cô đơn và tuổi già với ôm đau, bệnh tật. Rồi cuộc đời cực khổ, dồn lão đến mức hết đường sinh sống. Lão phải dứt ruột bán đi con chó Vàng mà lão yêu thương nhất. Lão bán con chó trong niềm khổ đau tột cùng: “Mặt co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên, cái miệng móm mém mếu như con nít”, “lão hu hu khóc”,…

Ban đầu là “luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai”, “khoai cũng hết, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc”. Rồi đến mức chẳng còn gì để ăn, để sống. Rồi điều gì đến sẽ phải đến. Không còn đường sinh sống, lão Hạc chỉ còn đường chết. Và đó là một cái chết thật đau đớn, thật tủi nhục: chết “nhờ” ăn bả chó tự tử…!

Cái chết của lão dữ dội vô cùng: lão sùi bọt mép, lão co giật phải hai người đàn ông lực lưỡng đè lên… Cái chết ấy khiến người đọc liên tưởng đến cái chết của con chó Vàng để rồi rùng mình nhận ra rằng cái chết của lão đâu khác gì cái chết của một con chó.

Đói nghèo như thế, khổ đau như thế nhưng lão không vì vậy mà tha hóa về nhân phẩm. Binh Tư đã tưởng lão xin bả chó để ăn trộm. Ông giáo cũng nghi ngờ lão. Nhưng không, Lão Hạc vẫn giữ được vẹn nguyên tâm hồn dào dạt yêu thương đáng quý, đáng trọng của người nông dân và cả sự tự trọng cao đẹp của mình.

Lão yêu thương con rất mực. Văn học Việt Nam đã có những “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng,… ngợi ca tình phụ tử. Và trong đó cũng cần nhắc đến “Lão Hạc” của Nam Cao. Vì thương con, lão chấp nhận đối mặt với cô đơn, với tuổi già để con ra đi cho thỏa chí. Con đi rồi, lão dồn cả yêu thương vào con chó Vàng.

Đừng nghĩ đơn giản rằng lão cưng chiều “cậu” Vàng vì đó là con chó khôn, chó đẹp. Điều quan trọng nhất khiến lão yêu quý con Vàng đến mức chia với nó từng cái ăn, cho nó ăn vào bát như người, rồi đến lúc nó chết lão quằn quại, đau đớn,… là bởi con chó là kỉ vật duy nhất mà con trai lão để lại. Nhìn con chó, lão tưởng như được thấy con mình.

Không chỉ vậy, lão thương con đến độ chấp nhận cái đói, rồi cả cái chết chứ không chịu bán đi mảnh vườn của con. Nếu lão bán mảnh vườn, ắt lão sẽ đủ ăn tiêu để vượt qua thời khốn khó. Nhưng lão lại lo khi con trai về không có đất sinh sống làm ăn. Vậy là lão đã nhận lấy cái chết rồi nhờ ông giáo giữ đất cho con. Chao ôi! Tình yêu thương con của lão thật cảm động biết mấy!

Yêu thương những người thân yêu ruột thịt, lão Hạc còn là một người sống đầy tự trọng trước cuộc đời nhiều cám dỗ và tội lỗi. Vào hoàn cảnh như lão, người ta đã có thể ăn trộm, ăn cắp hay thậm chí ăn bám vào người khác (như Binh Tư chẳng hạn, hay người đàn bà trong “Một bữa no” của Nam Cao..) nhưng lão Hạc thì không. Với sự giúp đỡ của ông giáo (mà cũng có gì đâu, đó chỉ là củ khoai, củ sắn) lão “từ chối gần như hách dịch” khiến ông giáo nhiều khi cũng chạnh lòng.

Binh Tư ngỡ rằng lão xin bả để ăn trộm chó “lão cũng ra phết đấy chứ chẳng vừa đâu”. Đến lượt ông giáo cũng nghi ngờ: “con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Nhưng cuối cùng tất cả đều ngỡ ngàng, sửng sốt trước cái chết đột ngột của lão. Hay còn cách khác: lão có thể bán quách mảnh vườn đi. Nhưng lão lại nghĩ rằng đó là mảnh vườn của con lão. Và lão đã thà chết chứ không ăn của con!

Lòng tự trọng của lão Hạc rực sáng nhất ngay khi thân xác lão đau đớn nhất. Lão đã chọn cái chết, một cái chết khốc liệt để tâm hồn mình được trong sạch, được trọn vẹn tình nghĩa với tất thảy mọi người – kể cả với con chó Vàng tội nghiệp. Nhưng còn một chi tiết khác cũng cảm động vô cùng. Lão đã tính toán để ngay cả khi chết đi rồi cũng không làm phiền đến mọi người: lão đã gửi ông giáo mấy chục đồng bạc, định khi mình nằm xuống thì nhờ ông giáo lo liệu ma chay khỏi làm phiền hàng xóm! Hỡi ôi lão Hạc!

Xây dựng nhân vật lão Hạc, Nam Cao đã sử dụng nghệ thuật khắc họa nhân vật tài tình. Điều đó được thể hiện trong đoạn văn miêu tả bộ dạng, cử chỉ của lão Hạc khi kể cho ông giáo chuyện lừa bán cậu Vàng, trong đoạn miêu tả sự vật vã đau đớn dữ dội của lão Hạc trước lúc chết. Ngôn ngữ nhà văn sử dụng trong tác phẩm sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và hết sức gợi cảm.

Qua nhân vật lão Hạc, nhà văn đã thể hiện tinh thần nhân đạo tiến bộ sâu sắc. Nam Cao đã đồng cảm đến tận cùng với cái nghèo, cái đói của người nông dân Việt Nam trong nạn đói 1945. Thời cuộc đã dồn họ đến đường cùng và lối thoát nhanh chóng nhất là cái chết nghiệt ngã.

Nhưng trên hết, nhà văn đã biết nâng niu trân trọng vẻ đẹp tâm hồn cao khiết của người nông dân ngay cả khi họ bước vào đường cùng. Không chỉ giàu tình yêu thương, người nông dân còn sống đầy tự trọng. Trong cái đói, tự trọng là thứ gì đó xa xỉ vô cùng. Vì miếng ăn, người ta có thể tàn nhẫn, dã man, thậm chí mất hết nhân tính. Nhưng đáng trọng thay lão Hạc, lão không chỉ giữ được tình thương tươi mát mà còn giữ được lòng tự trọng vàng đá của mình.

Và chính nhờ vẻ đẹp tươi sáng ấy của lão Hạc mà Nam Cao đã chiêm nghiệm: “Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn”. Chưa đáng buồn bởi còn có những con người cao quý như Lão Hạc. Viết câu văn ấy, nhà văn đã bày tỏ thái độ tin tưởng đối phẩm cách tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Điều ấy đáng quý vô cùng bởi trước Cách mạng, người nông dân bị coi rẻ như cỏ rác, thậm chí có nhà văn còn nhận định người nông dân “như những con lợn không tư tưởng”. Và bởi thế, tư tưởng của Nam Cao đáng ca ngợi biết bao!

Nhân vật lão Hạc của nhà văn Nam Cao là một nhân vật có nhiều đặc điểm đáng quý, đáng trân trọng. Từ lão Hạc, người nông dân Việt Nam có quyền tự hào về tâm hồn và phẩm cách của mình. Dựng lên nhân vật này, nhà văn Nam cao đã khẳng định một quan điểm giàu tính nhân đạo sâu sắc.

Tham khảo trọn bộ 🍀 Phân Tích Tức Nước Vỡ Bờ 🍀 13 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Viết về đề tài nông dân trước cách mạng, “‘Lão Hạc” là một truyện ngắn độc đáo, đặc sắc của nhà văn Nam Cao. Một truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương khi tác giả kể về cuộc đời cô đơn bất hạnh và cái chết đau đớn của một lão nông nghèo khổ. Nhân vật lão Hạc đã để lại trong lòng ta bao ám ảnh khi nghĩ về số phận con người, số phận người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ.

Lão Hạc, một con người nghèo khổ, bất hạnh. Ba sào vườn, một túp lều, một con chó vàng… đó là tài sản, vốn liếng của lão. Vợ chết đã lâu, cảnh gà trống nuôi con, lão lần hồi làm thuê kiếm sống. Đứa con trai độc nhất không có trăm bạc để cưới vợ, cảm thấy “nhục lắm” đã “phẫn chí” đi phu đồn điền cao su Nam Kỳ, biền biệt năm, sáu năm chưa về.

Tuổi già, sống cô quạnh, nỗi bất hạnh ngày thêm chồng chất. Lão Hạc chỉ còn biết làm bạn với con chó vàng. Lão bị ốm một trận kéo dài 2 tháng 18 ngày. Không một người thân bên cạnh đỡ đần, săn sóc cho một bát cháo, một chén thuốc! Tình cảnh ấy thật đáng thương!

Tiếp theo một trận bão to, cây trái hoa màu trong vườn bị phá sạch sành sanh. Làng mất nghề sợi. Đàn bà con gái trong làng đi làm thuê rất nhiều, giành hết mọi việc. Sau trận ốm, lão Hạc yếu hẳn đi, chẳng ai thuê lão đi làm nữa. Thất nghiệp! Giá gạo mỗi ngày một cao. Lão và cậu Vàng, mỗi ngày ăn hết ba hào gạo mà vẫn “đói gieo đói dắt”. Bao nhiêu tiền bán hoa lợi trong vườn dành dụm được bấy lâu nay, lão đã chi tiêu gần hết trong trận ốm!

”Nhưng đời người ta không chỉ khổ một lần (…). Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu?”. Nhân vật ông giáo đã nghĩ như thế khi nghe lão Hạc nói về ý định phải bán con chó. Cậu Vàng “ăn khỏe”, mỗi ngày cậu ấy ăn “bỏ rẻ cũng mất hào rưỡi, hai hào”. Lão Hạc rất yêu cậu Vàng, nhưng “lấy tiền đâu mà nuôi được?” Lão Hạc phải bán cậu Vàng cho thằng Xiên, thằng Mục…

Bán cậu Vàng xong, lão Hạc bị đẩy sâu xuống đáy vực bi thảm. Lão cảm thấy mình là một kẻ “tệ lắm”, đã già mà còn “đánh lừa một con chó”. Đói khổ, túng bấn, cô đơn… ngày một thêm nặng nề… lão Hạc chỉ ăn khoai, ăn củ chuối, ăn sung luộc, ăn rau má, thỉnh thoảng một vài củ ráy, hay bữa trai bữa ốc.

Lão từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo một cách “gần như là hách dịch”. Lão xa ông giáo dần, chỗ dựa tinh thần của lão bấy lâu nay. Lão Hạc đã ăn bả chó để tự tử. Lão chết đau đớn thê thảm: đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc, tru tréo, bọt mép sùi ra… vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết! Cái chết thật là dữ dội!

Số phận một con người, một kiếp người như lão Hạc thật đáng thương. Với chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, Nam Cao đã nói lên bao tình thương xót đối với những con người đau khổ, bế tắc phải tìm đến cái chết thê thảm. Chí Phèo tự sát bằng mũi dao, Lang Rận thắt cổ chết… Và lão Hạc đã quyên sinh bằng cái bả chó! Lão Hạc đã từng hỏi ông giáo: ”… nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?”. Câu hỏi ấy đã thể hiện nỗi đau khổ tột cùng của một kiếp người.

Lão Hạc, một con người chất phác, hiền lành, nhân hậu. Lão rất yêu con. Biết con buồn vì không có tiền để cưới vợ lão thương con lắm…. Lão đau đớn khi con sắp đi làm phu đồn điền cao su. Lão chỉ biết khóc: “Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta đã chụp rồi (…). Nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi ?”. “Cao su đi dễ khó về” (Ca dao).

Con trai lão Hạc đã đi “bằn bặt” năm, sáu năm chưa về. Hoa lợi trong vườn, bán được bao nhiêu lão dành dụm cho con, hi vọng khi con trở về “có chút vốn mà làm ăn”. Lão tự bảo: “Mảnh vườn là của con ta… Của mẹ nó tậu thì nó hưởng…”. Đói khổ quá, nhưng lão Hạc đã giữ trọn vẹn ba sào vườn cho con. Lão đã tìm đến cái chết, thà chết chứ không chịu bán đi một sào. Tất cả vì con, một sự hi sinh thầm lặng cực kì to lớn!

Lòng nhân hậu của lão Hạc được thể hiện sâu sắc đối với con chó vàng, mà người con trai để lại. Lão quý nó, đặt tên nó là “cận Vàng”. Cho nó ăn cơm trong bát sứ như nhà giàu. Bắt rận hoặc đem nó ra cầu ao tắm. Lão ăn gì cũng chia cho cậu Vàng cùng ăn. Lão ngồi uống rượu, cậu Vàng ngồi dưới chân, lão nhắm một miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ.

Lão tâm sự với cậu Vàng như tâm sự với một người thân yêu ruột rà: “Cậu Vàng của ông ngoan lắm! Ông không cho giết… Ông để cậu Vàng ông nuôi…”. Có thể nói, cậu Vàng được lão Hạc chăm sóc, nuôi nấng như con, như cháu; nó là nguồn vui, chỗ dựa tinh thần, nơi san sẻ tình thương, giúp lão Hạc vơi đi ít nhiều nỗi buồn cô đơn, cay đắng.

Cậu Vàng là một phần cuộc đời lão Hạc. Nó đã tỏa sáng tâm hồn và làm ánh lên bản tính tốt đẹp của ông lão nông đau khổ, bất hạnh này. Vì thế, sau khi bán cậu Vàng đi, từ túng quẫn, lão Hạc chìm xuống đáy bể bi kịch, dẫn đến cái chết vô cùng thảm thương.

Lão Hạc là một nông dân nghèo khổ mà trong sạch, giàu lòng tự trọng. Trong đói khổ cùng cực phải ăn củ chuối, củ ráy… ông giáo mời lão ăn khoai, uống nước chè, lão cười hồn hậu và khất “ông giáo cho để khi khác”. Ông giáo ngấm ngầm giúp đỡ, lão từ chối “một cách gần như hách dịch”. Bất đắc dĩ phải bán con chó; bán xong rồi, lão đau đớn, lương tâm dằn vặt: “thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó”.

