Xu Hướng 2/2024 # Top 10 Loại Hình Diễn Xướng Truyền Thống Dân Gian Việt Nam # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Top 10 Loại Hình Diễn Xướng Truyền Thống Dân Gian Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chầu văn (Hát văn)

Chầu văn Cô Bé qua tiếng hát NSƯT Xuân Hinh

Hát văn, còn gọi là chầu văn hay hát hầu đồng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn trau chuốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh. Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và hát cung đình ở Huế.

Thứ tự trình diễn:

Nghi lễ hát chầu văn lên đồng có thể chia thành bốn phần chính:

Mời thánh nhập

Kể sự tích và công đức

Xin thánh phù hộ

Đưa tiễn

Bài hát thường chấm dứt với câu: “Xe loan thánh giá hồi cung!”

Cung văn ngồi một bên mé trong khi người hầu bóng, gọi là đệ tử thánh, ngồi trước bàn thờ. Hai bên cung văn là nhạc công tấu nhạc cùng ban phụ họa hát theo. Hai bên đệ tử thánh thì có người phụ việc sửa soạn khăn áo để khi thánh nhập thì trang phục ăn khớp với giá đồng. Người phụ việc cũng lo các lễ vật dâng cúng cùng lộc thánh để phát cho các người đến cung nghinh.

Chèo

Trích đoạn chèo Thị Màu Lên Chùa

Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Việt Nam. Chèo phát triển mạnh ở phía bắc Việt Nam với trọng tâm là vùng châu thổ sông Hồng cùng hai khu vực lan tỏa là trung du miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc. Chèo mang tính quần chúng và được coi là loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình.

Nghệ thuật sân khấu chèo đã trải qua quá trình lịch sử lâu dài từ thế kỉ 10 tới nay, đã đi sâu vào đời sống xã hội Việt Nam. Chèo phản ánh đầy đủ mọi góc độ của bản sắc dân tộc Việt Nam: lạc quan, nhân ái, yêu cuộc sống yên lành, bình dị, nhưng tràn đầy tự hào dân tộc, kiên cường đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc. Cũng chính vì nội dung tư tưởng lành mạnh đó mà trong chèo có đầy đủ các thể loại văn học: trữ tình, lãng mạn, anh hùng ca, sử thi, thơ ca giáo huấn,… hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác như tuồng, cải lương, quan họ…

Cải Lương

Vở Cải lương Lan và Điệp

Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dòng nhạc Đờn ca tài tử và dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long, nhạc xưa cổ

Khởi sự, các vở cải lương viết về các tích xưa, như Trảm Trịnh Ân, Vợ Ngũ Vân Thiệu bị tên, Cao Lũng vít thiết xa, Ngưu Cao tảo mộ, Thoại Khanh – Châu Tuấn… hay còn giữ mang hơi hướng theo kiểu hát bội, do các soạn giả lớp cải lương đầu tiên vốn là soạn giả của sân khấu hát bội. Sau này, các vở về đề tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội), như Tội của ai, Khúc oan vô lượng, Tứ đổ tường,… thì hoàn toàn theo cách bố cục của kịch nói, nghĩa là vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch. Càng về sau thì bố cục của các vở cải lương, kể cả các vở viết về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch nói.

1 đoàn cải lương không chỉ có các diễn viên diễn xuất trên sân khấu, mà luôn luôn phải có dàn nhạc đi kèm. Vì thế, khi trình bày về âm nhạc trong nghệ thuật cải lương, không thể không nói tới dàn nhạc cải lương. Dàn nhạc cải lương có một vai trò đặc biệt trong tuồng diễn, đến nỗi, không có dàn nhạc thì không thể thành một tuồng diễn. Dàn nhạc trong cải lương không chỉ có nhiệm vụ nâng đỡ, phụ họa cho giọng hát, mà còn tô điểm thêm cho từng giai điệu để làm nổi bật chiều sâu tâm lý của nhân vật, tạo thêm kịch tính cho kịch bản, góp phần cho sự thành công của tuồng diễn.

Quan họ

Thưởng thức quan họ

Dân ca Quan họ (chữ Nôm: 民歌官賀) là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam. Nó được hình thành và phát triển ở vùng văn hóa Kinh Bắc xưa, đặc biệt là khu vực ranh giới hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay với dòng sông Cầu chảy qua được gọi là “dòng sông quan họ”. Kinh Bắc là một tỉnh cũ bao gồm cả hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang (và một số nơi của Lạng Sơn, Hưng Yên, Hà Nội ngày nay). Quan họ cũng được hình thành ở vùng văn hóa Kinh Bắc này. Do có sự chia tách về địa lý sau đó mà quan họ còn được gắn tên cục bộ địa phương như quan họ Kinh Bắc, Bắc Giang hay Bắc Ninh.

Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng. Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm. Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá. Kho băng ghi âm hàng nghìn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh.

Xẩm

Thưởng thức các bài xẩm qua tiếng hát nghệ nhân Hà Thị Cầu

Xẩm là một loại hình dân ca của Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. “Xẩm” còn được dùng để gọi những người hát xẩm đi hát rong kiếm sống và hành nghề hát xẩm. Nghệ nhân Hà Thị Cầu (1928–2013) được coi là người hát xẩm cuối cùng của thế kỷ XX và tỉnh Ninh Bình đang có những nỗ lực đệ trình UNESCO công nhận hát xẩm là di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp.

Hát Xẩm xưa thường là một hình thức mưu sinh của những người dân nghèo khổ, người khiếm thị, nay được sân khấu hóa và đưa vào phục vụ khách du lịch. Xẩm đa số được biểu diễn ở chợ, đường phố, nơi đông người qua lại. Hát xẩm có tính ngẫu hứng và người biểu diễn có thể bật ra câu hát ngay khi thể hiện.

Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát xẩm chỉ gồm đàn nhị và Sênh tiền. Nhóm hát xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn. Có tài liệu cho rằng đàn bầu khởi thủy là nhạc cụ đặc trưng của hát xẩm, sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn (phù hợp với chỗ đông người) nên thường được sử dụng. Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo. Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm. Sênh dùng đệm nhịp cho hát xẩm có thể là sênh sứa (gồm hai thanh tre hoặc gỗ) hoặc sênh tiền (có gắn thêm những đồng tiền kim loại để tạo âm thanh xúc xắc). Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hiện diện trong hát xẩm.

Ca trù

Một phần trình diễn ca trù

Ca trù (chữ Nôm: 歌籌), còn gọi nôm na là hát cô đầu / hát nhà trò là loại hình diễn xướng bằng âm giai nhạc thính phòng rất thịnh hành tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và trí thức yêu thích. Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc.

Một chầu hát cần có ba thành phần chính:

Một nữ ca sĩ (gọi là “đào” hay “ca nương”) sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,

Một nhạc công nam giới (gọi là “kép”) chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát. Nhạc công đàn đáy có lúc hát thể cách hát sử và hát giai, vừa đàn vừa hát

Người thưởng ngoạn (gọi là “quan viên”, thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.

Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là “tức tịch,” nghĩa là “ngay ở chiếu.”

Ca trù vừa là loại thanh nhạc (vocal music), vừa là loại khí nhạc (instrumental music). Có một ngôn ngữ âm nhạc tế nhị, tinh vi.

Thanh nhạc: Ca nương phải có giọng thanh – cao – vang, khi hát phải biết ém hơi, nhả chữ và hát tròn vành rõ chữ, biết nảy hạt (đổ hột), đổ con kiến. Ca nương vừa hát, vừa gõ phách. Phải biết rành 5 khổ phách cơ bản, đánh lưu không, tiếng phách phải chắc và giòn, lời ca và tiếng phách phải ăn khớp với nhau.

Khí nhạc: Kép đàn dùng đàn đáy phụ họa. Bản đàn không nhất thiết phải đi theo bài hát, vì phải theo khổ đàn, nhưng khổ đàn – khổ phách – tiếng ca hợp nhau, hài hòa nhuần nhuyễn. Có những cách đàn ca chân phương– theo lề lối hay hàng hoa– sáng tạo và bay bướm.

Quan viên là người cầm chầu, tiếng trống chầu vừa chấm câu khi tham gia vào cuộc diễn tấu, nhưng có tính chất phê phán, khen chê đúng chỗ, để khích lệ ca nương – kép đàn, giúp cho thính giả biết được đoạn nào hay – thật hay và như thế được giáo dục âm nhạc trong cách nghe.

Tuồng (Hát bội)

Một trích đoạn Tuồng

Tuồng, luông tuồng, hát bộ, hát bội là những cách gọi một loại hình nhạc kịch thịnh hành tại Việt Nam bắt nguồn từ kinh kịch Trung Hoa. Loại hình này khác biệt với cải lương xã hội, cải lương Hồ Quảng (cải lương tuồng cổ), thoại kịch, opera là những hình thức diễn xướng sân khấu mới ra đời trễ và được chuộng hơn.

Lối diễn xuất của tuồng nặng tính ước lệ và trình thức, tức là loại sân khấu ước lệ, cách biểu diễn khuếch đại hơn sự thật ngoài đời để khán giả dễ cảm nhận. Các động tác càng nhỏ càng nhanh, khi lên sân khấu càng cần tăng cường điệu thì khán giả mới kịp nhận thấy. Kiểu cách đi đứng còn dùng để biểu lộ cái “tâm” của nhân vật thiện, ác. Nhất là vào thời trước khi kỹ thuật âm thanh và ánh sáng chưa đáp ứng được cho nghệ thuật trình diễn, hình ảnh diễn xuất chưa thể kéo lại nhìn gần, không thể “trung cảnh”, “cận cảnh”, làm tăng cường độ các động tác giúp khán giả xem được toàn cảnh, dù ngồi xa hay gần chiếu diễn (sân khấu) đều nhìn thấy.

Ngôn ngữ ca ngâm thì dùng giọng thật to, thật cao và rõ. Điệu hát quan trọng nhất trong hát bội là “nói lối”, tức là nói một lúc rồi hát, thường để mở đầu cho các khúc hát khác. “Nói lối” có hai giọng chính là “Xuân” và “Ai”. “Xuân” là giọng hát vui tươi, còn “Ai” là bi thương, ảo não. Nói lối giọng Ai còn được gọi là “lối rịn”. Ngoài ra còn có những “lối hằng”, “lối hường”, “lối giậm”.