Ba sào vườn gửi lại nguyên vẹn cho con trai, như một lời nguyền đinh ninh: “Cái vườn là của con ta (…). của mẹ nó tậu thì nó hưởng”. Trước khi chết, lão gửi lại ông giáo mảnh vườn cho con, và gửi lại 30 đồng bạc để “lỡ có chết… gọi là của lão có tí chút…”, vì lão không muốn làm phiền đến hàng xóm. Nam Cao đã tinh tế đưa nhân vật Binh Tư, một kẻ “làm nghề ăn trộm” ở phần cuối truyện, tạo nên một sự đối sánh đặc sắc, làm nổi bật tấm lòng trong sạch, tự trọng của lão Hạc, một lão nông chân quê đáng trọng.

Tóm lại, cuộc đời của lão Hạc đầy nước mắt, nhiều đau khổ và bất hạnh. Sống thì âm thầm, nghèo đói, cô đơn; chết thì quằn quại, đau đớn. Tuy thế, lão Hạc lại có bao phẩm chất tốt đẹp như hiền lành, chất phác, vị tha, nhân hậu, trong sạch và tự trọng… Lão Hạc là một điển hình về người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ được Nam Cao miêu tả chân thực, với bao trân trọng xót thương, thấm đượm một tinh thần nhân đạo thống thiết.

SCR.VN chia sẻ 🌟 Phân Tích Nhân Vật Chị Dậu 🌟 14 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc trước cách mạng. Tác phẩm của ông thường gắn liền với hình ảnh nông thôn đói khổ. Trong hoàn cảnh đó, ông vẫn nhìn thấy được những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân nghèo đang âm thầm tỏa sáng. Truyện ngắn Lão Hạc là một tác phẩm như vậy. Nhân vật chính là một lão nông nghèo khổ, bất hạnh nhưng vẫn mang những phẩm chất cao quý đáng trân trọng.

Truyện được kể qua lời ông giáo – người hàng xóm thân thiết của lão Hạc – đã tạo cho câu chuyện thêm phần chân thực, sinh động. Qua ông giáo, ta được biết gia cảnh buồn của lão Hạc: vợ mất sớm, đứa con trai duy nhất lại phẫn chí do bị phụ tình vì quá nghèo nên bỏ vào Nam làm phu đồn điền cao su, biền biệt một năm nay chẳng tin tức gì. Kỷ vật duy nhất con trai lão để lại là con chó mà lão vẫn hay trìu mến gọi là cậu Vàng.

Mỗi lần nhớ con, lão lại ngồi nói chuyện với nó cho khuây khỏa. Vì thế, có thể nói nó là một người bạn tri kỉ của lão. Nhưng rồi, cảnh đói kém bủa vây. Một trận ốm đã làm cho số tiền tích cóp của lão cạn dần. Còn mảnh vườn nhưng lão không thể bán được vì lão muốn để dành nó cho con trai. Vì vậy, sau nhiều lần định bán con Vàng, lần này lão dứt khoát chia tay nó. Lão không muốn tiêu phạm vào những đồng tiền ít ỏi mà lão để dành cho con trai.

Cảnh lão bán cậu Vàng thật xót xa. Cả đời lão chưa dám lừa một ai. Vậy mà lần này lão lại đi lừa một con chó – điều này làm lão đau lòng và tội lỗi: “Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước… Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”

Lão tìm đến ông giáo để giãi bày lòng mình. Lão muốn nhờ ông giáo trông coi hộ lão cái vườn đến khi con trai lão trở về. Rồi lão cũng nhờ ông giáo lo liệu ma chay cho mình nếu sau này già yếu. Những suy nghĩ, tính toán của lão thật đơn giản, thật thà. Nhưng mọi thứ đều được lão sắp xếp một cách cẩn thận, chi tiết. Lão vừa lo cho con trai mình, rồi lại lo đến cái chết của mình làm ảnh hưởng tới làng xóm. Điều này như một dự báo sẽ có một biến cố lớn xảy đến với lão.

Từ ngày bán cậu Vàng, và cũng từ khi nói chuyện, nhờ cậy ông giáo xong, nếp sống sinh hoạt của lão cũng có sự thay đổi: “Lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ đấy, lão chế được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc.”

Mặc dù vẫn còn ba mươi đồng bạc đó, nhưng lão không muốn là ảnh hưởng tới cái “gia tài” của con. Xuất phát từ tình thương của một người cha đã khiến cho lão phải chịu cảnh sống đói khổ. Nhưng không phải vì thế mà lão nảy sinh thói hư tật xấu. Lão vẫn giữ cho mình nếp sống “đói cho sạch, rách cho thơm”.

Cuộc sống bế tắc đã đẩy lão Hạc tìm đến cái chết như một sự giải thoát. Trước hết, lão sang nhà Binh Tư xin ít bả chó. Biết tin, ông giáo thấy vô cùng đau lòng: “Hỡi ơi lão Hạc! Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư?”

Ai cũng cứ ngỡ rằng rồi đây, lão sẽ sa chân vào con đường tội lỗi khi nghe những lời Binh Tư kể lại: “Lão làm bộ đấy! Thật ra thì lão chỉ tẩm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu. Lão vừa xin tôi một ít bả chó. Lão bảo có con chó nhà nào cứ đến vườn nhà lão…Lão định cho nó xơi một bữa. Nếu trúng, lão với tôi uống rượu.”

Nhưng rồi cái chết của lão đã làm đảo lộn suy nghĩ của tất cả mọi người: “Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết. Cái chết thật là dữ dội. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và bất thình lình như vậy. Chỉ có tôi với Binh Tư là hiểu.” Lão vẫn giữ cho bản thân mình trong sạch, nhưng cái chết của lão thật đau đớn, bi thảm.

“Lão Hạc” đã cho chúng ta thấu hiểu được hoàn cảnh khổ đau, khốn cùng, bế tắc của người nông dân nghèo có tâm hồn cao đẹp trong chế độ thực dân phong kiến tàn ác đương thời. Đồng thời, truyện cũng là lời nhắc nhở cho chúng ta phải biết quan tâm, giúp đỡ những con người có số phận éo le hơn mình.

Đọc nhiều hơn với 🔥 Phân Tích Trong Lòng Mẹ 🔥 16 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Nam Cao là nhà văn với những sáng tác để lại trong lòng người đọc nhiều day dứt và ám ảnh. Mỗi câu chuyện của ông đều mang dáng dấp của một đời người, một kiếp người lầm than trong xã hội. Nam Cao tập trung khai thác số phận người nông dân trước cách mạng tháng Tám, bế tắc, cùng cực đã khiến cho cuộc đời họ chìm vào nước mắt.

Truyện ngắn “Lão Hạc” là một trong những câu chuyện cảm động về hình ảnh nghèo khó của người nông dân, đồng thời toát lên được vẻ đẹp tinh thần đáng quý của họ. Đây mới chính là giá trị nhân văn của tác phẩm này.

Nam Cao lấy bối cảnh lịch sử là thời kỳ đất nước đang chìm trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than, đói khổ, xơ xác. Ông đã xây dựng nên nhân vật nông dân điển hình trong một xã hội điển hình. Qua nhân vật này tác giả muốn lột tả chế độ thực dân phong kiến và cuộc sống bần hàn của người nông dân.

Tác giả lựa chọn ngôi kể độc đáo, theo ngôi thứ ba, theo lời của ông Giáo, hàng xóm của lão Hạc. Bơi vậy câu chuyện thêm sinh động, chân thực và mang tính khách quan hơn. Người đọc có thể quan sát, theo dõi cuộc đời của một con người phải trải qua bao nhiêu thăng trầm và biến cố.

Những câu văn giản dị cứ thế đi vào long người đọc một cách chân thật và hiền hòa nhất. Từng mảnh đời cứ chấp chới hiện lên dật dờ, nghèo đói nhưng trong họ ánh lên sự nhân hậu, vị tha và lòng yêu thương tha thiết. Cuộc đời của lão Hạc thật là buồn, buồn đến thê thảm. Vợ lão mất sớm, lão ở với đứa con trai. Nhưng từ khi đứa con trai đi làm điền cao su thì lão không còn biết tin tức gì về con nữa.

Lão thương con, rồi lão thương cho chính cuộc đời của mình chẳng làm được gì cho con. Lão Hạc là hiện thân của người nông dân hiền lành, lương thiện, chất phác, chăm chỉ làm ăn. Ai thuê lão làm gì, lão đều làm. Nhưng cuộc đời khắc nghiệt, cuộc sống khắc nghiệt, sức khỏe của lão yếu đi, lão không muốn cậy nhờ con và hàng xóm.

Túng quẫn, bế tắc, lão đã nghĩ đến việc bán cậu Vàng. Nhưng tình cảm của lão dành cho cậu Vàng quá thân thiết, nên lão không nở, bao nhiêu lần mà lão không bán nổi. Sự giằng xé trong tâm hồn đã khiến cho lão ngày càng bệnh tật, ốm đau. Nhưng rồi vì cơm cũng chẳng có mà ăn, lấy gì nuôi cậu Vàng. Lão không muốn tiêu vào những đồng tiết tiết kiệm lão dành dụm cho đứa con trai từ việc bán hoa lợi và thu được từ mảnh vườn ba sào bé tý. Vậy là lão đứt ruột bán cậu vàng, nói đúng hơn là lão phải lừa để mới có thể bán cậu Vàng.

Cảnh bán chó thực sự là một cảnh tượng xúc động, đầy dằn vặt và đau đớn của lão Hạc. Lão đã tự thú nhận “già bằng này tuổi đầu còn đi lừa một con chó”. Ông giáo đã kể lại cảnh tượng đó “Mặt lão đột nhiên co rúm lại, những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra ngoài. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc”. Một đoạn văn tràn đầy tình cảm, một đoạn văn khiến người đọc không cầm nổi nước mắt.

Một người nông dân chất phác, ngay cả trong việc bán chó cũng vậy. Lão không muốn cậu Vàng đau lòng, muốn nó ra đi thanh thản nhất, nhưng thực ra lòng lão đang quá rối bời. Những tâm sự của lão Hạc khiến người đọc xúc động, cảm thông và rất đỗi khâm phục. Ông dù nghèo nhưng vẫn quyết dành tình cảm cho đứa con trai duy nhất.

Lão Hạc yêu thương con hết mực, quyết định hi sinh vì con. Bởi vậy lão mới quyết định kết liễu cuộc đời mình để không liên lụy đến con mình. Một người cha yêu thương con hết mực và là một người suy nghĩ quá thấu đáo, chu toàn. Lão đã định sẵn cho mình một cái chết thanh thản, nhẹ nhàng nhất. Lão đã cậy nhờ chuyện ông giáo sau khi chết giao lại mảnh vườn cho con trai và để lại 30 đồng bạc lẻ.

Chi tiết ông Giáo kể với vợ về chuyện lão Hạc thì vợ ông đã nói “Cho lão chết! Ai bảo có tiền mà chịu khổ! Lão làm khổ lão chứ ai làm lão khổ. Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão. Chính con mình cũng đói”. Bất lực ông giáo chỉ biết ngậm ngùi than thở: “Chao ôi, đối với những người ở xung quanh ta, nếu ta không cố mà tìm hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi toàn những cớ để ta tàn nhẫn, không bao giờ thương”.

Thực sự đây là một đoạn hội thoại có giá trị nhân văn sâu sắc, khẳng định một thái độ sống về những con người ở xung quanh mình. Có lẽ Nam Cao ngầm thương xót cho những mảnh đời bất hạnh, sống hiền lương nhưng lại bị ruồng bỏ.

Cái chết của lão Hạc là một cái chết đầy bi kịch, thức tỉnh biết bao nhiêu con người. Cái chết đó đã phản ánh hiện thực xã hội phong kiến nhiều bất công, đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng. Sự bế tắc, túng quẫn đã dẫn đến cái chết bi thảm đó. Ông giáo đã có suy nghĩ sai lầm thì nghe bảo lão Hạc sang xin bả chó. Nhưng thực sự là ông đang muốn kết liễu đời mình, không muốn làm gánh nặng cho con trai.

Tại sao lão lại chọn cái chết đau đớn, đầy thương tâm đó. Có lẽ đây là điều mà rất nhiều người hỏi, nhưng có lẽ có nguyên nhân của nó. Phản ánh sự bế tắc đến cùng cực xã hội phong kiến, đẩy con người vào chỗ chết. Có lẽ lão Hạc muốn trừng phạt chính bản thân mình vì đã đi “lừa một con chó”, đồng thời lão muốn yêu thương đứa con trai đến giây phút cuối cùng. Cái chết đó chỉ ông Giáo và Binh Tư mới hiểu.

Truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao thực sự ám ảnh đến người đọc vì hình ảnh người nông dân cùng cực trong xã hội phong kiến. Đồng thời khẳng định vẻ đẹp tinh thần lấp lánh trong con người họ.

Tiếp tục tham khảo ☀️ Phân Tích Tôi Đi Học ☀️ 15 Bài Văn Mẫu Ngắn Gọn Hay Nhất

Trong số các tác phẩm viết về đề tài người nông dân, “Lão Hạc” của Nam Cao là một trong những truyện ngắn tiêu biểu và đạt được sự thành công ở giá trị nội dung cũng như nghệ thuật. Bằng tài năng trong việc sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu, xây dựng tình huống truyện và hình tượng nhân vật, tác giả Nam Cao đã lưu lại trong trang văn những ý niệm vô cùng sâu sắc, độc đáo của quan niệm nghệ thuật về con người. Đó là quan niệm về “đôi mắt” nhìn đời, nhìn người và đánh giá con người.

Quan niệm nghệ thuật là một trong những khái niệm quen thuộc thể hiện quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan của người nghệ sĩ, hay nói cách khác: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” (Trần Đình Sử, (1993), Dẫn luận Giáo trình Thi pháp học, Nxb ĐH sư phạm thành phố Hồ Chí Minh).