Múa rối nước

Trích đoạn một vở rối nước

Múa rối nước (hay còn gọi là trò rối nước) là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống độc đáo, ra đời từ nền văn hóa lúa nước. Từ một nghệ thuật mang yếu tố dân gian, múa rối nước đã trở thành một nghệ thuật truyền thống, một sáng tạo đặc biệt của người Việt

Nghệ thuật trò rối nước có những đặc điểm khác với múa rối thông thường: dùng mặt nước làm sân khấu (gọi là nhà rối hay thủy đình), phía sau có phông che (được gọi là tấm y môn) tạo sân khấu biểu dễn múa rối nước y như ban thờ lớn ở Đình, Chùa của người Việt, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã… trên “sân khấu” là những con rối (được làm bằng gỗ) biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây… Biểu diễn rối nước không thể thiếu những tiếng trống, tiếng pháo phụ trợ

Trò rối nước là trò khéo lấy động tác làm ngôn ngữ diễn đạt, rối nước gắn bó với âm nhạc như nghệ thuật múa. Âm nhạc điều khiển tốc độ, giữ nhịp, dẫn dắt động tác, gây không khí với tiết tấu truyền thống giữ vai trò chủ đạo của trò rối nước, nhạc rối nước thường sử dụng các làn điệu chèo hoặc dân ca đồng bằng Bắc Bộ.

Hát bài chòi

Hội bài chòi ở Nghệ An

Bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân ca và trò chơi dân gian đặc trưng ở miền Trung Việt Nam, về sau đã được phát triển thành một loại hình sân khấu ca kịch.

Hát chòi thường được tổ chức thành một lễ hội.

Hội này thường được tổ chức ở làng quê vào dịp tết Nguyên đán. Người ta dựng 9 hoặc 11 chòi, chia thành 2 bên, mỗi bên 5 chòi, mỗi chòi cao độ 2-3m, rộng đủ vài ba người ngồi và một chòi trung tâm (chòi mẹ) ở giữa dành cho các vị chức sắc địa phương.

Bộ bài để đánh bài chòi là bộ bài tam cúc cải tiến, gồm 33 lá, với những tên chuyển thành nôm na như: nhứt nọc, nhì nghèo, ông ầm, thằng bí, lá liễu v.v.. vẽ trên giấy, dán vào thẻ tre. Mỗi thẻ tre dán ba con bài, không trùng lặp nhau.

Bộ bài gồm 3 pho, đó là:

Pho văn: ông Ầm, tráng hai, ba bụng, tứ tượng, ngũ ruột, sáu miếng, lá liễu, tám miếng, chín cu, chín gối.

Pho vạn: bạch huê, nhứt trò, nhì bí, tam quăng, tứ móc, ngũ trợt, lục chạng, thất vung, bát bồng, cửu điều.

Pho sách: ông Tử, nhất nọc, nhì nghèo, ba gà, tứ sách, ngũ dụm, sáu bưởng, bảy thưa, tám dây, cửu điều.

Mỗi pho có 10 lá, vì phải có 33 lá nên thêm vào 3 lá nữa là: ông ầm đen, tử cẳng đen và cửu điều đen (để phân biệt với 3 lá cùng tên này nhưng màu đỏ) cho đủ bài chơi.

Vào cuộc chơi, anh hiệu (tức người hô thai) xốc ống bài, rút ra một con và xướng tên con bài lên. Để gây thêm sự hồi hộp và bắt người chơi phải suy đoán, anh hiệu hô lên một câu thai hoặc một câu ca dao có tên con bài. Chòi nào trúng tên con bài thì gõ mõ để anh hiệu mang con bài đến. Trúng ba con bài là chòi đó “tới”, xổ một hồi mõ dài. Khi đó, anh hiệu cầm lá cờ nhỏ, bưng khay rượu tới trao phần thưởng cho người trúng. Lá cờ đuôi nheo bằng giấy cũng được cắm lên chòi để đánh dấu một lần thắng.

Để giúp vui cho cuộc chơi còn có một ban nhạc cổ gồm đờn cò, kèn, sanh, trống hòa tấu lên khi có chòi “tới”.

Hát xoan

Trích đoạn Hát xoan Phú Thọ

Hát xoan là loại hình dân ca lễ nghi phong tục hát thờ thần, thành hoàng với hình thức nghệ thuật đa yếu tố: có nhạc, hát, múa; thường được biểu diễn vào dịp đầu xuân, phổ biến ở vùng đất tổ Hùng Vương – Phú Thọ, một tỉnh thuộc vùng trung du Việt Nam. Ngày 24/11/2011, tại Hội nghị lần thứ sáu của Ủy ban liên chính phủ về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO tổ chức tại Bali – Indonesia, Hồ sơ Hát Xoan – Phú Thọ của Việt Nam đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp.[1] Tối 3/2/2024, tại Miếu Lãi Lèn, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ phối hợp với Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ đón bằng của UNESCO ghi danh hát Xoan Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Thường vào mùa xuân, có các phường xoan lần lượt khai xuân ở đình, miếu làng. Vào ngày mùng 5 âm lịch thường hát ở hội đền Hùng. Thời điểm hát được quy định tại một điểm nhất định, mỗi “phường” chọn một vị trí cửa đình. Hát cửa đình giữ cửa đình mục đích nhân dân địa phương kết nghĩa với nhau. Theo lệ dân tại chỗ là vai anh, họ (làng khác) là vai em. Khi kết nghĩa rồi cấm trai gái hai bên dân và họ kết hôn với nhau do là anh em.

Đăng bởi: Nguyễn Dương

Từ khoá: Top 10 loại hình diễn xướng truyền thống dân gian Việt Nam

Biểu Diễn 20 Loại Hình Nghệ Thuật Dân Gian Trên Phố Nguyễn Huệ

Sự kiện diễn ra từ ngày 29/4 đến 1/5, dự kiến hút hơn 100.000 người, mở cửa tự do. Điểm nhấn là hoạt động giới thiệu hơn 20 loại hình nghệ thuật dân gian nổi tiếng ba miền như múa bóng rỗi, đờn ca tài tử, múa Khmer Nam Bộ, xòe Thái.