Như vậy, thông qua việc việc xây dựng hình tượng nghệ thuật, các nhà văn, nhà thơ sẽ thể hiện quan niệm nghệ thuật riêng của bản thân, in đậm dấu ấn nhân sinh quan cá nhân và tạo nên phong cách sáng tác riêng biệt. Đối với nhà văn Nam Cao, quan niệm của ông về con người luôn được thể hiện rõ qua vấn đề “đôi mắt” và vấn đề lập trường, thái độ và trách nhiệm của người trí thức.

Đó là suy ngẫm của nhân vật ông giáo trước thái độ của người vợ khi thị đánh giá về lão Hạc: “- Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ!”. Trong tác phẩm, lão Hạc là nhân vật chính với những vẻ đẹp về phẩm chất như yêu thương con cái, giàu đức hi sinh, hiền lành, lương thiện và giàu lòng tự trọng. Tuy nhiên, trong mắt của những người xung quanh, lão chỉ là một kẻ “gàn dở” và “ngu ngốc”, bởi khi “không cố gắng mà hiểu” thì con người không thể phát hiện những vẻ đẹp bị che lấp của người khác.

Khi sống trong sự nghèo khổ đến cùng cực thì “cái bản tính tốt của người ta” – sự quan tâm, thấu hiểu, sẻ chia sẽ bị “những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất”. Như vậy, qua dòng suy ngẫm của ông giáo, nhà văn Nam Cao đã khái quát một quan niệm nghệ thuật về con người thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Đó chính là cách đánh giá và ứng xử với những người xung quanh bằng đôi mắt của tình thương, sự quan tâm, thấu cảm và lòng vị tha.

Quan niệm nghệ thuật về con người được bộc lộ qua những suy ngẫm của ông giáo đã thể hiện rõ đôi mắt, trái tim nhân đạo của Nam Cao. Nhà văn nhìn đời, nhìn người bằng đôi mắt cảm thông, thấu hiểu và sẻ chia. Bởi vậy, tác giả luôn có ý thức đi tìm “cái bản tính tốt đẹp của người ta bị những lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất”. Đồng thời, quan niệm nghệ thuật về con người được bộc lộ trong lão Hạc còn thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật tiến bộ và mang tính hệ thống trong các sáng tác của nhà văn Nam Cao.

Không ít lần, nhà văn đã thể hiện rõ quan điểm về vấn đề này, đặc biệt là qua tác phẩm “Đôi mắt”. Tác giả đã nhấn mạnh để khẳng định người nghệ sĩ cần thấu hiểu đời, hiểu người, khám phá con người ở phương diện của những điều tốt đẹp và tích cực bằng đôi mắt của tình thương. Như vậy, “đôi mắt” trong sự tương quan và mối quan hệ với vấn đề cách nhìn, cách đánh giá mang tính nhân đạo, nhân văn cao đẹp đã được tác giả Nam Cao thể hiện trực tiếp thông qua các hình tượng nghệ thuật.

Như vậy, thông qua tác phẩm “Lão Hạc”, chúng ta có thể thấy được quan niệm nghệ thuật về cách đánh giá con người của tác giả. Vấn đề “đôi mắt” gắn với tình thương, sự quan tâm, lòng tin đã chi phối đến những tác phẩm của nhà văn Nam Cao và có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc trong mọi thời đại.

Đón đọc tuyển tập 🌠 Phân Tích Chiếc Lá Cuối Cùng 🌠 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

“Lão Hạc” của Nam Cao ra mắt bạn đọc năm 1943. Câu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả. Đặc biệt, tác giả đã diễn tả tập trung vào tâm trạng nhân vật chính – lão Hạc – xoay quanh việc bán chó đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phũ phàng phủ chụp lên những cuộc đời lương thiện.

Con chó – cậu Vàng như cách gọi của lão là hình ảnh kỷ niệm duy nhất của đứa con. Hơn thế, cậu Vàng còn là nguồn an ủi của một ông lão cô đơn. Lão cho cậu ăn trong bát, chia xẻ thức ăn, chăm sóc, trò chuyện với cậu như với một con người. Bởi thế, cái ý định “có lẽ tôi bán con chó đấy” của lão bao lần chần chừ không thực hiện được. Nhưng rồi, cuối cùng cậu Vàng cũng đã được bán đi với giá năm đồng bạc.

Cậu Vàng bị bán đi! Có lẽ đó là quyết định khó khăn nhất đời của lão. Năm đồng bạc Đông Dương kể ra là một món tiền to, nhất là giữa buổi đói deo đói dắt. Nhưng lão bán cậu không phải vì tiền, bởi “gạo thì cứ kém mãi đi” mà một ngày lo “ba hào gạo” thì lão không đủ sức. Cậu Vàng trở thành gánh nặng, nhưng bán cậu rồi lão lại đau khổ dày vò chính mình trong tâm trạng nặng trĩu.

Khoảnh khắc “lão cố làm ra vui vẻ” cũng không giấu được khuôn mặt “cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”. Nỗi đau đớn cố kìm nén của lão Hạc như cắt nghĩa cho việc làm bất đắc dĩ, khiến ông giáo là người được báo tin cũng không tránh khỏi cảm giác ái ngại cho lão.

Ông giáo hiểu được tâm trạng của một con người phải bán đi con vật bầu bạn trung thành của mình. Cảm giác ân hận theo đuổi dày vò lão tạo nên đột biến trên gương mặt: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”.

Những suy nghĩ của một ông lão suốt đời sống lương thiện có thể làm người đọc phải chảy nước mắt theo: “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó”. Bản chất của một con người lương thiện, tính cách của một người nông dân nghèo khổ mà nhân hậu, tình nghĩa, trung thực và giàu lòng vị tha được bộc lộ đầy đủ trong đoạn văn đầy nước mắt này.

Nhưng không chỉ có vậy, lão Hạc còn trải qua những cảm giác chua chát tủi cực của một kiếp người, ý thức về thân phận của một ông lão nghèo khổ, cô đơn cũng từ liên tưởng giữa kiếp người – kiếp chó: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”.

Suy cho cùng, việc bán chó cũng xuất phát từ tấm lòng của một người cha thương con và luôn lo lắng cho hạnh phúc, tương lai của con. Tấm lòng ấy đáng được trân trọng! Hiện thực thật nghiệt ngã đã dứt đứa con ra khỏi vòng tay của lão, cái đói cái nghèo lại tiếp tục cướp đi của lão người bạn cậu Vàng.

Bản thân lão như bị dứt đi từng mảng sự sống sau những biến cố, dù cho cố “cười gượng” một cách khó khăn nhưng lão dường như đã nhìn thấy trước cái chết của chính mình. Những lời gửi gắm và món tiền trao cho ông giáo giữ hộ sau lúc bán chó có ngờ đâu cũng là những lời trăng trối.

Kết cục số phận của lão Hạc là cái chết được báo trước nhưng vẫn khiến mọi người bất ngờ, thương cảm. Quyết định dữ dội tìm đến cái chết bằng bả chó là giải pháp duy nhất đối với lão Hạc, để lão đứng vững trên bờ lương thiện trước vực sâu tha hoá. Kết thúc bi kịch cũng là thật sự chấm dứt những dằn vặt riêng tư của lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ.

Xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật tôi là người bạn, là chỗ dựa tinh thần của lão Hạc. Những suy nghĩ của nhân vật này giúp người đọc hiểu rõ hơn về con người lão Hạc. Nhân vật lão Hạc đẹp, cao quý thực sự thông qua nhân vật tôi.

Cái hay của tác phẩm này chính là ở chỗ tác giả cố tình đánh lừa để ngay cả một người thân thiết, gần gũi với lão Hạc như ông giáo vẫn có lúc hiểu lầm về lão. Sự thật nhân vật tôi cố hiểu, cố dõi theo mới hiểu hết con người Lão Hạc. Khi nghe Binh Tư cho biết lão Hạc xin bã chó, ông giáo ngỡ ngàng, chột dạ: “Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có cái ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày lại thêm đáng buồn”.

Chi tiết này đẩy tình huống truyện lên đến đỉnh điểm. Nó đánh lừa chuyển ý nghĩ tốt đẹp của ông giáo và người đọc sang một hướng khác: Một con người giàu lòng tự trọng, nhân hậu như lão Hạc cuối cùng cũng bị cái ăn làm cho tha hoá, biến chất sao? Nếu Lão Hạc như thế thì niềm tin về cuộc đời về ông giáo sẽ sụp đổ, vỡ tan như chồng ly thủy tinh vụn nát.

Nhưng khi chứng kiến cái chết đau đớn dữ dội vì ăn bã chó của lão Hạc, ông giáo mới vỡ oà ra: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn hay vẫn đáng buồn theo một nghĩa khác”.

Đến đây truyện đi đến hồi mở nút, để cho tâm tư chất chứa của ông giáo tuôn trào theo dòng mạch suy nghĩ chân thành, sâu sắc về lão Hạc và người nông dân… “Chao ôi! Đối với những người xung quanh ta, nếu không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dỡ, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa bỉ ổi … toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương”.

Có lẽ đây là triết lý sống xen lẫn cảm xúc xót xa của Nam Cao. Ở đời cần phải có một trái tim biết rung động, chia xẻ, biết yêu thương, bao bọc người khác, cần phải nhìn những người xung quanh mình một cách đầy đủ, phải biết nhìn bằng đôi mắt của tình thương.

Với Nam Cao con người chỉ xứng đáng với danh hiệu con người khi biết đồng cảm với những người xung quanh, biết phát hiện, trân trọng, nâng niu những điều đáng quý, đáng thương. Muốn làm được điều này con người cần biết tự đặt mình vào cảnh ngộ cụ thể của người khác để hiểu đúng, thông cảm thực sự cho họ.

Chuyện được kể ở ngôi thứ nhất, nhân vật tôi trực tiếp kể lại toàn bộ câu chuyện cho nên ta có cảm giác đây là câu chuyện thật ngoài đời đang ùa vào trang sách. Thông qua nhân vật tôi, Nam Cao đã thể hiện hết Con người bên trong của mình.

Đau đớn, xót xa nhưng không bi lụy mà vẫn tin ở con người. Nam Cao chưa bao giờ khóc vì khốn khó, túng quẫn của bản thân nhưng lại khóc cho tình người, tình đời. Ta khó phân biệt được đâu là giọt nước mắt của lão Hạc, đâu là giọt nước mắt của ông giáo: Khi rân rân, khi ầng ực nước, khi khóc thầm, khi vỡ oà nức nỡ. Thậm chí nước mắt còn ẩn chứa trong cả nụ cười: Cười đưa đà, cười nhạt, cười và ho sòng sọc, cười như mếu …

Việc tác giả hoá thân vào nhân vật tôi làm cho cách kể linh hoạt, lời kể chuyển dịch trong mọi góc không gian, thời gian, kết hợp giữa kể và tả, hồi tưởng với bộc lộ cảm xúc trữ tình và triết lý sâu sắc…

Truyện ngắn Lão Hạc là tác phẩm của mọi thời, bi kịch của đời thường đã trở thành bi kịch vĩnh cửa. Con người với những gì cao cả, thấp hèn đều có trong tác phẩm. Thông qua nhân vật tôi tác giả đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh: Hãy cứu lấy con người, hãy bảo vệ nhân phẩm con người trong con lũ cuộc đời sẵn sàng xoá bỏ mạng sống và đạo đức. Cho nên chúng ta nên đặt nhân vật tôi ở một vị trí tương xứng hơn khi tìm hiểu tác phẩm.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Phân Tích Cô Bé Bán Diêm 🌼 12 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Có nhà văn nào đó từng nói rằng: văn chương chân chính dù nói về cái xấu, cái ác vẫn phải hướng về cái đẹp, cái thiện, đó là thanh nam châm thu hút mọi thế hệ. Vâng, phải chăng cái xấu cái ác hay cũng chính là cái khổ đau, bất hạnh và cái đẹp cái thiện chính là niềm tin tưởng của nhà văn hướng nguời đọc tin vào vẻ đẹp của nhân vật, để giúp người đọc một bải học về nhân cách.

Qua nhân vật chị Dậu ttrong Tức nước vỡ bờ và Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên, ta thấy được rằng mặc dù gặp nhiều đau khổ, bất hạnh, người nông dân trước cách mạng tháng 8 vẫn giữ trọn những phẩm chất tốt đẹp của mình.

Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm chính là con người. bởi vậy nên, vấn đề chung về con người đã là mẫu số chung, là mảnh đất muôn thuở của thi nhân muôn đời. Nhưng, qua mỗi trang văn nhà văn chân chính phải mang đến một phát minh về hình thức, một khám phá mới về nội dung. Đó là đòi hỏi của nghệ thuật, không chấp nhận sự lặp lại người khác và lặp lại chính mình. Đó là cách duy nhất để anh tồn tại trong sân chơi nghệ thuật.

Cũng chính vì hiểu được điều ấy mà đến với đề tài người nông dân, một đề tài quen thuộc mà thi nhân muôn đời đã đi mòn đứt cỏ thì cả Ngô Tất Tố và Nam Cao đều có những khám phá riêng của mình, chính vì vậy số phận người nông dân đã được khắc họa sinh động, đa chiều và sâu sắc.

Nếu như trong trang văn của Ngô Tất Tố, người nông dân phải chịu nỗi khổ về sưu cao, thuế nặng, hà hiếp áp bức, ngay cả người chết rồi mà vẫn phải nộp sưu thuế. Thật là vô lí. Thì trong trang văn của Nam Cao người nông dân được nhìn trong bi kịch bị tha hóa về nhân cách, phải chịu đựng sự giằng xé giữ dội về cái đói và miếng ăn. Hoặc là chấp nhận sống nhưng bị tha hóa vì miếng ăn, hoặc là chết để bảo toàn nhân phẩm, lão Hạc là một ví dụ điển hình.

Song chính việc soi chiếu và nhìn nhận riêng của mỗi nhà văn như thế đã giúp người đọc nhìn nhận được bản chất và vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam.

Nhưng dù là Lão Hạc hay chị Dậu thì ở cả hai nhân vật ấy, nhà văn đều cho chúng ta thấy được rằng dù gặp nhiều đau khổ, bất hạnh nhưng người nông dân trước cách mạng tháng Tám vẫn giữ trọn nhân phẩm của mình. Chị Dậu của Ngô Tất Tố, một người phụ nữ mộc mạc, lương thiện, hết mực yêu thương chồng và con, hi sinh không quản vì sự sống của chồng mình.