Chương trình trở lại sau lần đầu tổ chức năm 2023, do nghệ sĩ Vương Duy Biên đạo diễn, quy tụ hàng trăm nghệ sĩ. Công chúng sẽ được giao lưu, trực tiếp trải nghiệm các bộ môn cùng nghệ nhân, nghệ sĩ.

Hai tài năng nhí biểu diễn múa trống Chhay – dăm

Hai tài năng nhí biểu diễn múa trống Chhay-dăm tại buổi giới thiệu sự kiện, ngày 21/4 ở TP HCM. Video: Tân Cao

Tại buổi giới thiệu các hoạt động thuộc liên hoan, ông Trần Văn Xén – truyền nhân duy nhất môn nghệ thuật múa trống Chhay-dăm – nói: “Tôi mong sẽ có cơ hội giới thiệu đến mọi người nhiều hơn về loại hình nghệ thuật từng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia tỉnh Tây Ninh”.

Nghệ nhân Trần Văn Xén (phải) thuộc bộ môn múa trống Chhay-dăm đến từ Tây Ninh và nghệ nhân vẽ mặt nạ thời gian Bùi Quý Phong đến từ Quảng Nam dự sự kiện. Ảnh: Kiều Anh Kiệt

Bà Lưu Thị Hồng Diễm, biên kịch kiêm tác giả chương trình cho biết suốt thời gian diễn ra liên hoan, dọc đường Nguyễn Huệ sẽ có ba sân khấu lớn mô phỏng nét đặc trưng văn hóa ba miền – nơi các nghệ sĩ trình diễn. Theo đó, sân khấu Bắc Bộ sẽ lấy cảm hứng từ cờ hội, áo tứ thân. Màu nâu được dùng chủ đạo cho miền Trung, với hình ảnh thuyền thúng, lưới đánh cá. Khu vực Nam Bộ sẽ được dựng với hình ảnh đồng lúa, sông rạch uốn lượn, mái chèo, trái cây bốn mùa. Tại lễ khai mạc ngày 29/4, các tiết mục Cò lả, Thị Mầu, dàn dựngkết hợp yếu tố truyền thống, hiện đại là điểm nhấn.

Ngoài không gian sân khấu, 17 trò chơi dân gian như ô ăn quan, nhảy dây, lò cò, banh đũa, cướp cờ, kéo mo cau, cũng sẽ được tái hiện trên phố. Mỗi khu vực sẽ có phần giới thiệu khái quát bằng tiếng Việt và Anh, để du khách nước ngoài đến tìm hiểu, trải nghiệm. Liên hoan còn dành một không gian để trưng bày các nhạc cụ dân tộc, do một nhóm sinh viên trực tiếp đứng giới thiệu, hướng dẫn khách tham quan chơi.

Ông Bùi Xuân Đức, Trưởng phòng tổ chức lễ và sự kiện, Sở Văn hóa và Thể thao TP HCM cho biết liên hoan nhằm bảo tồn, gìn giữ văn hóa nghệ thuật dân gian, khuyến khích những người trẻ tìm hiểu giá trị tốt đẹp của dân tộc, tăng cường sự đoàn kết, giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, kết nối bạn bè thế giới.

Tân Cao

Việt Nam Có Ba Loại Bánh Truyền Thống Suốt Ngày Bị Nhầm Với Nhau Chỉ Vì Lý Do Này

Lá chuối là món dùng để gói bánh phổ biến ở Việt Nam, đó là một chuyện. Tuy nhiên hình dạng các loại bánh lại là chuyện khác. Bánh truyền thống Việt Nam rất đa dạng, cho dù hay sử dụng nguyên liệu tương tự nhau như gạo, nếp, đậu… thì những món bánh đều có hình dáng rất khác nhau, và đôi khi chính cái hình dáng này lại là điểm quan trọng nhất để phân biệt chủng loại bánh. Ví dụ như ta có bánh tét và bánh chưng, về cơ bản đều có nhân nếp, đậu và thịt mỡ, tuy nhiên do hình dạng khác nhau (một loại hình vuông dẹt một loại hình trụ) nên được xem là hai loại bánh khác.

Ấy vậy mà, bên cạnh đó cũng có những loại bánh tuy khác vị, nhưng lại có cùng hình thức khiến nhiều người phải nhức đầu là bánh giò, bánh ú và bánh ít. Ba loại bánh này cũng được gói bằng lá chuối, buộc bằng lạt và có hình chóp nhọn. Đã vậy kích thước còn giống nhau nên thường xuyên bị nhầm.

Bánh giò

Bánh giò được làm từ bột gạo tẻ và bột năng, hoà cùng nước xương hầm, có nhân mặn làm từ thịt nạc vai lợn, trộn với nấm mộc nhĩ, hành, hạt tiêu, nước mắm, muối… Đôi khi bánh còn có cả nhân trứng cút. Món bánh này có đặc trưng là có hình dáng như khối tam giác giống kim tự tháp, được gói bằng lá chuối và hấp bằng chõ. Bánh thơm, ngọt và bùi hương gạo tẻ, đậm đà vị thịt và giòn giòn, sần sật phần nấm. Đây là món bánh có xuất xứ miền Bắc nhưng được người dân mọi miền yêu thích như một thức ăn sáng hoặc ăn nhẹ.

Bánh ú

Bánh ú là loại bánh có nhiều chủng loại, nhưng về cơ bản thì được làm từ gạo nếp. Nhân bánh đa dạng qua nhiều vùng miền, trong số đó có nhân đậu xanh là kinh điển nhất, ngoài ra thì còn có nhân chuối, nhân thịt mặn… Đây là loại bánh thường hay xuất hiện trong các lễ cúng gia tiên vào dịp Tết Đoan Ngọ mùng 5 tháng 5 âm lịch hằng năm. Bánh ú có nhiều biến tấu như bánh ú bá trạng, bánh ú lá gai…

Bánh ít

Cũng làm từ gạo nếp, nhưng bánh ít được làm từ gạo nếp xay nhuyễn thành bột tạo nên kết cấu mịn, dai và mềm. Nhân bánh cũng thường được làm từ đậu xanh hoặc dừa. Bánh ít có nhiều hình dáng trên khắp mọi miền nhưng ở miền Nam thì có hình chóp nhọn tương tự với bánh ú và bánh giò. Đây là một thức quà truyền thống ở các vùng quê miền Nam, được đông đảo trẻ em yêu thích. Bánh ít nhân mặn thường được ăn cùng với nước mắm, mỡ hành. Thoạt nhìn thì bánh ít khá giống với bánh giò, song do làm từ gạo nếp nên bánh ít dai hơn.

Có thể thấy:

Ba loại bánh này đều có hình chóp rất đặc trưng, thoạt nhìn dễ bị nhầm với nhau. Chính vì thế mà đôi khi đi ngoài đường, nếu chỉ nhìn qua hình dạng thì lắm khi sẽ bị “hố” bởi vì kích cỡ cũng như cách gói các loại bánh này thực sự có điểm tương đồng cực kì lớn. Bánh ú có thể nhỏ hơn bánh giò một chút, bánh ít có thể “thuôn thả” hơn hai loại bánh còn lại một chút, song điểm khác biệt nhỏ này phải để ý kỹ mới nhận ra được.

Gói bánh giò.

Không có nhiều giải thích cho việc vì sao mà người Việt thường ưa gói các loại bánh kiểu này, nhưng nếu phải suy đoán thì có lẽ bắt nguồn từ tính chất chung của bánh ú, bánh ít và bánh giò. Dễ thấy, kết cấu của ba loại bánh này nhìn chung đều rất mềm và dễ chảy, vì vậy mà việc cuộn lá chuối lại thành phễu trước rồi cho bánh vào sẽ hạn chế việc rơi vãi, và dễ tạo hình hơn. 

Quỳnh Đào

Đăng bởi: Hương Phạm

Từ khoá: Việt Nam có ba loại bánh truyền thống suốt ngày bị nhầm với nhau chỉ vì lý do này

Làng Nghề Bát Tràng – Làng Gốm Truyền Thống Lâu Đời Ở Việt Nam

1. Địa chỉ làng nghề Bát Tràng

 Làng nghề Bát Tràng hay còn gọi là làng gốm Bát Tràng thuộc hai thôn “Gốm Bát Tràng” và “Giang Cao” ở tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Làng nghề truyền thống Bát Tràng cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km về phía Đông Nam. Có rất nhiều cách để các bạn có thể đến được đây: đi bằng xe máy, ô tô hoặc xe buýt đều rất thuận tiện.

Làng gốm hiện nay thu hút rất nhiều khách du lịch ở trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những sản phẩm gốm sứ làng gốm Bát Tràng, tìm hiểu thêm về công việc lao động mang tính chất thủ công này.

2. Làng nghề Bát Tràng – làng gốm cổ truyền ở Việt Nam

Làng nghề Bát Tràng là làng gốm lâu đời và nổi tiếng nhất ở Việt Nam, có tuổi đời hơn 500 nay.

Làng gốm cổ Bát Tràng xưa

Truyền thuyết kể rằng: “dân làng Bát Tràng vốn từ làng Bồ Bát (ở huyện Yên Mô, Ninh Bình) di chuyển ra Bắc và định cư ở tả ngạn sông Hồng, phía dưới Thăng Long, để tiện chuyên chở nguyên liệu và thành phẩm. Lúc đầu, chỉ có 4 gia đình di cư ra, thuộc các dòng họ Trần, Bùi, Phùng, Vũ cùng với họ Nguyễn sở tại lập thành phường sản xuất đồ gốm, gọi là Bạch Thổ phường. Rồi sau đó lại đổi tên là Bá Tràng phường và cuối cùng chuyển ra tên gọi Bát Tràng ở thế kỷ XIV. Trong đình làng Bát Tràng có đôi câu đối chữ Hán: “Bồ di thủ nghệ khai đình vũ; Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần”. Nghĩa là: “Từ làng Bồ Bát rời nghề cũ ra đây dựng xây đình vũ; Lòng dân thơm ngát hương lan kính tạ thánh thần”.

Gốm Bát Tràng xưa vẫn được coi là 1 trong 4 nghề tinh hoa bậc cao của Thăng Long xưa. Vì thế mà các bậc cao niên ở Bát Tràng có câu: “Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã”. 

Đồ gốm ở làng nghề Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công, nổi tiếng khắp cả nước về chất lượng và mẫu mã. Hiện nay, các sản phẩm ở làng nghề Bát Tràng còn được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu.

Các sản phẩm gốm Bát Tràng còn được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu.