Có lúc vì túng quẫn quá mà chị phải bán chó, bán con nhưng tuyệt đối đó không phải là hành động vô nhân tính mà là hành động của một người phụ nữ sắc sảo, bản lĩnh và mạnh mẽ đến kiệt cùng, dù đớn đau đến cắt từng khúc ruột khi phải bán con vẫn một mực chịu đựng vì nghĩ về sự sống của chồng. ngay cả khi bán chó, gia đình cái con sinh vật Nghị Quế chồng, Nghị Quế vợ có ăn bớt, làm điêu thì cũng chỉ hạ một câu: lão Nghị giàu đến thế mà còn…

Không một chút phản kháng, cũng không văng bất kì một lời lẽ tục tĩu nào. Ngay cả khi lên huyện. Sống trong môi trường khác chị vẫn một mực nghĩ về chồng, về con, không bị lây nhiễm thói xấu. Khi thấy cai lệ hành hạ chồng, chị đã vùng lên mạnh mẽ, chị đã bước ra khỏi nỗi sợ của bản thân để chiến đấu, đánh bật hai tên cai lệ lực lưỡng. Chị không chịu khuất phục, Và chính với điều này, Ngô Tất Tố như đã xui người nông dân nổi loạn. Đó chính là phẩm chất cao đẹp mà Ngô Tất Tố đã luôn tin tưởng vào người nông dân trước cách mạng.

Với Nam Cao, ông luôn nhìn đời bằng con mắt tình thương. Chính vì quan niệm ấy mà những trang văn của Nam Cao luôn đặt nhân vật của mình trong tình thế cheo leo giữa nhân tính và thú tính, giữa say và tỉnh, giữa sự sống và cái chết. Nhưng đến cuối cùng Nam Cao vẫn cho thấy sự tin tưởng của mình vào phẩm chất lương thiện của người nông dân. Với lão Hạc, một người cha giàu lòng yêu thương con, có lòng tự trọng cao và đặc biệt là một người ân nghĩa, lão nghĩa tình với cả con vật của mình.

Khi đã tuổi già sức yếu, không làm gì để kiếm ăn được, lão chẳng dám đụng vào số tiền bòn vườn của con, chỉ dám ăn sung luộc. Để rồi lão có thể chọn sống bằng cách bán mảnh vườn đi, nhưng không lão đã tìm đến cái chết, một cái chết đau đớn, tức tưởi thậm chí nhục nhã bằng bả chó.

Nhưng chính cái chết ấy khẳng định được nhâ cách tahnh cao của lão, khẳng định được tính người trong con người của lão Hạc – một người nông dân bần cùng nhưng không bần nghĩa bần tình. Cái chết của Lão đã cho thấy niềm tin của Nam Cao vào vẻ đẹp của người nông dân lương thiện, dù đau đớn, bất hạnh nhưng vẫn giữ trọn phẩm chất tốt đẹp của mình.

Qua hai tác phẩm ngắn nhưng Nam Cao và Ngô Tất Tố đã cho thấy vẻ đẹp của người nông dân trong những trang viết của mình. Đó chính là tinh thần nhân đạo của các nhà văn hiện thực, song ở thời điểm bấy giờ, vì chưa có ánh sáng của cách mạng vậy nên họ vẫn rơi vào bi kịch, bế tắc.

Không chỉ có chị Dậu, lão Hạc mà tất cả những người nông dân nói chung trước cách mạng tháng Tám mặc dù gặp nhiều đau khổ, bất hạnh, nhưng vẫn giữ trọn những phẩm chất tốt đẹp của mình. Trân trọng biết mấy những người nông dân mang những phẩm chất tốt đẹp dù trong bất kì hoàn cảnh nào đồng thời cũng xót xa cho số phận đau khổ của họ.

Khám phá thêm 🌹 Phân Tích Đánh Nhau Với Cối Xay Gió 🌹 9 Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Sông Hương ❤️️15 Bài Phân Tích Hình Tượng Hay

Phân Tích Sông Hương ❤️️ 15 Bài Phân Tích Hình Tượng Hay ✅ Giúp Người Đọc Hiểu Hơn Về Nét Đẹp Của Sông Hương Một Biểu Tượng Của Thành Phố Huế.

Dàn Ý Phân Tích Sông Hương, một biểu tượng của xứ Huế được thể hiện đặc sắc trong bài Ai đã đặt tên cho dòng sông.

I. Mở bài

Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường: là nhà văn của xứ Huế, ông có sức liên tưởng tưởng tượng dồi dào, lối hành văn mê đắm, ông chuyên viết về bút kí.

Tác phẩm là tùy bút tiêu biểu cho phong cách văn chương của tác giả: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.

Hình tượng trung tâm của tác phẩm là hình tượng con sông Hương.

II. Thân bài

Dòng sông thiên nhiên

Ở thượng nguồn:

Là “bản trường ca của rừng già” “rầm rộ dưới bóng cây đại ngàn”, “mãnh liệt qua những ghềnh thác”; lúc lại dịu dàng say đắm dưới dặm dài chói lọi hoa đỗ quyên …”

“cô gái Di – gan”: phóng khoáng, man dại, tâm hồn tự do, trong sáng, bản tính gan dạ, có sức mạnh bản năng

Sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ“người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở” .

Sông Hương từ thượng nguồn đến Huế:

Sông Hương “như một người gái đẹp nằm ngủ mơ màng …” được đánh thức bởi tiếng gọi của tình yêu, bắt đầu hành trình gian truân, “tìm kiếm có ý thức” đến với Huế, lần đầu đến với tình yêu một mặt rất e lệ, một mặt táo bạo chủ động “vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”.

Trong lòng Huế

Tác giả so sánh sông Hương với những dòng sông nổi tiếng trên thế giới, sông Hương chỉ thuộc về một thành phố duy nhất, giống như người con gái chung thủy.

Sông Hương mang đến cho Huế một vẻ đẹp cổ xưa dân dã: “ánh lửa thuyền chài … xưa cũ”, trôi đi chậm như một mặt hồ.

Người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.

Từ biệt Huế ra biển: như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.

Nhận xét: tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.

Dòng sông lịch sử

Dòng sông văn hóa

III. Kết bài

Nêu cảm nhận về hình tượng dòng sông Hương

Đánh giá nghệ thuật nổi bật: liên tưởng độc đáo, sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã, thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.

Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất nước.

Giới thiệu cùng bạn 🍀Phân Tích Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông ❤️️ 15 Mẫu Hay Nhất

“Ai đã đặt tên cho dòng sông” là tác phẩm xuất sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường khi viết về sông Hương. Tác phẩm khắc họa hình tượng một con sông thơ mộng, trữ tình của Huế.

Ở thượng nguồn, sông Hương như một người con gái man dại của núi rừng. Sự man dại ấy được so sánh như “trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn” khi chảy qua những miền hiểm trở, sông Hương mang những vẻ dữ dội đặc trưng. “Mãnh liệt qua ghềnh thác” nhưng cũng có lúc sông Hương như một cô gái đầy nữ tính dịu hiền “dịu dàng, say đắm”.

Ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả sông Hương như một người con gái Di-gan man dại. Nhờ có rừng già, sông Hương đã được hun đúc một bản tính tự do phóng khoáng sức mạnh ấy được chế ngự bởi cấu trúc địa hình lãnh thổ nơi đây, để khi đi khỏi, bắt gặp xứ Huế mộng mơ, sông Hương “nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ”.

Khi tả sông Hương ở đồng bằng, Hoàng Phủ Ngọc Tường như ngụ ý tả tỉ mỉ sông Hương “nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục”. Từ ngã ba Tuần đến điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc rồi dần dần ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế.

Vì gặp Huế, sông Hương trong lòng tác giả như thay đổi tâm tình đột ngột “sông như chế ngự được bản năng của người con gái” cảnh đẹp, có đường nét và hình khối “nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo” sông Hương còn mang màu sắc vô cùng đẹp “sớm xanh trưa vàng chiều tím”.

Lại còn vẻ đẹp trầm mặc u tịch đó là vẻ đẹp mang tính triết lí cổ thi khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông nơi chùa Thiên Mụ. Vậy đấy, một cô gái hoang dại như những nàng Di-gan, nay đã mang lại mỡ màu phù sa cho xứ Huế. Sông Hương thực đã thay tính đổi nết vì gặp được nơi này.

Đặc biệt đoạn miêu tả sông Hương đi qua thành phố miêu tả đầy ấn tượng. Những chiếc cầu bắc qua dòng sông thật đẹp “nhỏ nhắn như những vầng trăng non” dòng sông như không muốn xa thành phố. Nó cứ như vậy “để nói một lời thề trước khi về biển cả” ấy như một tấm lòng của người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở.

Sông Hương còn được nhìn dưới góc độ văn hóa, như một âm nhạc cổ điển của Huế. Như một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya… Quả thật, âm nhạc Huế đã sống trên mặt nước nơi con sông này. Sông Hương còn gắn với lịch sử dân tộc, “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, nó là điểm tựa bảo vệ biên cương thời Đại Việt. Nó đi vào thời cách mạng tháng Tám như một chứng nhân lịch sử quan trọng. Gắn với lịch sử Huế, lịch sử dân tộc.

Nói chung, sông Hương đã nêu bật được vẻ đẹp của một ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Gợi ý cho bạn 🌹Sơ Đồ Tư Duy Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông ❤️️ 10 Mẫu Hay

Chia sẻ bài Phân Tích Vẻ Đẹp Hình Tượng Sông Hương để lại nhiều ấn tượng cho các bạn đọc với cách diễn đạt logic, hấp dẫn.

“Ai đã đặt tên cho dòng sông này” là bài bút kí xuất sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường khi viết về dòng sông trữ tĩnh, thơ mộng của Huế. Mạch cảm xúc của bài kí chính là vẻ đẹp đặc trưng, riêng biệt của con sông duy nhất chảy qua dòng thành phố Huế. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã rất tài tình khi lột tả được hết vẻ đẹp và linh hồn của dòng sông mang đặc trưng của Huế này.

Có lẽ vì đặc trưng của thể loại bút kí nên lời văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường rất phóng khoáng, điêu luyện, nhẹ nhàng và mềm mại. Với một tấm lòng yêu Huế, yêu cảnh sắc thiên nhiên, yêu sông Hương nên Hoàng Phủ Ngọc tường đã khoác lên bài kí một màu sắc, âm hưởng riêng có của Huế.

Dòng sông Hương được tác giả ngợi ca “dòng sông duy nhất chảy qua thành phố Huế”, dòng sông vắt mình qua thành phố, chứng kiến bao nhiêu đổi thay của mảnh đất này.

Cái nhìn đầu tiên của tác giả khi viết về sông Hương là cái nhìn từ vùng thượng nguồn. Vẻ đẹp của dòng sông lúc này khiến tác giả liên tưởng đến cô gái Di gan phóng khoáng, mê dại, đầy sức hút. Qua ngòi bút của tác giả, sông Hương hiện lên thật kì vĩ “sông Hương tựa như một bản trường ca của rừng già.

Thật độc đáo khi dưới con mắt của tác giả, sông hương tựa như “Cô gái di gan phóng khoáng và man dại với bản lĩnh gan dạ, tâm hồn tự do và trong sáng”. Có lẽ đây là phép nhân hóa đầy ẩn ý nhằm gợi lên nét đẹp hoang sơ nhưng hấp dẫn của con sông này. Như vậy có thể thấy được qua ngòi bút phóng khoáng của tác giả, sông Hương vùng thượng nguồn toát lên vẻ đẹp kì bí, hùng vĩ và đầy cá tính.

Tuy nhiên đây mới chỉ là ở thượng nguồn, cùng Hoàng Phủ Ngọc tường khám phá vẻ đẹp của dòng sông này khi chảy về thành phố Huế. Có lẽ người đọc sẽ bất ngờ với vẻ đẹp dịu dàng, mềm mại và uyển chuyển của nó. Tác giả đã ví sông Hương như “người tình dịu dàng và chung thủy của cố đô”. Không phải vô duyên vô cớ mà tác giả lại đi ví von so sánh đầy tính nghệ thuật như vậy.

Sông Hương khi chảy về thành phố có sức hấp dẫn tuyệt vời đối với người đọc. Ở đây chúng ta nhận ra một lối viết nhẹ nhàng, tinh tế, rất mực tài hoa của tác giả. Ông vẽ lên vẻ đẹp của sông hương không chỉ bằng ngôn ngữ mà còn bằng cả trái tim đầy tình yêu thương.

Giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại, sông Hương như “cô gái đẹp ngủ mơ màng” – một vẻ đẹp màu màu sắc của câu chuyện cổ tích tuyệt đẹp. Và sông hương bỗng “chuyển dòng liên tục” “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ”, “trôi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”. Một sự diễn tả quá trữ tình, quá độc đáo khiên ngưỡng đọc khó cưỡng lại được vẻ đẹp tuyệt vời này.

Sông hương vừa mềm mại, vừa dịu dàng “mềm như tấm lụa”, có khi ánh lên những phản quang nhiều màu sắc sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Sự chuyển đổi màu sắc theo mùa, theo thời gian như thế này đã làm nên một nét đặc trưng cho những ai muốn ngắm nhìn sông hương thật lâu.

Hoàng Phủ Ngọc Tường tả sông hương như vẽ, vẽ lên một bức tranh hoàn mĩ và tuyệt vời nhất về dòng sông huyền thoại này. Sông Hương tạo nên nét đẹp của đất cố đô Huế, ẩn mình trong trầm tích của nét văn hóa hàng nghìn năm lịch sử.

Thú vị nhất là đoạn sông hương chảy trong lòng Huế, tác giả cứ ngỡ rằng sông Hương tìm thấy chính mình khi gặp thành phố thân yêu nên tươi vui hẳn lên.

Vẻ đẹp của dòng sông này được cảm nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhìn bằng con mắt của hội họa, sông Hương và những chi lưu của nó tạo những đường nét thật tinh tế làm nên vẻ đẹp cổ kính của cố đô; qua cách cảm nhận âm nhạc, sông hương như điệu slow chậm rãi sâu lắng, trữ tình…Một vẻ đẹp khiến người khác phải ngỡ ngàng và đắm say chẳng thể dứt ra.

Sông hương còn là chứng nhân lịch sử, là “người” chứng kiến sự đổi thay của cố đô Huế từng ngày. Trong sách Dư địa chí “dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của tổ quốc đại việt qua những thế kỉ trung đại, vẻ vang soi bóng kinh thành phú xuân của anh hùng nguyễn huệ…”

Có thể nói rằng để cảm nhận sông hương với nhiều góc độ, nhiều vẻ đẹp khác nhau, Hoàng Phủ Ngọc tường phải có trái tim nhạy cảm, yêu và thương tha thiết dòng sông thơ mộng này. Một lối viết giản dị, nhẹ nhàng nhưng đầy lôi cuốn đã khiến độc giả không thể để dứt mạch cảm xúc. Tác giả đã phát huy được đặc trưng của thể loại bút kì đầy sắc bén và tình cảm này.

“Ai đã đặt tên cho dòng sông này” thực sự là bài bút kí độc đáo. Sông hương hiện lên với tất cả vẻ đẹp mà nó mang.

Tham khảo văn mẫu 🌼 Tóm Tắt Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông ❤️️ 14 Bài Hay Nhất

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. Một trong những tác phẩm đặc sắc của ông phải kể đến “Ai đã đặt tên cho dòng sông”. Nổi bật trong tác phẩm là hình tượng dòng sông Hương, đặc biệt nhất là khi ở thượng nguồn.

Con sông Hương ở thượng nguồn được Hoàng Phủ Ngọc Tường khắc họa với hai nét đẹp: mãnh liệt hoang dại nhưng cũng đầy dịu dàng và say đắm. Hành trình của Hương giang cũng giống như mọi con sông khác – bắt đầu từ thượng nguồn – nơi mà trong cảm nhận của nhà văn, giống như “bản trường ca của rừng già”.

Quả là như vậy, con sông ở đây đã gắn liền với dãy núi Trường Sơn hùng vĩ. Nó mang trong mình vẻ đẹp mạnh mẽ với sức mạnh nguyên sơ bản năng: “rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”.

Phép tu từ so sánh kết hợp với động từ mạnh và lối điệp cấu trúc đã khiến con sông hiện lên giống như một bản nhạc giàu cung bậc của thiên nhiên. Nhưng bản trường ca ấy không chỉ hào hùng, mà vẫn mang nét trữ tình sâu lắng. Sau những “rầm rộ”, “cuộn xoáy”, con sống đã dần trở nên “dịu dàng” hơn, đằm thắm hơn để rồi có thể làm “say đắm” bất cứ chàng trai nào khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó “giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”.

Đặc sắc nhất đó là vẻ đẹp nguyên sơ, hoang dã của rừng già đã đem đến cho nó một vẻ đẹp mà trong suy cảm của nhà văn giống như một “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Chúng ta đã biết đến những cô gái Di-gan là những người thích sống lang thang, tự do và yêu ca hát. Họ là những người thiếu nữ có vẻ đẹp man dại đầy quyến rũ.

Khi so sánh con sông với những cô gái Di-gan, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc vào tâm trí người đọc một ấn tượng mạnh về vẻ đẹp hoang dại nhưng cũng rất thiếu nữ, rất tình tứ của con sông. Một vẻ đẹp tự do, phóng khoáng và đầy hấp dẫn.

Nhà văn muốn đem đến cho bạn đọc một cái nhìn sâu hơn, muốn “ghi công” sông Hương như một “đấng sáng tạo” đã góp phần tạo nên, gìn giữ và bảo tồn văn hóa của một vùng thiên nhiên xứ sở. Nếu như bấy lâu nay, chúng ta mới chỉ nhìn sông Hương ở vẻ đẹp bên ngoài.

Nhưng lại quên mất đi nó còn là nơi khởi nguồn, một sự bắt đầu của một không gian văn hóa – văn hóa Huế. Dòng sông “trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở” có nghĩa là nó duy trì và bồi đắp “phù sa” cho cả một vùng văn hóa được hình thành hai bên bờ sông.

Vậy nhưng “dòng sông hình như không muốn bộc lộ” cái công lao to lớn ấy. Nó đã âm thầm chảy và đã lặng lẽ cống hiến cho Huế nhiều thế kỷ: “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”.

Khi đọc câu văn, người đọc mới thấy hết được nét độc đáo trong ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhà văn đã cho thấy chiều sâu vẻ đẹp và “nhân cách” của dòng sông, là nét “tính cách” đáng trân trọng của Hương giang mà Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn khắc họa.

Như vậy, con sông Hương ở thượng nguồn được nhà văn khắc họa thật độc đáo. Bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” đã giúp người đọc hiểu hơn về nét đẹp của sông Hương – một biểu tượng của thành phố Huế.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Ở ngoại vi thành phố Huế, sông Hương giống như người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa cúc dại được người tình mong đợi đến đánh thức. Từ đây thủy trình của sông Hương khi nó bắt đầu về xuôi tựa như một cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của một người con gái đẹp trong câu chuyện tình yêu lãng mạn nhuốm màu cổ tích.

Dưới ngòi bút tài hoa của tác giả, sông Hương như người con gái đẹp bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài. Nó thể hiện một vóc dáng mới, sức sống mới, đầy khát khao và lãng mạn “Sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm”. Hành trình đến với người tình mong đợi của người giá đẹp khá gian truân và nhiều thử thách.

Nhưng trong quá trình ấy sông Hương lại như có cơ hội phô khoe tất cả vẻ đẹp của mình – vẻ đẹp gợi cảm với những đường cong tuyệt mĩ của người gái đẹp ra từ cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại “qua điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển sang hướng Tây Bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía Đông Bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ xuôi dần về Huế.

Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”. Bằng lối hành văn uyển chuyển, ngôn ngữ đa dạng và giàu hình ảnh, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã diễn tả một cách sinh động và hấp dẫn những khúc quanh, ngã rẽ của con sông.

Tác giả đã vẽ lên bằng chất liệu ngôn từ cái dáng điệu yêu kiều và rất tạo hình của sông Hương khi nó ở ngoại vi thành phố Huế. Ông không chỉ tái hiện lại một cách chân thực dòng chảy tự nhiên của con sông mà quan trọng hơn là biến cái thủy trình ấy thành “hành trình đi tìm người yêu” của một người con gái đẹp, duyên dáng và tình tứ.

Đón đọc 🌼 Thuyết Minh Về Sông Hương ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Sông Hương Ở Đồng Bằng, đây là một đoạn tuyệt bút của nhà văn khi mà ông nhận ra sông Hương có sự thay đổi về tính cách.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều hình vực. Ông chuyên về thể loại bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức sâu rộng về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lí, lối hành văn hướng nội súc tích, mê đắm và tài hoa. Ai đã đặt tên cho dòng sông? là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế 1981, in trong tập sách cùng tên của ông.

Tác phẩm đã miêu tả cảnh quan thiên nhiên sông Hương, sự gắn bó của con sông với lịch sử và văn hoá của xứ Huế, của đất nước. Qua đó nhà văn bộc lộ niềm tự hào tha thiết, sâu lắng dành cho dòng sông Hương, cho xứ Huế thân yêu và cũng là cho đất nước.

Đoạn tả sông Hương chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố bộc lộ nét lịch lãm và tài hoa trong lối hành văn của tác giả. Độc giả khó cưỡng một sức hấp dẫn toát lên từ hàng loạt động từ diễn tả cái dòng chảy sống động qua những địa danh khác nhau của xứ Huế.

Giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại, sông Hương là “cô gái đẹp ngủ mơ màng”; nhưng ngay sau khi ra khỏi vùng núi, thì cũng như nàng tiên được đánh thức, sông Hương bỗng bừng lên sức trẻ và niềm khao khát của tuổi thanh xuân trong sự “chuyển dòng liên tục”, “rồi vòng những khúc quanh đột ngột”, vẽ một hình cung thật tròn, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, rồi “vượt qua”, “đi giữa âm vang”, “trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”…

Vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng, sông Hương có lúc “mềm như tấm lụa” khi qua Vọng Cảnh. Tam Thai, Lựu Bảo; có khi ánh lên “những phản quang nhiều màu sắc sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” lúc qua những dãy đồi núi phía tây nam thành phố và mang vẻ đẹp trầm mặc khi qua bao lăng tẩm, đền đài mang niềm kiêu hãnh âm u được phong kín trong những rừng thông u tịch cho đến lúc bừng sáng, tươi tắn và trẻ trung khi gặp “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”…

Hai bút pháp kể và tả được kết hợp nhuần nhuyễn và tài hoa trong đoạn văn đã làm nổi bật một sông Hương đẹp bởi phối cảnh kì thú giữa nó với thiên nhiên xứ Huế phong phú mà hài hoà.

Sông Hương là người tình dịu dàng và chung thuỷ. Điều này được diễn tả trong một phát hiện thú vị của tác giả: “Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ.

Trích đoạn bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông đã gợi ra vẻ đẹp của Huế, của tâm hốn người Huế qua sự quan sát sắc sảo của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng sông Hương. Ông xứng đáng là một thi sĩ của thiên nhiên, một cuốn từ điển sống về Huế, một cây bút giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Bài kí góp phần bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào đối với dòng sông và cũng là với quê hương đất nước.

Chia sẻ đến bạn đọc bài mẫu Phân Tích Sông Hương Ở Thành Phố để các em có thể học hỏi và trau dồi thêm cho mình nhiều ý văn hay.

Điểm nhìn của tác giả đối với sông Hương kéo dài theo suốt cuộc hành trình của con sông. Sau cái khởi nguồn ở vùng thượng lưu, sông Hương tiếp tục hành trình cam go, vất vả của mình để đến với Huế. Trước khi chảy vào lòng thành phố thân thương, nó cũng đã kịp để lại những dấu ấn riêng của mình.

Trong cái nhìn tình tứ và lãng mạn của tác giả, toàn bộ cuộc hành trình của dòng sông từ thượng nguồn về tới Huế giống như một cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của một cô gái đẹp trong câu chuyện cổ tích lãng mạn về tình yêu. Trong tình yêu với Huế, người tình sông Hương hiện lên với những vẻ đẹp như thế nào?

Khi chảy vào Huế, sông Hương mang một vẻ đẹp trầm mặc như triết lí, như cổ thi. Đi giữa thiên nhiên, sông Hương cũng chuyển mình ngày đêm bên những lăng tẩm, thành quách của vua chúa thời Nguyễn. Con sông hiền hòa ở ngoại vi thành phố Huế như đang nép mình bên “giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch”.

Chảy bên những di sản văn hóa ấy, con sông như bỗng trở nên nghiêm trang hơn, nó như khoác lên mình tấm áo “trầm mặc” mang cái “triết lí cổ thi” của cổ nhân. Dòng sông hay chính là dòng chảy của lịch sử vẫn bền bỉ chảy qua năm tháng và đang vọng về trong ngày hôm nay. Sắp đến thành phố mến thương, mặt nước sông Hương trở nên mơ màng, phẳng lặng trong tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, giữa bạt ngàn tiếng gà của những xóm làng.

Vượt qua muôn vàn khó khăn, cuối cùng sông Hương cũng đến nơi mà nó cần đến, cũng gặp được “thành phố tương lai” mà nó mong đợi, có lẽ vì thế mà con sông “tươi vui hẳn lên”. Sông Hương cập bến thành phố thân yêu giữa những “thuyền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long” để rồi “giáp mặt thành phố ở cồn Giã Viên”.

Đến đây, con sông giống như một cô gái đẹp e lệ, dịu dàng nghiêng mình chào Huế “…sông Hương đã uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến”, “như một tiếng vang không nói ra của tình yêu”. Giống như sông Xen ở Pari, sông Đa- nuýp ở Bu- đa- pét, “sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình”.

Sông Hương trong lòng thành phố Huế còn như “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”. Miêu tả dòng sông giữa lòng thành phố, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chọn kênh tiếp cận là âm nhạc. Trong tiếng Anh, “slow” nghĩa là chậm và sông Hương như một giai điệu trữ tình chậm rãi chỉ dành riêng cho Huế mà thôi.

Có thể thấy, nhà văn đã tinh tế khi nhìn ra một đặc trưng của Hương giang. So với các dòng sông khác ở Việt Nam và thế giới, lưu tốc của sông Hương không nhanh. Điều này đã được nhà văn lý giải từ đặc điểm địa lý : “những chi lưu ấy cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm, thực chậm cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”.

Để làm nổi bật hơn cái đặc trưng này, nhà văn đã liên tưởng, so sánh sông Hương với sông Nêva – con sông chảy băng băng lướt qua trước cung điện Petecbua cũ để ra bể Ban-tích. Lưu tốc của con sông này nhanh đến mức “không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo”.

Mượn câu nói của Hêraclít – nhà triết học Hy Lạp, trong một cách nói thật hình ảnh “khóc suốt đời vì những dòng sông trôi quá nhanh”, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem đến một kiến giải khác, hết sức thú vị và độc đáo về lưu tốc của dòng sông mà ông yêu quý. Đó là cách lý giải từ trái tim: sông Hương chảy chậm, điệu chảy lững lờ là vì nó quá yêu thành phố của mình, nó muốn được nhìn ngắm nhiều hơn nữa thành phố thân thương trước khi phải rời xa.

Viết về sông Hương giữa lòng thành phố, Hoàng Phủ Ngọc Tường không quên một nét đẹp văn hoá đặc trưng gắn liền với dòng sông thơ mộng này. Đó là những đêm trình diễn âm nhạc cổ điển Huế trên dòng sông Hương. Ở góc nhìn âm nhạc này, tác giả gọi sông Hương là “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”.

Qua những cảm nhận về vẻ đẹp của dòng sông Hương khi chảy vào thành phố Huế, có thể nhận thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tiếp cận và miêu tả dòng sông từ nhiều không gian, thời gian khác nhau. Ở mỗi điểm nhìn, mỗi góc độ, nhà văn đều thể hiện một cảm nghĩ sâu sắc và khá mới mẻ về con sông đã trở thành biểu tượng của xứ Huế.