3. Các địa điểm tham quan ở làng nghề Bát Tràng 3.1. Đình làng Bát Tràng

Đình Bát Tràng được xây dựng từ lâu đời, được làm lại vào năm 1720 đời vua Lê Dụ Tông. Nơi đây lưu giữ gần như nguyên vẹn nét kiến trúc độc đáo và cổ kính, được xây theo kiểu chữ “Nhị”, mặt quay ra sông Hồng.

Trong ngôi đình làng Bát Tràng có điện thờ Mẫu là vị Tổ nghề gốm sứ. Hiện nay trong đình còn lưu giữ hơn 50 đạo sắc phong cho thành hoàng với các niên hiệu Cảnh Hưng, Quang Trung và Cảnh Thịnh.

Lễ hội truyền thống được tổ chức tại đình làng và diễn ra hàng năm trong 3 ngày liền từ 14 đến 16 tháng Hai âm lịch với đông đảo bà con dân làng và khách thập phương tham dự.

Lễ hội truyền thống ở Bát Tràng

3.2. Nhà cổ Vạn Vân

Nhà cổ Vạn Vân nằm ở một ngõ nhỏ cạnh chợ gốm Bát Tràng. Đây là một ngôi nhà cổ chứa đầy gốm cổ với hơn 400 hiện vật gốm cổ Bát Tràng với các niên đại từ thế kỷ 15 – 19 bao gồm lọ rồng, bình vôi, điếu bát, các bản dập hoa văn nổi…

Nhà cổ Vạn Vân trăm tuổi ở làng gốm Bát Tràng

Nhà cổ Vạn Vân được dựng lên cách đây 15 năm, có nhiều gian: Gian đầu tiên là ngôi nhà gỗ 200 tuổi ở Thái Bình, gian thứ hai cũng là một ngôi nhà cổ ở Nam Định mua về rồi ghép lại, gian thứ ba là ngôi nhà đã có sẵn từ trước đó. Cả 3 gian nhà ghép vào với nhau tạo nên một không gian trưng bày rộng 400m2, vừa cổ kính vừa sang trọng.

Nhà cổ Vạn Vân đã thu hút đông đảo khách du lịch trong nước cũng như quốc tế, đa phần là những người đam mê đồ gốm cổ nhưng cũng có người tìm đến vì tò mò.

3.3. Chợ gốm Bát Tràng

Chợ gốm Bát Tràng luôn đông đúc, nhộn nhịp bày bán đa dạng nhiều loại mặt hàng làm từ gốm sứ như bát đĩa, cốc chén, đồ trang trí mỹ nghệ, đồ thờ cúng,…

Giá cả các mặt hàng ở đây cũng rất đa dạng, từ những sản phẩm bình dân có giá chỉ vài chục nghìn đồng tới những sản phẩm cao cấp có giá lên tới hàng chục triệu đồng.

3.4. Trải nghiệm, tìm hiểu tự tay làm ra các sản phẩm gốm

Khi đến với làng nghề Bát Tràng, mọi người còn được tham gia vào quá trình làm ra sản phẩm. Đây là một dịch vụ rất thú vị, cho những ai muốn trải nghiệm cảm giác nhào nặn và tạo ra những thành phẩm từ đất sét.

Mỗi người tham gia sẽ được cung cấp một cục đất sét ẩm và một bàn xoay, đặt cục đất giữa bàn xoay và tạo hình theo ý thích như: cốc, bát, hình thù các con vật, những vật dụng đơn giản,…

Sau khi nặn xong thì chuyển sang công đoạn hong khô sản phẩm, mất khoảng 30 phút. Tiếp theo là công đoạn tô vẽ, trang trí cho sản phẩm, sau đó sẽ sơn phủ bóng bên ngoài để giữ cho sản phẩm được bền đẹp hơn.

Ngoài trực tiếp được tham gia vào làm các sản phẩm, mọi người còn được khám phá lịch sử hình thành của gốm Bát Tràng. Để làm ra sản phẩm gốm, người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung gốm.

Nếu bạn đang tìm một làng nghề truyền thống vừa cổ kính, vừa mang hơi thở của hiện đại thì làng nghề Bát Tràng là một lựa chọn hợp lý để tìm hiểu và tham quan đó.

Đăng bởi: Thảo Phương

Từ khoá: Làng nghề Bát Tràng – làng gốm truyền thống lâu đời ở Việt Nam

Duyệt Thị Đường – Nhà Hát Cổ Nhất Của Sân Khấu Truyền Thống Việt Nam

Nhà hát Duyệt Thị Đường được xây dựng dưới thời nhà Nguyễn để làm nơi trình diễn các loại hình nghệ thuật nằm bên trong Tử Cấm Thành. Đây là công trình kiến trúc có quy mô bề thế, với chức năng chính là làm nhà hát cung đình.

Duyệt Thị Đường – Nhà hát cổ nhất của sân khấu truyền thống Việt Nam

Nhà hát được xây dựng vào năm 1826 dưới thời Minh Mạng, trên nền cũ của nhà hát Thanh Phong Đường. Công trình được tu bổ lần đầu vào năm 1829. Trong suốt quá trình tồn tại, nhà hát được tu bổ nhiều lần nhưng quy mô và kết cấu thì không thay đổi.

Cổng nhà hát. Ảnh: UBND Thừa Thiên Huế.

Nhà hát Duyệt Thị Đường là nơi diễn ra các loại hình nghệ thuật truyền thống: nhã nhạc cung đình, ca múa nhạc cung đình, diễn tuồng, hát bội, kịch… Khán giả của nhà hát là vua, các bà trong cung, các quan đại thần và khách nước ngoài.