Từ trong những cái nhìn ấy và qua giọng điệu của các đoạn văn, ta thấy bàng bạc một tình cảm yêu mến, gắn bó tha thiết, một niềm tự hào và một thái độ trân trọng, gìn giữ của nhà văn đối với những vẻ đẹp tự nhiên và đậm màu sắc văn hóa của dòng sông quê hương.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Phân Tích Đất Nước Nguyễn Đình Thi 🍀 12 Bài Mẫu Hay

Mẫu Phân Tích Sông Hương Trong Lòng Thành Phố là tài liệu tham khảo hữu ích để chuẩn bị tốt cho kì thi của mình.

Cuối cùng sông Hương đã đến được với thành phố của mình, con sông mang một vẻ đẹp độc. Sông Hương như một điệu slow tình cảm của Huế. Lưu tốc của con sông khác hẳn với dòng sông khác. Phải chăng vì quá yêu thành phố của mình, con sông Hương muốn nhìn ngắm thành phố của mình lâu hơn trước khi rời xa nó.

Đó là tình cảm của dòng sông hương với Huế hay chính là tình cảm đặc biệt mà Hoàng Phủ Ngọc Tường dành cho sông Hương và xứ Huế. Sông Hương như người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya.

Viết về sông Hương giữa lòng thành phố Huế tác giả không quên những nét đẹp văn hóa gắn liền với dòng sông thơ mộng. Ở góc độ âm nhạc tác giả gọi sông Hương là người tài nữ đánh đàn. Sông Hương được ví như người tình dịu dàng và thủy chung. Ngòi bút của tác giả đã thực sự thăng hoa khi vẽ nên những hình ảnh đầy ấn tượng, những cảm nhận tinh tế, những liên tưởng, so sánh đẹp đến bất ngờ, lí thú, thể hiện tình yêu say đắm với con sông.

Đó là những nét bút thật “dịu dàng, tình tứ, đắm đuối”: “chiếc cầu trắng ở thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như một vầng trăng non”, sông Hương “uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến”, đường cung ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.

“Nghìn cánh hoa đăng bồng bềnh” làm dòng sông thêm lộng lẫy, con sông ngập ngừng như có “những vấn vương của một nỗi lòng, không nỡ rời xa thành phố…”. Quả đúng như câu thơ Thu Bồn: “Con sông dùng dằng, con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”.

Xem nhiều hơn 🌹Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà ❤️️ 19 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài mẫu Phân Tích Hình Tượng Sông Hương Ngắn Nhất giúp các em học sinh có thể trau dồi thêm cho mình những ý văn đa dạng và phong phú.

Có ai về xứ Huế mộng mơ mà không một lần ngắm nhìn dòng sông Hương huyền diệu. Con sông đã làm nên nét đặc trưng của xứ Huế. Bởi vậy mà, nó đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho nghệ thuật trong đó có văn chương. Và một trong những tác phẩm nổi tiếng về sông Hương chính là tùy bút “ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nổi bật của tác phẩm này là hình tượng sông Hương đẹp, đầy màu sắc.

Trước hết, sông Hương là “bản trường ca của rừng già”. Sông Hương gắn liền với đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ. Con sông toát lên vẻ đẹp của sức sống mãnh liệt vừa hùng tráng trữ tình như bản trường ca bất tận của thiên nhiên: “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”.

Câu văn dài gợi dậy cái dư vang của trường ca. “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Digan phóng khoáng man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. Đây là một liên tưởng thú vị độc đáo. Bằng việc ví sông Hương với cô gái Digan, tác giả đã khắc sâu vào tâm trí người đọc một ấn tượng mạnh mẽ. Sông Hương hiện lên như một con người có cá tính, có tâm hồn với vẻ đẹp hoang dại đầy tình tứ.

Khi ra khỏi rừng, “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”. Cách gọi này giúp người đọc có thêm một cách nhìn, một sự hiểu biết về vẻ đẹp hùng vĩ đầy chất thơ. Sông Hương còn là một đấng sáng tạo. Nó đã tạo nên, gìn giữ và bảo tồn văn hóa của một vùng xứ sở.

Nhà văn tiếp tục hình dung sông Hương như “người gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” được người tình mong đợi đến đánh thức. Từ đây, thủy trình của sông Hương khi nó bắt đầu về xuôi như một cuộc tìm kiếm có ý thức. Người tình nhân đích thực của một người con gái đẹp trong câu truyện tình yêu nhuốm màu cổ tích.

Thủy trình của sông Hương được miêu tả với sức sống mới, vóc dáng mới. Dòng sông chuyển dòng một cách kiên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột uốn mình qua những đường cong thật mềm. Hành trình khá gian truân, vượt qua nhiều thử thách: “từ ngã ba tuần sông Hương theo hướng Nam Bắc qua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản.

Nó chuyển hướng sang Tây Bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. Những câu văn miêu tả dòng chảy địa lý tự nhiên của dòng sông, biến dòng chảy ấy trở thành một hành trình của người con gái đẹp duyên dáng.

Vào giữa lòng thành phố, sông Hương “vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc”. “Sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quí của mình”. Sông Hương phẳng lặng đã khiến cho cảnh vật phố Huế trở nên mộng mị, ảo diệu, nhẹ nhàng. Sông Hương như “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”.

Sông Hương như một giai điệu chậm rãi khiến cho mọi cảnh vật, mọi thứ xô bồ như một phút lặng. Sông Hương còn được ví với “tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”. Tác giả đã gợi đến một nét đẹp văn hóa của Huế gắn với dòng sông thơ mộng: nhã nhạc cung đình Huế. Nhã nhạc phải được biểu diễn trên sông vào đêm khuya mới cảm nhận hết được vẻ đẹp âm nhạc và màu sắc văn hóa đặc trưng ở nơi đây.

Khi rời khỏi thành phố, sông Hương như một “người tình thủy chung”. Khúc ngoặt về hướng Đông của dòng sông trong con mắt của người nghệ sĩ là biểu hiện của nỗi vấn vương, cả một chút lẳng lơ kín đáo. Nhà văn hình dung sông Hương như nàng Kiều trở lại gặp Kim Trọng để nói lời thề trước khi đi xa.

Dòng sông Hương là dòng sông của lịch sử, của thi ca. Trong lịch sử, sông Hương mang vẻ đẹp của một bản anh hùng ca, ghi dấu bao chiến công oanh liệt của dân tộc. Từ dòng sông biên thùy của các vua Hùng, đến bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc Đại Việt thời trung đại.

Thế kỉ mười tám nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ mười chín với máu của các cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám của những chiến công rung chuyển. Không chỉ lịch sử mà còn là thi ca. Dòng sông không bao giờ tự lặp lại mình. Nó luôn mang vẻ đẹp mới. Nó có khả năng khơi nguồn cảm hứng mới cho các nhà văn nghệ sĩ. Một cảm hứng vô tận, nhiều sắc màu.

Hình tượng sông Hương hiện lên trong tác phẩm càng khiến cho bạn đọc yêu thêm dòng sông và muốn được đến thăm thú, nhìn ngắm vẻ đẹp của dòng sông. Đó chính là thành công của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Đừng bỏ qua 🔥Phân Tích Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà ❤️️ 17 Mẫu Hay

Phân Tích Hình Ảnh Con Sông Hương Ở Thượng Nguồn, tham khảo bài mẫu sau đây sẽ giúp các em có thể tìm hiểu thêm được vẻ đẹp của sông Hương.

Trong đất nước Việt Nam tươi đẹp, chúng ta ấn tượng nhất điều gì? Có bạn cho rằng, đó là lịch sử dân tộc? Có bạn lại nghĩ, đó là truyền thống văn hóa lâu đời. Ý kiến nào cũng đúng, cũng hay, nhưng có một ý kiến nữa cho rằng, đó là vẻ đẹp của quê hương. Trong đó, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc tường đã tài năng ghi lại vẻ đẹp của sông Hương, lại đặc tả cho ta sông hương ở thượng nguồn. Vẻ đẹp tuyệt đẹp và thơ mộng ấy đã khắc ghi trong lòng ta không bao giờ quên.

Vì đặc tính của thế kỉ, đó cũng là một trong những cơ may với ngòi bút tài hoa của ông. Nhờ đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường có thể phô bày hết mọi giác quan cảm xúc, phô diễn những câu chữ điêu luyện lên trang giấy để cho ta thấy một vẻ đẹp bất tận của sông Hương. Có lẽ vì đặc trưng ấy, nên sông Hương trong lòng ta rất phóng khoáng, điêu luyện, nhẹ nhàng mà mềm mại.

Với một tấm lòng yêu Huế, yêu cảnh quan quê hương ta, yêu từng cảnh sắc thiên nhiên, nên Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ghi lại một bài ký thật đẹp, có âm hưởng rất riêng.

Và cái nhìn đầu tiên, chắc chắn là cái nhìn ở thượng nguồn. Nơi thượng nguồn sông Hương khác hẳn khi đến với xứ Huế. Nơi đây ta như cảm nhận thấy một vẻ đẹp của dòng sông như một sự tự do mãnh liệt.

Vẻ đẹp lúc này của dòng sông khiến tác giả liên tưởng đến hình ảnh của một người con gái – những cô gái di gan. Đó là những cô gái được biết đến với những hình ảnh quen thuộc, về sự phóng khoáng, tự do và những sự man dại của một tâm hồn đầy sức sống và mãnh liệt.

Qua ngòi bút của tác giả, sông hương được miêu tả với những gì thực là kỳ vĩ và tuyệt vời nhất: “sông Hương tựa như một bản trường ca của rừng già, khi rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, lúc mãnh liệt vượt qua nhiều ghềnh thác, khi cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu, lúc dịu dàng say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu hoa đỗ quyên rừng”.

Vậy đấy, sông Hương là vậy, thực là một hình ảnh cực kì hùng vĩ, mạnh mẽ, được sinh ra và nuôi lớn ở núi rừng, nên sông Hương mang một bản tính tự do và mãnh liệt như vậy. Chỉ với một vài chi tiết, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã diễn tả trọn vẹn nét đặc trưng của sông Hương khi ở thượng nguồn. Thật độc đáo làm sao, sông Hương trong lòng tác giả tựa như một cô gái di gan man dại. Có lẽ đây chính là phép nhân hóa đầy ẩn ý, qua đó gợi nên được nét hoang sơ, hấp dẫn của con sông này.

Qua ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông hương thực đã sống trong lòng bạn đọc. Toát lên được nét cá tính và vẻ đẹp kì bí, hùng vĩ làm sao. Cảm ơn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp lên một vẻ đẹp nữa của quê hương ,khiến ta càng thêm tự hào về đất nước mình.

SCR.VN chia sẻ🌿Phân Tích Bài Thơ Bác Ơi Tố Hữu ❤️️ 13 Bài Văn Mẫu Hay

Bài mẫu Phân Tích Hình Ảnh Con Sông Hương Hay Nhất được chúng tôi chọn lọc và chia sẻ rộng rãi đến các bạn đọc sau đây.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn nặng lòng với xứ Huế mộng mơ, với dòng sông Hương hiền hòa chảy. Có lẽ ông có duyên với mảnh đất và con người nơi đây nên những gì ông viết thường rất bình dị, mộc mạc nhưng lãng mạn và trữ tình. Bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông này” được xem là thành công của Hoàng Phủ Ngọc Tường khi khắc họa rõ ràng từng đường nét và vẻ đẹp đa chiều của dòng sông Hương. Một vẻ đẹp trầm lắng, dịu dàng, nên thơ và rất mực cổ kính.

“Ai đã đặt tên cho dòng sông này” được viết theo thể kí, một thể loại có thể ghi chép lại cảm xúc, tâm tư tình cảm, những dòng cảm xúc bất chợt, suy nghĩ bất chợt một cách sâu sắc nhất. Có lẽ chính thể loại này đã khiến cho bài kí đi vào lòng người đọc một cách chân thành như vậy. Vẻ đẹp của dòng sông Hương theo ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện lên một cách đầy ấn tượng, một vẻ đẹp khiến cho người đọc ngỡ ngàng, sửng sốt.

Sông Hương là dòng sông “duy nhất” chảy qua lòng thành phố Huế nên nó mang những nét đẹp riêng mà không có dòng sông nào có được. Hình như Hoàng Phủ Ngọc Tường rất tự hào vì điều này, tự hào với một tình yêu sông Hương đến mê đắm.

Vẻ đẹp dòng sông Hương ẩn hiện dưới ngòi bút tinh tế và một tình yêu tha thiết đã khiến cho nó càng trở nên mê đắm đối với người đọc. Sông Hương được nhìn từ nhiều góc độ, từ nhiều khía cạnh, từ chiều dài của thời gian và chiều sâu của không gian. Nhưng dù ở góc độ nào thì sông Hương vẫn mang một nét đẹp riêng rất Huế.

Ở vùng thượng nguồn, sông Hương mang một vẻ đẹp không nơi nào có được. Đó là hình ảnh “một cô gái di gan phóng khoáng và man dại” có tâm hồn ‘tự do và trong sáng”. Vẻ đẹp ấy được ngôn ngữ của tác giả ưu ái đã khiến nó đi vào lòng người đọc một cách chân thực nhất. Hoàng Phủ Ngọc Tường còn vẽ lên từng đường nét đầy mê hoặc, sông Hương như “bản trường ca của rừng già” rầm rộ và mãnh liệt nhưng có lúc lại “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi của màu đỏ hoa đỗ quyên rừng”.

Chỉ một màu hoa đỏ hoang dại, đơn sơ giữa núi rừng ấy đã phần nào làm toát lên vẻ đẹp bình dị nhưng đầy sức ám ảnh của dòng sông hương. Như vậy vẻ đẹp của sông hương ở vùng thượng nguồn là vẻ đẹp mê đắm, hoang dại và không kém phần tinh tế. Có lẽ đây là nét đặc trưng của sông Hương , của Huế.