Ngoài chức năng chính, đây còn là nơi tổ chức các lễ hội đặc biệt như dịp tứ tuần vua Minh Mạng, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định… Tham dự có các quan văn võ, các hoàng tử, hoàng đệ… Vào năm 1833 triều đình nhà Nguyễn đã tổ chức đúc tiền “Minh Mạng phi long” ngay tại nơi này.

Xung quanh nhà hát Duyệt Thị Đường có nhiều công trình kiến trúc phục vụ sinh hoạt của triều đình nhà Nguyễn: Sở Thượng Thiện (Ngự Thiện) chế biến, cung cấp thức ăn và chuẩn bị bát đĩa, thìa, tăm… cho Hoàng gia.

Thái Y Viện nằm ở phía Đông Nam, là nơi làm việc của các thầy thuốc trong hoàng cung, chăm lo sức khoẻ của Hoàng đế, Hoàng gia cùng gia đình quan lại. Tại góc Đông Nam là nơi tập trung 3 công trình quan trọng, gồm Thị Vệ Trực Phòng (các thị vệ túc trực), Cẩn Tín Ty (văn phòng nội điện) và Tiên Trượng Khố (nơi để phù hiệu của vua).

Biểu diễn đại nhạc trong nhà hát. Ảnh: Báo Thừa Thiên Huế.

Ngoài ra, ở phía Nam còn có một công trình khác là Dưỡng Chính Đường, là nơi ở và học tập của các hoàng tử. Khu vực nhà hát Duyệt Thị Đường là tổng thể kiến trúc đồ sộ, bao gồm nhiều đơn nguyên với các chức năng khác nhau nhằm phục vụ cho những sinh hoạt thiết yếu của triều đình.

Không gian trưng bày mặt nạ tuồng cổ. Ảnh: Báo Thừa Thiên Huế.

Nhà hát Duyệt Thị Đường ngưng hoạt động ngay sau tháng 8 năm 1945. Trong những năm chiến tranh, Duyệt Thị Đường bị tàn phá nặng nề. Trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, chính quyền miền Nam đã sửa đổi nhà hát cho phù hợp để làm cơ sở giảng dạy của trường Quốc gia Âm nhạc Huế.

Kết cấu sân vườn bên ngoài Duyệt Thị Đường và tổng thể kiến trúc nói chung đều bị thay đổi: mở một cửa tam quan ở tường thành phía Đông, đồng thời tạo vườn hoa trên phần đất của Sở Thượng Thiện và Thái Y Viện cũ.

Duyệt Thị Đường ban đầu là một ngôi nhà trùng thiềm lớn, mái thắt cổ diềm, lợp ngói thanh lưu ly, mặt bằng hình chữ nhật, dài 45,9m, rộng 34,5m, cấu trúc ban đầu gồm 4 gian 2 chái, mặt quay hướng Đông, xung quanh có hiên rộng 2,8m. Móng xây gạch vồ, trên bó đá sa thạch, nền nhà lát gạch vuông màu đỏ tươi.

Giữa lòng nền nhà có sàn diễn được thiết kế theo dạng sân đình, không có cấp bậc ngăn cách mà được lát phẳng với toàn bộ nền nhà. Sân khấu có dạng gần vuông, được lát bằng gạch men xi măng Pháp, xung quanh được bo diềm bằng loại gạch trang trí hồi văn hình chữ T.

Sân khấu hình chữ nhật, mái cong như mái đình chùa được chống đỡ bằng hàng cột gỗ sơn son. Nhà hát được xây dựng dựa lưng vào Hoàng cung. Cách trang trí của nhà hát rất hài hoà, con rồng Việt Nam được thể hiện khắp nơi. Trần nhà sơn màu xanh lơ với những dấu hiệu của Hoàng cung.

Chân đài dành cho các bà ở Hậu cung, ngai vàng đặt trên một cái bệ đứng riêng. Ở bên phải và bên trái đặt hai hàng ghế dành cho các vị quốc khách, chức sắc ở toà Khâm, cho các tướng lĩnh quân đội và bộ tham mưu. Xa hơn, ở hai bên sân khấu đặt hai dãy ghế dài trải vải điều sẫm dành cho các quan, các vị trong Hội đồng Nhiếp chính và Hội đồng Cơ mật.

Ảnh: Báo Thanh niên

Sau thời gian bị lãng quên và xuống cấp, nhà hát Duyệt Thị Đường ngày nay được trùng tu, tôn tạo để bảo tồn và phát huy giá trị của một nhà hát cổ nhất của ngành sân khấu truyền thống Việt Nam. Nhà hát Duyệt Thị Đường và đời sống sinh hoạt văn hoá sẽ là điểm tham quan cuốn hút với đông đảo du khách trong và ngoài nước.

chúng mình gợi ý một số tour Huế hấp dẫn:

Đăng bởi: Hồ Nhất Duy

Từ khoá: Duyệt Thị Đường – Nhà hát cổ nhất của sân khấu truyền thống Việt Nam

Ngành Biểu Diễn Nhạc Cụ Truyền Thống Là Gì? Điểm Chuẩn Và Các Trường Đào Tạo

Biểu diễn nhạc cụ truyền thống chính là loại hình biểu diễn nghệ thuật thông qua việc sử dụng các loại nhạc cụ truyền thống của dân tộc Việt Nam như sáo, đàn tỳ bà, đàn bầu,… nhằm tạo ra những bản hòa ca, hợp xướng.