Và sông Hương được biết đến là dòng sông thuộc về một thành phố duy nhất, chỉ đến với Huế và thuộc về Huế, như một mối duyên ngầm có từ lâu đời. Vẻ đẹp sông Hương là vẻ đẹp vang bóng một nền văn hóa trầm tích, nhiều thăng trầm, nhưng không kém phần dịu dàng và quyến rũ. Hoàng Phủ Ngọc Tường liên tưởng đến sông Hương như “người con gái dịu dàng, đằm thắm, mềm mại trong lòng huế”. Thật tài tình và thật lãng mạn biết bao nhiêu dòng sông của Huế mộng mơ.

Khi sông hương rời thượng nguồn về với thành phố xinh đẹp thì nó trở nên lãng mạn và đắm say. “Cô gái digan” ấy đã “vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản, để sắc nước trở nên xanh thẳm, trầm mặc như triết lí, như cfoor thi…cho đến khi gặp được tiếng chuông Thiên Mụ, nghe âm thanh bát ngát tiếng gà, từ ấy sông Hương rạng rỡ như nắng mới, nàng muốn một cánh cung thật nhẹ, đến khi giáp mặt với thành phố, đường cong ấy làm cho nàng mềm hẳn đi, như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”.

Một đoạn văn nhẹ nhàng và không kém phần tình tứ, đầy duyên dáng của Hoàng Phủ Ngọc Tường khi miêu tả vẻ đẹp sông Hương lúc về thành phố. Từng đường nét mềm mại, đầy mê hoặc của sông Hương thực sự khiến người đọc ngỡ ngàng. Với lối viết gần gũi nhưng chân thành, tác giả đã mon men đi sâu vào tâm hồn người đọc những cảm xúc trong trẻo, chân thành nhất.

Sông hương như một “nàng thơ’ đắm mình trong thành phố, và đắm mình trong những trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sông hương còn là dòng sông chứng kiến biết bao đổi thay của Huế, của những thăng trầm lịch sử “vẻ vang soi bóng kinh thành phú xuân”, “dòng sông của thời gian ngân vang, của lịch sử viết giữa màu cỏ xanh, lá biếc…”. Như vậy, sông Hương không chỉ tồn tại như vậy, nó còn là nhân chứng của lịch sử đất nước, của những tháng năm không thể nào quên đi.

Từ một dòng sông hoang dại, phóng khoáng, sông Hương đã trở nên dịu dàng, tài hoa và đầy ý chí kiên cường. Có lẽ đối với Hoàng Phủ Ngọc tường nói chung, với nhân dân Huế nói chung thì sông Hương chính là một biểu tượng đẹp đẽ nhất tạo nên vẻ đẹp Huế suốt mấy nghìn năm lịch sử.

Bằng ngòi bút tinh tế, cảm xúc chân thành và một tấm lòng yêu thương của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vẽ nên một bức tranh tuyệt đẹp về sông Hương. Một vẻ đẹp rất riêng, rất dịu dàng, rất huế khiến người đọc muốn một lần đến đó tận hưởng.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Phân Tích Tuyên Ngôn Độc Lập 🍀 14 Bài Hay Nhất

Nếu người Hà Nội tự hào có con sông Hồng đỏ nặng phù sa, người Huế cũng tự hào khi có dòng sông Hương thơ mộng chảy qua thành phố Huế cổ kính với những lăng tẩm, đền đài. Con sông ấy đã chứng kiến bao đổi thay của lịch sử, sự thăng trầm của cuộc sống. Dòng nước của con sông Hương ấy đã tươi mát cho cảnh vật cũng như con người nơi xứ Huế này.

Vì thế, người Huế rất tự hào về con sông ấy nó mang đặc trưng của Huế là niềm tự hào kiêu hãnh của những con người xứ Huế. Có lẽ cũng vì điều đó mà sông Hương cũng đã đi vào thơ ca, nhạc họa rất trữ tình và sâu lắng. Hoàng Phủ Ngọc Tường, một người con xứ Huế đã bao lần ngắm con sông Hương rồi một lần bất chợt một lần thắc mắc, ai đã đặt tên cho con sông này là sông Hương nhỉ?

Nỗi băn khoăn ấy được ông thế hiện trong tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông. Bằng ngòi bút trữ tình sâu lắng, thể hiện rõ phong cách thể loại Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tác phẩm thể hiện sự uyên bác tài hoa của chủ thể sáng tạo trong cái nhìn liên tưởng cùng với những triết luận sâu sắc về quan hệ giữa dòng sông và lịch sử, dòng sông với thi ca nhạc họa, dòng sông và người xứ Huế.

Đoạn nói về sông Hương rời khỏi kinh thành ra đi được Hoàng Phủ Ngọc Tường diễn tả bằng một ngòi bút nghệ thuật rất đỗi hào hoa phong tình. Ông đã nhân hóa sông Hương thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya, họ biết nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước Hương Giang: “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”.

Ông cho hay, thi hào Nguyễn Du đã từng ôm ấp một phiến trăng sầu trong bao năm lênh đênh trên dòng sông Hương. Một nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ đã chỉ đích danh hai câu thơ Trong như tiếng hạc bay qua – Đục như tiếng suối mới sa nửa vời mang điệu nhạc cung đình Tứ đại cảnh.

Hương rời khỏi kinh thành lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ, rồi nó lại đổi dòng đột ngột gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bảo Vinh xưa cổ như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, phải chăng khúc lượn này, sông Hương có cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống con người. Tác giả cho rằng đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yẽu.

Đến với Huế mộng mơ là đến với sông Hương, đến với tiếng chuông chùa Thiên Mụ đến với tiếng gà Bao Vinh, là đến với lăng tẩm đế vương, đến với con người thủy chung trọn tình trọn nghĩa, là đến với lời ca điệu hò gian dịu ngọt.

Tác giả bài tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông? đã nói hộ lòng ta những tình cảm sâu sắc tốt đẹp ấy. Bài tùy bút đã thể hiện một bút pháp nghệ thuật độc đáo, tài hoa và phong tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tác giả đã tạo nên chất thơ quyến rũ làm say lòng người. Những tri thức về địa lí, văn hóa, thi ca, âm nhạc cùa ông đã chung đúc thành trang văn tuyệt bút.

Dưới ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương hiện lên vô cùng đẹp đẽ, hòa quyện nhiều nét đẹp khác nhau, khi mạnh mẽ , dữ dỗi khi lại rất đỗi thâm trầm kín đáo. Vẻ đẹp của sông Hương cũng chính là vẻ đẹp của con người nơi đây. Qua bài kí này, tác giả cũng thể hiện tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng.

Tiếp tục tham khảo 💧 Phân Tích Tiếng Hát Con Tàu Chế Lan Viên 💧 11 Bài Mẫu Hay

Phân Tích Sông Hương Dòng Sông Lịch Sử, một nhân chứng lịch sử trải qua nhiều thế hệ.

“Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ, tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt, Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được…” Huế là nơi con người và thiên nhiên hòa quyện với nhau là một, nếu đã đến Huế chắc hẳn mỗi chúng ta sẽ cảm nhận được điều này. Và có ai về xứ Huế mộng mơ mà không một lần ngắm nhìn sông Hương xuôi dòng. Con sông đã làm nên nét đặc trưng của xứ Huế.

Chính vì thế mà từ bao giờ nó đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung. Một trong những tác phẩm nổi tiếng về sông Hương chính là tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ngoài vẻ đẹp thơ mộng, dịu dàng mà nó mang trong mình thì đây còn là một dòng sông gắn với lịch sử đất nước và văn hóa xứ Huế nói riêng.

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại Huế. Quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, song gần như suốt cuộc đời, ông gắn bó với xứ Huế yêu thương.

Trong mối quan hệ với lịch sử đất nước, sông Hương là dòng “sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc” theo dòng thời gian sông Hương là chứng nhân lịch sử, nhà văn đã đưa người đọc trở về với quá khứ gian truân mà hào hùng của đất nước để cảm nhận được hết nét đẹp này của sông Hương. Nó chính là một ải Chi Lăng ở phía Nam Tổ quốc đã bao lần làm quân thù khiếp sợ. Châu Hóa giữ vị trí chiến lược trong việc trấn giữ biên cương của Tổ quốc Đại Việt.

Lịch sử đã gọi nó là Vạn Lí Trường Thành của Phương Nam. Trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, sông Hương là dòng Linh Giang âm vang lịch sử, là dòng sông biên thùy từng chiến đấu oanh liệt để bảo vệ biên giới của Tổ quốc. Thế kỉ XVIII nó soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ.

Nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa. Thế kỉ XX, sông Hương đi vào Cách mạng tháng tám bằng những chiến công rung chuyển để rồi sau đó nó tiếp tục có mặt trong những năm tháng bi hùng nhất của lịch sử đất nước với cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ ác liệt. Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua bao thăng trầm lịch sử.

Khi hòa bình lặp lại, sông Hương đã trở về cuộc sống đời thường khi đó nó là một người con gái dịu dàng của đất nước. Xuyên suốt trang văn của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phát hiện ra vẻ đẹp hùng tráng của dòng Hương Giang. Ông đã hiểu một cách thấu đáo, sông Hương từ cội nguồn của nó cho đến khi đổ ra biển Đông đều gắn với lịch sử dựng và giữ nước oai hùng của dân tộc.

Ai đã từng nghe ca Huế trên sông Hương mới có thể cảm nhận hết nét thơ mộng, lãng mạn của hồn điệu dân gian xứ Huế, trong trường liên tưởng của mình tác giả phát hiện ra mối quan hệ giữa những bản nhạc xưa của Huế với truyện Kiều của Nguyễn Du để thấy được sự giao thoa tương đồng giữa thơ và nhạc.

Vẻ đẹp của sông Hương không được tô đậm, nếu nhà văn quên đi một dòng sông thi ca. Dòng sông đã khơi nguồn cảm hứng cho biết bao nghệ sĩ và họ chưa bao giờ lặp lại mình. Khi nhìn vẻ đẹp của Hương Giang nó vẫn mãi mãi là nỗi hoài vọng về một cái đẹp nào đó chưa đạt tới, thi sĩ Tản Đà gọi dòng sông xanh biếc ấy là ” dòng sông trắng, lá cây xanh”.

Có người đã từng nói rằng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường rất uyên bác với vốn hiểu biết phong phú về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật xứ Huế. Đó là sự uyên bác của một nhà Huế học. Nhận xét đó rất đúng với nhà văn, ông đã mang đến cho người đọc những kiến thức rất mới mẽ, sâu sắc về văn học Huế.

Có lẽ vì yêu mến dòng sông Hương nên vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên ấy đã khơi gợi nguồn cảm hứng để những nghệ nhân xưa may trang phục truyền thống của cô dâu Huế theo đúng màu sương khói trên sông Hương. Họ kết hợp loại vải vằn thưa màu xanh chàm với màu đỏ để làm nên một màu tím nhân loại của xứ Huế. Sự phát hiện ấy cho thấy sự am tường về văn hóa Huế đồng thời lối viết rất độc đáo, sáng tạo, bày tỏ được cảm xúc mến thương dành cho sông Hương và xứ Huế.

Qua bài kí, ta có thể cảm nhận được tấm lòng của nhà văn dành cho thiên nhiên, cho đất Huế, sâu xa hơn là tấm lòng cho quê hương đất nước, thiết tha với những giá trị cổ xưa của dân tộc. Đó là những giá trị mà cuộc sống hôm nay vẫn cần đến. Dòng sông Hương không chỉ bồi đắp nên một nền văn hóa cố đô mà còn làm màu mỡ thêm cho cuộc sống của mỗi chúng ta hiện tại.

Có thể bạn sẽ thích 💧 Phân Tích Tây Tiến Đoàn Binh Không Mọc Tóc 💧 10 Bài Mẫu Hay

Tham khảo bài mẫu Phân Tích Vẻ Đẹp Sông Hương Trong Bài Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông giúp ích rất nhiều trong quá trình chuẩn bị tài liệu cho kì thi sắp tới.

Hoàng Phủ Ngọc Tường không phải là nhà văn gốc Huế, ông vốn gốc người Quảng Trị, nhưng từ khi sinh ra ông đã ở Huế và cho đến tận cuối đời ông vẫn gắn bó với đất Huế. Có lẽ cũng chính vì thế mà nhà văn có một tình yêu và sự nghiên cứu rất sâu sắc về văn hóa, lịch sử, địa lý của xứ Huế, là cơ sở vững chắc để viết được bài tùy bút này xuất sắc đến vậy.

Tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông được viết vào năm 1981, tại Huế, được in trong tập sách cùng tên, bài bút gồm có ba phần, đoạn trích chúng ta được học nằm ở phần mở đầu, chủ yếu nói về vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của dòng Hương giang lững lỡ giữa trời Huế mộng mơ.

Hoàng Phủ Ngọc Tường viết những trang bút ký này bằng tất cả tình yêu thương cùng cảm xúc dâng trào của mình trong nỗi niềm với Huế. Hình ảnh sông Hương hiện lên như hình ảnh một cô gái Huế xinh đẹp, diễm tình, mái tóc đen dài như suối, tính cách của cô gái mang đầy màu sắc mới mẻ, có cá tính lúc mạnh lúc dịu dàng uyển chuyển.

Mở đầu, dưới sự am tường sâu sắc về địa lý, tác giả đem đến cho người đọc người nghe cái vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên đa dạng phong phú cùng sức quyến rũ của dòng sông. Sông Hương được nhìn nhận trên vẻ đẹp cảnh quan địa lý của xứ Huế và ngược lại vẻ xinh đẹp của thiên nhiên hai bên bờ sông cũng được dòng sông nâng đỡ làm nổi bật hẳn, giữa chúng là sự tương hỗ, phụ trợ cho nhau tạo nên một vẻ đẹp rất Huế, rất thơ mộng.

Sông Hương chảy qua ba đoạn lớn, sông Hương chảy giữa lòng Trường Sơn, sông Hương chảy ở ngoại vi thành phố Huế, cuối cùng là sông Hương chảy qua thành phố, và chính lúc lúc này dòng Hương Giang đã in bóng cái vẻ đẹp tuyệt mỹ của kinh thành Phú Xuân.