Sinh viên theo học ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống sẽ được trang bị những kiến thức về kỹ năng biểu diễn, kỹ thuật chơi các loại nhạc cụ; nghiên cứu, dàn dựng và tổ chức chương trình biểu diễn nhạc cụ truyền thống trong các sự kiện và lễ hội. Sinh viên ngành này còn có cơ hội luyện tập dưới sự hướng dẫn của các thầy, cô là nghệ nhân chuyên nghiệp.

 Ngành Biểu diễn nhạc cụ dân tộc có mã ngành là7210210. Để thi tuyển vào ngành này, các bạn có thể xem xét các tổ hợp môn sau đây:

N00: Ngữ văn, Năng khiếu Âm nhạc 1, Năng khiếu Âm nhạc 2

N01: Ngữ văn, Xướng âm, Biểu diễn nghệ thuật

N02: Ngữ văn, Ký xướng âm, Hát hoặc Biểu diễn nhạc cụ

N03: Ngữ văn, Ghi âm – xướng âm, Chuyên môn

N04: Ngữ Văn, Năng khiếu thuyết trình, Năng khiếu

N05: Ngữ Văn, Xây dựng kịch bản sự kiện, Năng khiếu

N06: Ngữ văn, Ghi âm – xướng âm, Chuyên môn

N07: Ngữ văn, Ghi âm – xướng âm, Chuyên môn

N09: Ngữ văn, Hòa thanh, Bốc thăm đề – chỉ huy tại chỗ

Điểm chuẩn trúng tuyển vào ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống trong những năm gần đây dao động từ 15 – 18 điểm. Các trường đại học chủ yếu áp dụng hình thức xét tuyển theo kết quả của kỳ thi tốt nghiệp THPT hoặc điểm học bạ kết hợp với phần thi năng khiếu. Có thể thấy trong hầu hết các tổ hợp thi đều có môn Ngữ văn, vì thế thí sinh cần ôn luyện tốt môn này. Ngoài ra, các thí thí sinh phải dự thi 2 môn năng khiếu. Cần có sự chuẩn bị kỹ càng ở các môn năng khiếu vì nó có tính chất quyết định đến kết quả điểm số của bạn.

Không nên quá áp lực: trong quá trình thi năng khiếu, thí sinh không nên quá lo lắng, nội dung thi cũng chỉ để đánh giá năng lực chứ không phải bài thi năng khiếu chuyên sâu. Mức độ kiểm tra sẽ phù hợp với từng chuyên ngành và quan điểm của trường là phát hiện năng khiếu, động viên sự sáng tạo, tạo thuận lợi nhất cho người học…

Trình diễn một nhạc cụ ở mức vừa phải: trường tổ chức kiểm tra năng khiếu để đánh giá thí sinh phù hợp với ngành đào tạo đặc thù nên nội dung và cách thức thi chỉ ở mức vừa phải

Ngoài số điểm chuẩn thì vấn đề trường đào tạo cũng được không ít các bạn học sinh quan tâm. Vậy làm thế nào để lựa chọn được trường đại học phù hợp với khả năng của mình? Bạn có thể dựa vào số điểm chuẩn vài năm trước của từng trường để cân nhắc lựa chọn các trường đại học sau đây:

Khu vực miền Bắc:

Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam

Đại học Văn hóa – Nghệ thuật Quân đội

Khu vực miền Trung:

Học viện âm nhạc Huế

Khu vực miền Nam:

Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh

Đại học Trà Vinh

Có phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh

Có năng khiếu và đam mê lĩnh vực âm nhạc

Có kiến thức cơ bản, am hiểu về lịch sử, văn hóa Việt Nam gắn liền với sự ra đời của các loại nhạc cụ

Tự tin khi biểu diễn trước đám đông, trên sân khấu

Có kỹ thuật biểu diễn các loại nhạc cụ truyền thống

Kiên trì, đam mê và sáng tạo

Sau khi tốt nghiệp ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống, các bạn sinh viên có thể tham khảo các công việc sau đây:

Làm việc tại các đoàn biểu diễn nghệ thuật, sở văn hóa, thể thao và du lịch

Biểu diễn nhạc cụ cho các chương trình âm nhạc

Làm việc tại các trung tâm nghiên cứu, đào tạo âm nhạc và biểu diễn nhạc cụ

Làm việc cho các đài phát thanh, truyền hình, báo chí

Kinh doanh, cung cấp các loại nhạc cụ dân tộc

Giảng dạy tại các trường THCS, THPT có môn âm nhạc truyền thống; các nhạc viện, học viện, cao đẳng, đại học có đào tạo về âm nhạc, sân khấu, nghệ thuật,…

Về mức lương của ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống, tùy thuộc vào kinh nghiệm và vị trí công việc đảm nhiệm mà có sự chênh lệch khác nhau. Cụ thể như sau:

Đối với những sinh viên mới ra trường, chưa có nhiều kinh nghiệm biểu diễn thì mức lương có thể dao động từ 5 – 6 triệu/tháng

Đối với những người có thâm niên trong nghề lâu hơn, thành thạo kỹ thuật biểu diễn thì có thể kiếm được 7 – 10 triệu/ tháng

Thu nhập trong ngành này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như quy mô của chương trình mà bạn biểu diễn, tần suất đi diễn,…

Cập nhật thông tin chi tiết về Top 10 Loại Hình Diễn Xướng Truyền Thống Dân Gian Việt Nam trên website Bpco.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!