Sông Hương trong không gian núi rừng Trường Sơn, in bóng những vẻ đẹp mà núi rừng Trường Sơn đã tạo nên, đã góp phần hình thành nên dòng sông xinh đẹp. Và để làm rõ điều này tác giả đã đưa vào bài bút ký ba hình ảnh so sánh và nhân hóa đặc biệt ấn tượng, “sông Hương như một bản trường ca của rừng già”, một hình ảnh so sánh hết sức độc đáo mới lạ, cho thấy cái cá tính của tác giả trong việc liên tưởng rất phong phú và mạnh mẽ đậm chất Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Sông Hương mang cái chất hào hùng, dài bất tận, nằm giữa lòng Trường Sơn với bộ mặt vừa hùng vĩ vừa hùng tráng, cũng rất đỗi trữ tình. Tất cả thể trong cái nhịp chảy của nó “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, “mãnh liệt qua những ghềnh thác”, “cuộn xoáy như những cơn lốc”, tác giả sử dụng những động từ mạnh để nhấn mạnh cái hùng tráng của dòng sông.

Nhưng không chỉ thế dòng sông cũng chẳng kém phần thơ mộng trữ tình khi chảy qua “những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng” và giữa cái cảnh sắc ấy dòng sông lại mang những phẩm chất khác hẳn “dịu dàng và say đắm”. Cả dòng sông tồn tại như một sinh thể mang những nét tính cách đối lập nhau nhưng vẫn rất hài hòa tạo nên một vẻ đẹp đa dạng phong phú, một sức sống mãnh liệt cho dòng Hương giang.

Việc Hoàng Phủ Ngọc Tường tìm đến được vùng thượng nguồn con sông, thể hiện cái sự kỳ công, lòng khám phá không ngừng, cái sự tinh tế trong cảm nhận của nhà văn, thể hiện được quá trình lao động nghệ thuật công phu và khó nhọc của tác giả.

Hành trình về xuôi, hành trình chảy ra cửa biển Thuận An của sông Hương giờ đây giống như một cuộc tìm kiếm có ý thức, tìm kiếm người tình trong mộng. Thế nên đoạn chảy này được tác so sánh như cuộc tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đầy đam mê. Đây là hành trình của những người yêu nhau tìm về với nhau, là hành trình của nàng công chúa đi tìm chàng hoàng tử trong mơ.

Dòng sông mang trong mình đầy đủ những sức sống mới những vóc dáng mới, chuyển dòng một cách liên tục, “vòng giữa những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm”. Tác giả ngắm nhìn dòng sông mà tưởng tượng đến “người gái đẹp” đang phô ra những đường cong quyến rũ đầy hấp dẫn của mình, đây là dòng liên tưởng đầy sáng tạo và mạnh mẽ của nhà văn.

Cuối cùng tác giả đem đến cảnh sông Hương nằm trong vòng tay của kinh thành Huế như người con gái đang e ấp trong vòng tay của người thương, và lúc chuẩn bị rời xa người yêu. Nhà văn thật tài tình khi sáng tác ra những hình ảnh độc đáo “chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như vành trăng non”, gợi ra một mối tình mới chớm của người con gái Huế.

Bằng óc sáng tạo, liên tưởng tài tình, sự quan sát tỉ mỉ, tinh thế, sự am hiểu tinh tường về các kiến thức xã hội, văn hóa của xứ Huế tác giả Hoàng phủ Ngọc Tường đã cho ra đời một tác phẩm bút ký thật đặc sắc, như họa vào lòng người đọc người nghe một bức tranh Huế và sông Hương tuyệt đẹp, vẻ đẹp vừa gần gũi, lại thiêng liêng, nhưng cũng rất dịu dàng e lệ.

Tất cả như hướng độc giả đến cái khao khát một lần được về thăm Huế, đứng trên cây cầy Tràng Tiền vắt ngang sông Hương mà chiêm ngưỡng dòng sông cho thỏa nỗi lòng.

Tiếp tục tham khảo 🌼 Phân Tích Đò Lèn Nguyễn Duy 🌼 8 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Hoàng Phủ Ngọc Tường được mệnh danh là ông hoàng của thể kí Việt Nam. Những trang kí mà đặc biệt là những trang tùy bút của ông thường đẹp ở lối miêu tả, sâu sắc ở cách cắt nghĩa, lí giải và mãnh liệt cảm xúc. Trong cách viết có sự kết hợp giữa đĩnh đạc, nghiêm cẩn với cái tinh tế, tài hoa, lãng mạn. Ai đã đặt tên cho dòng sông là kết tinh nghệ thuật của ông, tác phẩm đã miêu tả một cách tài hoa vẻ đẹp của dòng sông Hương thơ mộng.

Bằng cách tiếp cận địa văn hóa, tác giả đã phát hiện ra ở sông Hương vẻ đẹp đa chiều. Từ vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên, đến vẻ đẹp chiều sâu văn hóa, tâm hồn con người, từ vẻ đẹp của lịch sử oai hùng đến vẻ đẹp kì diệu, bay bổng lãng mạn trong trí tưởng tượng của tác giả.

Trên phương diện cảnh sắc thiên nhiên, sông Hương cho thấy vẻ đẹp phong phú, đa dạng của nó. Sông Hương khi hùng vĩ ở thượng nguồn, khi lại êm đềm, mơ mộng ở kinh thành Huế. Sông Hương ở thượng nguồn vô cùng dữ dội, mãnh liệt, được tác giả ví như một cô gái Di gan, man dại và phóng khoáng. Khi về đến kinh thành Huế, sông Hương lại mang một khuôn mặt khác hẳn, nếu như thượng nguồn cuộn xoáy, mãnh liệt thì tới đây lại dịu dàng, tha thướt, đầy chất mộng mơ đặc trưng của xứ Huế.

Dòng sông Hương, mềm hẳn đi khi bước chân vào kinh thành, những khúc uốn mình, những đường tròn của sông Hương bao quanh Huế đã khiến lòng sông thực sự mềm mại như một tấm lụa để ôm ấp lấy thành phố thân yêu của mình. Màu sắc của sông Hương thay đổi theo từng địa hình mà nó chảy qua: khi chảy qua lòng vực dưới chân núi Ngọc Tản, nước sông trở nên xanh thẳm, còn nhìn phản quang những màu sắc của ngọn đồi phía Tây Nam thành phố thì: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím.

Sự biến đổi đó cho thấy sông Hương như một tấm gương, đồng thời cũng cho thấy vẻ đẹp biến ảo của dòng sông. Không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp hình dạng, màu sắc, vẻ đẹp của sông Hương còn thể hiện qua sắc thái, với hai sắc thái chính là hung bạo và trữ tình.

Khi sông Hương sôi nổi, trẻ trung, chủ động, lúc lại trầm mặc, cổ kính như triết lí, như cổ thi. Vẻ đẹp của sông Hương hiện lên muôn hình muôn vẻ, đa dạng màu sắc. Trên phương diện cảnh sắc thiên nhiên dù ở thượng nguồn hay khi chảy trong lòng thành phố Huế, sông Hương đều chứng tỏ nó là sự sáng tạo hoàn mĩ của tạo hóa, một món quà vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng riêng cho đất Huế.

Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả vẻ đẹp của dòng sông trên phương diện tự nhiên, mà tác giả còn đi sâu khám phá vẻ đẹp trong chiều sâu văn hóa của nó. Trước hết sông Hương mang đặc điểm tâm hồn của con người xứ Huế. Bằng quá trình nghiên cứu, tìm hiểu vô cùng nghiêm túc tác giả đã nhận thấy một điều rất đặc biệt: “có một cái gì rất lạ với tự nhiên và giống với con người nơi đây”.

Sau vẻ đẹp sông Hương trên góc nhìn văn hóa, Hoàng Phủ Ngọc Tường tiếp tục nhìn nhận sông Hương ở bề dày lịch sử. Sông Hương ghi tên mình từ thuở sơ khai, từ thời đại các vua Hùng nó được coi là dòng biên thùy xa xôi của đất nước. Trong thời kì trung đại, sông Hương mang tên Linh Giang, có nhiệm vụ bảo vệ biên giới tổ quốc.

Nhìn vào những mốc son cũng như những đau thương mất mát của dòng sông này ta thấy lịch sử Huế và con người Huế: đau thương nhưng quật khởi, bi tráng nhưng cũng vô cùng hào hùng, hiển hách.

Qua các phương diện cảnh sắc thiên nhiên, chiều sâu văn hóa, bề dày lịch sử, sông Hương đã hiện lên vô cùng đẹp đẽ, đáng trân trọng. Nhưng để ấn tượng về dòng sông Hương thêm đậm nét, tác giả còn tái hiện nó trong trí tưởng tượng của mình với diện mạo, tâm hồn riêng. Toàn bộ trường liên tưởng của tác giả về sông Hương được quy chiếu về hình ảnh người con gái Huế rất Huế, bởi vậy hình ảnh dòng sông càng trở nên đẹp đẽ hơn.

Khi dòng sông Hương ở thượng nguồn, dòng chảy dữ dội, mãnh liệt đi qua trí tưởng tượng của tác giả là một cô gái Digan phóng khoáng, man dại. Bằng trí tưởng tượng phong phú, tác giả đã biến dòng sông Hương ở thượng nguồn thành một người con gái khỏe khoắn, tràn đầy sức sống, mang vẻ đẹp thuần khiết vẫn còn đôi chút hoang dã.

Bắt đầu vào thành phố, sông Hương có sự thay đổi toàn diện, nhanh chóng về cả diện mạo và tính cách. Sự thay đổi mạnh mẽ của sông Hương theo tác giả chính là cuộc gặp gỡ giữa sông Hương với người tình mong đợi của nó – Huế. Hình ảnh so sánh độc đáo đã cho thấy sông Hương phải trải qua sự chờ đợi, thử thách trong khoảng thời gian rất dài, “phải nhiều thế kỉ đi qua”.

Sông Hương dịu dàng, e ấp, dồn hết cả sự tinh tế, tao nhã trong tiếng đàn để dành tặng cho thành phố bản đàn lúc đêm khuya, lúc này sông Hương chính là một tài nữ đang gảy đàn. Vì mang nặng ân tình với xứ Huế, nên khi phải rời xa thành phố, dòng sông Hương còn đột ngột đổi dòng, để gặp lại thành phố lần cuối tại góc thị trấn Bảo Vinh xưa cổ. Khi buộc phải ra đi, sông Hương rời đi với lời thề sâu sắc: “Còn non còn nước còn dài, còn về con nhớ …” mà tác giả cảm nhận trong câu hò vang vọng khắp lưu vực sông Hương.

Bằng ngòi bút tinh tế, tài hoa, bằng trí tưởng tượng phong phú, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm tái hiện một cách chân thực và đầy đủ nhất vẻ đẹp của sông Hương. Khung cảnh xứ Huế đã làm ta thêm yêu con người, mảnh đất nơi đây.

Đọc nhiều hơn 🌻Phân Tích Vợ Chồng A Phủ ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

“Ai đặt tên cho dòng sông?” là một bài bút ký nổi tiếng của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Trong bài kí này, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ca ngợi vẻ đẹp của con sông Hương và cũng chính là ca ngợi vẻ đẹp của con người Huế. Nhà văn miêu tả vẻ đẹp của con sông Hương bằng tất cả tình cảm đắm say tha thiết và đầy tự hào của mình, nhất là khi nhà văn mô tả hình ảnh của con sông Hương khi chảy vào kinh thành Huế.

Sông Hương khi chảy vào thành phố được tác giả miêu tả bằng một lối văn trữ tình, hướng nội, độc đáo và tài hoa. Với cái nhìn tinh tế, đầy cảm xúc và đầy sáng tạo của nhà văn, dòng sông Hương khi chảy vào thành phố Huế hiện lên với những đặc trưng riêng của nó mà không có dòng sông nào có được. Khi chảy vào thành phố thân yêu, sông Hương như tìm thấy chính mình, nên “vui hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long”.

Từ đó, dòng sông “kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc”, rồi sông Hương được nhà văn nhân hóa, “sông Hương nhìn về phía đó và nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần lên nền trời, nhỏ nhắn như những vầng trăng non”.

Và đến khi “giáp mặt thành phố ở cồn Giá Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ nhàng sang đến cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”. Với sự so sánh độc đáo này, nhà văn đã làm nổi bậc tính dịu dàng, trầm mặc của con sông Hương khi chảy vào thành phố”.

Và hơn nữa để làm nổi bật tính chất này, nhà văn đã so sánh sông Hương cũng “‘giống như sông Xen của Pari, sông Đa- nuýp của Budapest; sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông”.

Nhưng sông Hương đã tạo cho thành phố Huế một nét độc đáo riêng mà không có thành phố hiện đại nào trên thế giới có được: “Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương tỏa đi khắp phố thị, với những cây đa, cây cừ cổ thụ tỏa lá u sầm xuống những xóm thuyền xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được.

Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi qua thành phố đã trôi đi chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”.

Sông Hương khi chảy qua thành phố được tác giả cảm nhận dưới nhiều góc độ: có khi nhà văn nhìn sông Hương dưới góc độ hội họa: sông Hương và những chi lưu của nó tạo nên những đường nét tinh tế làm nên vẻ đẹp của cố đô; có khi nhà văn cảm nhận sông Hương bằng âm nhạc: sông Hương đẹp như điệu slow chậm rãi, sâu lắng, trữ tình; có khi nhà văn cảm nhận sông Hương bằng cái nhìn đắm say của một trái tim đa tình đầy lãng mạn: “sông Hương là người tình dịu dàng và chung thủy”.

Như vậy, dưới cái nhìn và sự cảm nhận đầy tinh tế, đầy nghệ thuật, dòng sông Hương hiện lên qua đôi mắt và tâm hồn của nhà văn, nó không còn là một dòng sông bình thường nữa mà nó là một cô gái dịu dàng đi tìm người yêu chung thủy của mình với một tình yêu sâu lắng, đắm say, tha thiết.

Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀Sóng Xuân Quỳnh ❤️ Những Bài Phân Tích & Cảm Nhận Hay Nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Đa Thức Thành Nhân Tử trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!